Đỗ Hàn
CHƯƠNG III: TRĂNG LU
Không ai nhìn thấy ánh trăng ấy
Năm Nhượng Tống về quê
Với chiếc bóng dài hơn chiều tháng Chạp
Sau lưng là Côn Đảo
Trước mặt là lũy tre
Nơi có người mẹ già vẫn đun nước bằng rơm
Và con chim sáo đã quên tiếng người.
Anh không trở về như anh hùng
Không trở về như kẻ bại
Anh về như cơn gió cũ
Lướt qua lũy tre
Không ai nhớ tên.
Nhưng quê hương vẫn là đất
Để hạt người gieo xuống
Mười năm, anh sống
Trọn tình cùng cố hương
Không chính trường
Không quân lệnh
Không gươm đao
Chỉ còn bút - thuốc - và thơ.
Anh cưới vợ
Có con gái đầu lòng
Và có một người thôn nữ nữa thương anh
Cả ba người đều gọi anh là “Tống”,
một cái tên buồn hơn là tên gọi.
Sách Là bạn.
Là tri kỷ.
Là mặt trời không cần nắng.
Anh dịch Lý tưởng “Tôn Dật Tiên”
Đọc “Nam Hoa Kinh”
Chép “Ly Tao” trong tiếng gà rừng
Viết tiểu thuyết Lan Hữu, dựng “Trưng Vương”
Gọi lại Nguyễn Thái Học bằng dòng nước mắt Đã khô.
“Anh Học ơi! Anh là mặt trời rực lửa
cháy một lần cho cả bầu trời rạng sáng.
Tôi là ánh trăng
lẻ loi -
trôi chậm giữa đêm,
không đủ sức đánh thức một miền bóng tối.
Tôi đã theo anh từ những ngày đầu viết báo,
dịch sách, vẽ bản đồ tương lai bằng mực và máu.
Tôi đã tin tin như đất cần mưa,
như người ngủ mơ cần một cơn tỉnh giấc.
Nhưng tôi vẫn thầm lo... Anh đi nhanh quá,
nhanh hơn cả sức dân còn đang ngủ mê.
Cờ chưa thắm mà máu đã nhuộm hết trang đầu
của bản tuyên ngôn chưa kịp đọc.
Tôi không trách anh
nhưng sao lại chọn một cuộc khởi đầu bằng kết thúc?
Sao lại dựng cao ngọn cờ trên một nền đất chưa bền chắc gốc?
Tôi đã nghe tiếng súng nổ Yên Bái vỡ như tim mình vỡ
trong lồng ngực chật chội giữa song sắt Hòn Cau.
Mắt tôi dõi về phía anh ngã xuống một lần, mà vĩnh viễn.
Tôi yêu anh, nhưng tôi giận...
Giận cái liều lĩnh đã hóa anh thành bất tử,
và để lại tôi trong những đêm dài đối diện với trăng mờ,
gió độc và câu hỏi không lời giải:
“Nước có thể cứu bằng ánh sáng chậm rãi không?”
Anh chết rực rỡ như Mặt Trời.
Tôi sống lặng lẽ như ánh trăng gánh lấy phần bóng tối còn lại…”
Giữa cuộc đời tê tái
Để dằn lòng, ta đọc “Tư Mã Thiên”,
“Tây sương ký” thành hình qua Tiếng Việt
“Lam Sơn Thực lục” nhòe theo ngòi bút
Ngắm trăng vàng, cúi mặt làm thơ…
Ngồi xuống bàn, nhớ cụ Tổ xưa
Thầy dạy học của hai bậc Tam Nguyên
Nhớ ông nội, thoát tù đày khi
Cần Vương tan vỡ
Ta dựng “Phong Mãn Lầu” cất gió chờ trăng tỏ
Xây lòng Nhân qua bát thuốc cứu dân…
Anh chờ người Hay chờ hiệu lệnh.
Dân làng gọi anh là “ông đồ chữa bệnh”
Có cái tủ thuốc đầy lá và kinh thư
Trẻ con ghé qua xem ông viết chữ
Như xem một người đang nói chuyện với trăng.
Có những đêm
Trăng rụng vào giếng làng
Anh thắp đèn đọc “Đại Việt sử ký toàn thư”
Dòng chữ Hán như những linh hồn cổ
Còn sống sót qua bao trận cuồng phong.
Sách “Lam Sơn” tim Nguyễn Trãi cháy hồng
Vẫn như than trong ngực anh ấp ủ
Ngước nhìn trời đọc thơ Đỗ Phủ
Cúi nhìn mình thêm thương nước thương dân
Đông qua rồi lại đếm xuân
Trăng quê tỏa bóng âm thầm mát cây...
Trăng lúc này
Không rực rỡ
Không long lanh
Không soi được đường
Nhưng là trăng lu mang quầng rất đỏ
Lặng lẽ, trăng lên và lặn theo hơi gió
Gió lòng người chưa an
Ngoài sân, trăng đã tròn
Tròn như bánh cưới
Mẹ nhìn anh mừng lo vời vợi
Vầng trăng quầng thả tiếng nói như mơ
Trăng ấy, người xưa đã từng lo:
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường”
Nhưng đêm nay quê Ý Yên.
Trăng lạng vào ngõ vắng Trải luênh loang!
Không ai mời anh lên diễn đàn
Không ai nhắc tới tư tưởng Hỗ Trợ
Một ngòi bút không ai muốn nhớ
Khi người ta đang cần những cây súng giương cao.
Nhưng trăng tin:
Chữ nghĩa anh để lại
Sẽ lặng thầm đi khắp núi sông
Từng câu thơ, từng vở chèo
Từng trang sách
Sẽ chảy qua những mái nhà nghèo
Như ánh trăng xuyên kẽ lá
Không nói Nhưng có mặt.
Con gái cười ngằn ngặt
Nghe cha gọi Trăng ơi!
Các bà vợ lặng lẽ mỉm cười
Khi anh lo ông ăn mày bị đói...
Anh tự hỏi
Có khi nào trăng quá mát
Nên người đời tưởng là mờ?
Có khi nào bóng quá thẳng
Nên thời thế vội cho là mơ?
Anh ngồi bên cửa
Nhìn trăng
Không hỏi vì sao trăng lu
Chỉ hỏi:
“Khi nào người ta lại tin vào người?”
Trăng không sáng đủ cho đời
Trăng chỉ sáng để thấu trời còn trăng…
(Còn nữa)