THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

NHÌN RA CỬA VOÓNG

Phan Mai Hương

MẮT NHÌN RA CỬA VOÓNG                                           

   Tôi chợt dừng lại nơi ngưỡng cửa vì không muốn làm kinh động. Bá dâu tôi đang cẩn thận cắm ba nén hương vào bát hương có chùm tàn hương xoắn tít như mớ tóc rối. Trên bàn thờ là đĩa cam giấy chín đỏ chót, quả căng mọng từng múi lằn lên in hình ra lớp vỏ mỏng như tờ giấy, làm cho cái bàn thờ rộng rãi bằng gỗ để mộc giản dị, chạy dọc suốt theo gian giữa ngôi nhà sàn trở nên sang quý và ấm áp hẳn lên. Bá dâu tôi đứng trước ban thờ lẩm bẩm rất lâu, đến nỗi tôi bước lên thang, ngó đầu vào nhà rồi mà bá vẫn không hay biết gì.  Chứ như mọi khi, tôi vừa đặt chân lên bậc thang, bá đã nói vọng ra, con An đã về đấy à ? Nhưng lần này, tôi trèo hết chín bậc cầu thang kêu cọt kẹt, vào đến tận cửa mà bá tôi vẫn không hề hay biết.

   Tôi không nghe rõ tiếng bá khấn vái lầm rầm. Tiếng con mọt cót két trên đòn rui vang lên trong ngôi sàn rộng lớn có hành lang bao quanh ba phía. Riêng hướng chính Tây không có lan can, là nơi đặt ban thờ giữa hai khung cửa voóng. Từ cửa voóng sẽ nhìn thấy rặng cây cam giấy đang vào cữ gần Tết quả chín đỏ chót trong cái nắng hanh vàng rực rỡ, óng ả như mật ong. Cái nắng mà khi chớm ngả sang chiều là sương muối đã buông mịt mờ bảng lảng trong bụi cây nhót già.

   Bá dâu ôm tôi vào lòng lẩm bẩm, chưa tối đã nghe buốt đến xương thì năm nay ông trời làm hạn hán nặng lắm đây, ra Tết lấy nước đâu mà gieo mạ, cấy muộn rồi thì gặt lúa gió, lại đói thôi con ạ. Tôi hít hà mùi trầu vỏ thơm phức từ bộ váy áo có cạp váy thổ cẩm dệt hình con rồng cầu kỳ đẹp đẽ của bá và hỏi lúa gió là gì ạ ? Bá cốc nhẹ vào đầu tôi, con bé này ở lâu trên thành phố mất gốc nhà Mường rồi, lúa gió là lúa bị lốp chỉ có bông lép mà không có hạt gạo bên trong. Tôi reo lên, à vậy con biết rồi, mùa lúa nương vừa rồi, mẹ con cũng gặt toàn lúa gió, mang về cho ngỗng ăn hết. Bá dâu ôm tôi vào lòng và nói, ờ đấy số mẹ con vất vả quá, nhà trường cho nghỉ việc ba tháng để tự sản xuất lương thực lấy mà ăn, thế mà có được hạt gạo nào đâu ? Tôi nghe bá dâu thở hắt ra nói nhẹ bẫng, hôm gặt đám lúa lốp ấy, anh Cả con cũng đi gặt đấy, nhớ ngày xưa hai cô cháu háo hức như  hai con chim chào mào rủ nhau vào nương gặt lúa, nghĩ mà thương lắm, có ai ngờ đâu ? Miệng nói mà hồn người như phiêu diêu nơi nào, đôi mắt mờ đục của bá dâu nhìn xa xăm ra ngoài cửa vóng. Hồi đấy đất nước thống nhất mới được vài năm, tôi vừa tròn mười hai tuổi.

     Bá tôi thường ngồi tựa vào cây cột nhà sàn, chỗ tựa lên nước bóng loáng mòn lõm vào một chút, để nhìn qua cửa vóng mới tới hàng cam giấy. Mỗi lần từ thành phố về, tôi thường sà vào lòng bác dâu dụi mặt vào cái yếm trắng hít hà mùi lá trầu, hoặc lôi xấp lá trầu màu xanh ngả vàng trong cái âu đồng vàng bóng loáng, xếp xòe ra như cái quạt giấy, bá bảo trầu này mới là trầu quế thơm ngon và dầy. Bá dâu tôi thường ngồi bên cây cột nhà sàn, lúc trẻ thì ngồi têm trầu, những năm về sau già rồi thì ngoáy trầu trong cái cối nhỏ bằng đồng, chùm xà tích thắt ngang hông rung lên lách cách theo nhịp tay, chùm xà tích bạc nõn mà bác Cả tôi đã đánh đổi một con trâu để lấy về tặng bá dâu. Có lần tôi nghịch ngợm trèo vắt vẻo lên cửa sổ ngồi thò chân ra ngoài, bá dâu vội kéo tôi xuống và nói con gái Mường không được ngồi bên cửa vóng, các cụ tổ tiên về mắng chết.

thuongbinh2

     Ban đầu, tôi không hiểu tại sao bá dâu tôi chỉ ngồi tựa vào cây cột đấy ? Mãi sau này tôi mới biết, bá dâu ngồi đấy để nhìn qua cửa vóng, sẽ ngắm trọn vẹn rặng cam giấy qua cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Quê Mường Thàng không có giống cây cam giấy, cả bản Mỵ này chỉ có mỗi nhà bác Cả có cây cam giấy. Từ nhỏ tôi đã thấy rặng cam giấy đứng ở đấy, nó là hàng rảo phân chia ranh giới giữa vườn và sân. Gốc cam to bằng bắp chân người lớn, mốc thếch và già nua, cành lá xanh mượt. Đến mùa xuân, rặng cây phủ kín màu trắng, từng chùm hoa xum xuê thơm ngan ngát làm cho bọn ong bay ríu rít cuống quýt cả lên. Rồi quả ra sai trĩu trịt, từ khi bằng cái cúc áo xanh trong veo đến lúc lỉu níu cành xuống thấp la đà, rồi quả chuyển dần, từ màu xanh sang màu vàng, sang màu đỏ. Khi quả cam chín đỏ chói chang là sắp hết tháng Chạp để vào cữ Tết. Bác Cả tôi chăm chút cây cam lắm, không cho ai động vào một quả nào, còn các thứ quả khác trong vườn thì hái thoải mái từ lúc còn xanh cho đến lúc chín, kể cả trẻ con hàng xóm vào hái ăn. Đợi gần Tết, cam chín đỏ mọng, tôi từ thành phố về thì bác Cả hái cho tôi ăn, sau khi bưng một đĩa đẹp nhất đặt lên ban thờ. Tôi vốn được bác Cả cưng chiều nhất trong đám con cháu, còn bá dâu thì khỏi nói rồi, yêu tôi hơn cả chị Lâm, là con gái duy nhất của bá.

   Bá dâu kể, giống cam giấy này là do bố tôi mang từ dưới xuôi lên làm lễ ăn hỏi  mẹ. Tôi hấp tấp hỏi, khi đấy con ở đâu mà không được ăn cam? hồi đấy tôi mới bẩy, hay tám tuổi gì đó. Bá dâu cười ngất, củng nhẹ ngón tay vào trán tôi, cái con bé này hay nhỉ, khi đấy con ở đâu à, để yên bá kể cho mà nghe. Sau khi ăn quả xong, thấy giống cây quý, bác Cả con đã nhặt hết hạt mang ươm, thế mà chỉ nẩy mầm được có từng ấy cây thôi đấy. Ồi dào, tôi đã nghe bá kể không dưới chục lần,  rảnh rang ngồi têm trầu là thể nào bá cũng lầm bẩm, cây cam đã ra hoa rồi.. cây cam hồi ra quả năm thứ ba… ngày xưa ngày xửa… mà cái ngày xửa xưa ấy mới cách nay vài chục năm.

     Tôi chán, bèn quay ra lẩm nhẩm đếm, có năm cây cam bá ạ. Bá dâu tôi với tay lấy cái ống nhổ bằng đồng, bỏ vào đấy miếng bã trầu rồi nói, năm cây cam này cũng một tay anh Cả đào hố trồng. Lúc này, tôi đang mải lôi xấp lá trầu màu xanh ngả vàng trong cái âu đồng vàng bóng loáng, xếp xòe ra như cái quạt giấy. Bá dâu tôi lại bảo trầu này mới là trầu quế thơm ngon, lá dầy và giòn lắm, bụi trầu này cũng là anh Cả đào hố trồng bên sàn nước. Anh Cả bảo trồng bụi trầu này để khi con vắng nhà máng không phải sang mợ Linh xin trầu. Anh Cả tên là Tân, là con đầu nên được gọi là anh Cả, cũng như bác Cả tôi là trưởng họ. Bác dâu tôi bảo, anh Cả sau này cũng là trưởng họ, mà làm trưởng họ thì phải lo nhiều việc lắm. Với bá dâu tôi thì chuyện kể về anh Cả không bao giờ ngớt được, mà toàn những kỷ niệm ngọt ngào trong trẻo như dòng suối Mỵ chảy róc rách dưới thung kia.

     Có một năm nọ, cây cam giấy bỗng dưng ra rất nhiều hoa, nhưng tuyệt nhiên không đậu một quả nào. Suốt cả năm đó tôi thấy bá dâu tôi cứ khóc hoài. Khóc từ trong bếp ra ngoài sàn nước. Khóc từ trên cầu thang xuống đến rặng cam giấy. Khóc từ nhà ra đến con suối để vác nước. Khóc dấm dúi trong vườn ngô cao vượt đầu người. Khóc khi đứng cối giã chuối lợn. Bá dâu khóc ngấm khóc ngầm. Khóc đến nỗi nước mắt rơi cả vào cối giã trầu, rồi ăn trầu nuốt cả nước mắt vào bụng. Khóc đến nỗi con mắt đỏ lên, sưng mọng như quả cam. Vì khóc nhiều quá, con mắt của bá dâu tôi mờ dần đi, chị Lâm phải đưa bá tôi đi tận bệnh viện tỉnh khám mắt. Ở trên đấy, bác sĩ cũng bảo, nếu bá tôi mà còn khóc nữa, thì sẽ mù mắt. Cả nhà lo lắm, xúm vào bảo bác dâu tôi không được khóc nữa. Thế mà, cứ mỗi khi về quê, tôi lại bắt gặp bác dâu ngồi thừ bến bếp lửa, mắt đỏ kè lên như mắt con cá trôi. Tôi có hỏi, thì bá dâu bảo tại vì khói bếp đấy. Chị Lâm nghe thấy la lên từ sàn nước, bảo máng rồi mà không nghe lời bác sĩ gì cả, máng cứ khóc mãi làm cho cái ruột con nóng hết cả lên rồi đây này. Tôi thì thầm, bá phải ngoan, nghe lời chị Lâm chứ. Bá ôm lấy tôi, mắt nhìn đăm đắm vào ngọn lửa. Chuyện ấy xảy ra vào đầu năm. 

    Cuộc đời con người thật là nhiều biến cố, và tôi cũng không hiểu sao những biến cố ấy cứ nhè đầu bác dâu tôi mà trút xuống. Vào cữ cuối năm, dịp tháng Chạp, cây cam giấy không đậu quả nào, chỉ có lá xanh, tự nhiên có một cây lá đổ vàng và trút sạch xuống gốc. Bác Cả tôi đang mạnh khỏe, cày ruộng lên nương nhanh nhẹn thoăn thoắt như con sơn dương, bỗng dưng đột ngột về với tổ tiên. Anh Phi con nhà bác Hai lên nhà báo tin. Tôi và mẹ về quê ngay trong đêm. Bá dâu tôi đang ngồi thừ bên cạnh bác Cả vẫn như thể đang ngủ say, bàn tay bá dâu đặt trên ngực người chết. Bá dâu nhìn hai mẹ con tôi, đôi mắt nóng bỏng và ráo hoảnh không có giọt nước nào, như thể bá đã trút hết nước mắt ra đến tròng mắt là bị bốc hơi luôn, hoặc bá khóc trong trong suốt năm vừa rồi, tới giờ đã hết sạch nước mắt rồi. Tới lúc ngồi kể chuyện với mẹ con tôi, bá dâu mới sụt sùi, những giọt nước mắt chảy ra một cách vất vả, đọng quanh đuôi mắt thâm quầng dày nếp nhăn.

     Buổi chiều bác Cả đi cày thửa ruộng ngoài suối Mỵ, lại còn be bờ  quanh bắt được mớ cá, tối mịt mới về đến nhà. Bữa cơm tối ấy có món cá suối bọc lá đu đủ non gói lá chuối nướng trên than hồng. Cơm ngon nên bác Cả cao hứng uống thêm chén rượu, ăn xong ra bộ phản gỗ dổi đã lên nước bóng loáng, nằm nghỉ ngơi. Khoảng 22h, bá dâu vừa chợp mắt, bỗng nghe tiếng bác Cả kêu ‘‘ôi trời tôi đau đầu quá’’ rồi lịm dần. Bá dâu lay gọi mãi, nhưng bác Cả không tỉnh lại lần nào nữa, và đi luôn nhẹ nhàng như vào giấc ngủ say.

    Đang nói, bá dâu chợt gào lên thống thiết, ôi ông trời ơi, sao lại bắt ông ấy đi đâu mà vội thế, chả kịp nhắn nhủ, nói đi nói lại với vợ con ? Cái cách bác Cả đi làm cả dòng họ đều bị sốc chứ không riêng gì bá dâu. Tôi ôm bá dâu cố gạt nước mắt, bác Cả con đi thế cũng nhẹ nhàng bá ơi, chắc tổ tiên gọi vội về có việc quan trọng đấy. Bá dâu tôi gượng lau nước mắt, tổ tiên thì kính nhớ rồi, nhưng vợ cái con cột là của mình thì phải ăn ở cùng nhau cho hết kiếp chứ ?

    Khi việc tang ma bác Cả tạm ổn, tôi bảo anh Luận ra xem cây cam. Anh Luận phát hiện ra một ổ sâu đục thân, anh bảo nếu ổ sâu ở trên cành, thì cưa cành đi, bắt con sâu ra là cứu được cây, nhưng đằng này ổ sâu ở giữa thân cây gần gốc thế này thì chả cứu được đâu. Chắc là bố muốn mang cây cam đi theo cho đỡ nhớ nhà ? đằng nào cũng phải cưa cây để bắt con sâu ra, không thì sâu lại ăn sang cây khác. Anh Luận vừa cưa cây, vừa lẩm bẩm. Từ đó chỉ còn lại bốn cây cam giấy. Năm đó, nước nhà thống nhất được mười hai năm rồi.

   Tôi tốt nghiệp đại học sư phạm và đi làm. Rồi lấy chồng và có con. Việc nhà và việc trường, trăm thứ bận rộn.Tuy nhiên tôi may mắn, mang tiếng dạy trường huyện, nhưng trường lại ngay gần bản Mỵ, tôi có cơ hội về quê nhiều hơn, không như ngày nhỏ, chỉ chủ nhật mới về. Hầu như ngày nào tôi cũng ghé bá dâu, nhưng không có thời gian ngồi nói chuyện. Có cái gì bá dâu lại gói ghém cho tôi mang về. Mùa nào thức nấy, bưởi, mít, hồng bì, nhãn, vải, ổi chín, chuối, măng, cân gạo nếp, ít đỗ xanh, đỗ đen cân lạc tươi, bát vừng đen, gói quả cọ đã ỏm. Riêng Tết thì có đùi thịt lợn và chùm bánh ống, cứ như thể tôi là con gái ruột của bác dâu. Thì đã bảo, bác dâu yêu tôi hơn cả chị Lâm, con gái duy nhất và tất nhiên yêu hơn cả các anh trai. Nhưng tôi biết, tình yêu dành cho tôi dù có lớn bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng không thể nào bằng tình yêu bác dâu tôi dành cho anh Cả.

   Tôi đợi cho bác dâu tôi khấn vái xong đứng im, tôi mới bước vào. Bác dâu tôi giật mình quay lại, con An mới về đấy à ? Tôi xót xa ôm lấy bác dâu, vâng con đã về đây, mấy hôm rồi con bận quá, chiều nào cũng phải ở lại trường để họp nên con không ghé bá đươc. Bá dâu tôi hỏi, mẹ con có khỏe không, bá nhớ cô An lắm rồi đấy, bảo cô An chủ nhật tuần này về ngủ chơi nhé. Tuy là chị dâu em chồng, nhưng bá dậu tôi và mẹ còn thân nhau hơn cả chị em ruột. Mẹ tôi kể, khi bà ngoại mất rồi, một tay bá dâu cáng đáng việc trong nhà ngoài bản, chăm chút lo toan dựng vợ gả chồng bảy đứa em chồng. Riêng mẹ là út ít, lại đi ra ngoài làm cô giáo, thì được bá dâu chăm sóc đặc biệt, thức gì theo mùa  ngon nhất, bá đều ‘‘ để dành phần còn  gửi lên cho cô nó trên thị xã’’. Khi mẹ sinh ra tôi, được tròn tháng, bá dâu đón về quê chăm đẻ, bá bảo tục lệ ở quê phải thế, con gái đẻ phải về cho nhà ngoại chăm. Hai người gặp nhau thì rủ rỉ đủ chuyện, nói từ ngày sang đêm. Trong chuồng, con gà trống Cộ gáy vang báo hết đêm sang ngày mới rồi mà hai người vẫn chưa hết chuyện. Mẹ tôi nói, nhiều khi cứ nghĩ chị dâu chính là mẹ mình, yêu thương bao nhiêu cũng không đủ, nhìn thấy chị dâu như thấy mẹ mình vẫn còn sống. Vì yêu mẹ tôi mà bá dâu chăm tôi như chăm con gái, yêu tôi hơn cả chị Lâm

   Phong tục quê tôi, khi đẻ con thì lấy tên của con đầu làm tên, vì tôi là con cả nên mẹ tôi được gọi là cô An. Đến khi tôi có con đầu, thì tên của đứa con ấy lại thành tên của mẹ. Đến tận khi chết, tên thật của người đàn bà mới được thầy cúng gọi ra. Vì thế đàn bà quê tôi, cả cuộc đời mình thất thảy sống vì  chồng, vì con cháu, thậm chí có người quên mất cả tên đẻ của mình. Có lần bá bảo tôi không nhớ được tên mình là gì nữa rồi, nhưng tôi lại thấy bá không quên một chuyện gì về anh Cả, từ lúc anh được sinh ra, như thể không phải bá có ba đứa con, mà chỉ có mỗi mình anh Cả vậy.

    Tôi ôm vai bá dâu và bảo, hình như bá gầy đi đấy, bá có ngủ được không ? Bá dâu tôi cười nói, thằng cu Tuấn dạo này ăn ngoan không, biết đi vững chưa, chủ nhật con cho nó về đây chơi đi, kéo mai này lớn lên lại mất gốc nhà Mường ? Ngày xưa, anh Cả con hồi tám, chín tháng, bằng như cu Tuấn bây giờ thì ăn ngủ ngoan lắm, chỉ mớm cơm thôi mà lớn vùn vụt, người chắc nịch chắc như cơm nắm. Tôi nhìn vào mắt bá dâu, đôi mắt  mờ đục như hạt nhãn non, mà hình như có nước. Từ hồi nhỏ đến lớn, có tới hàng trăm  lần tôi nghe bá dâu nói ‘‘..không thì mất gốc nhà Mường’’. Dưới mắt tôi bá dâu như thể cây đa vững chãi nơi đầu bản, như thế mó nước trong veo ngọt ngào ẩn trong mạch nguồn dưới chân đồi.

    Bá dâu vụt vui vẻ trở lại, và xởi lởi kể. Con An này, vụ vừa rồi được mùa lắm con à, lúa tẻ được hơn một tấn. Còn lúa nếp cũng phải được dăm tạ đấy. Tết này thì thoải mái gói bánh rồi, toàn nếp râu đen nhé, cấy nếp ở mảnh ruộng sâu giáp với đầm xóm Đình, thơm lắm. Tôi nhớ mảnh ruộng hai mẫu chỗ giáp xóm Đình, có lần tôi đi cấy nếp với chị Lâm, bùn thụt trên đầu gối, trời rét căm căm gió bấc thổi lạnh buốt bay cả tai. Tôi lội xuống ruộng khoảng ba mươi phút, chị Lâm phải lóp ngóp lôi tôi lên bờ đốt lửa cho sưởi, bởi vì tôi bị dị ứng, nổi sần nổi cục ngứa đỏ ửng hết mặt mũi chân tay. Từ đận ấy, bá dâu tôi bảo, con không làm việc đồng áng được đâu, để cho chị Lâm làm.

     Mai con lại qua nhé, bá đồ xôi rổi gói lá dong mang về cho bố con cu Tuấn ăn, nay có bó lá dong tươi kia rồi, chị Lâm mới lấy về, để gói bánh sớm lễ ông Công ông Táo. Hai con lợn chắc mỗi con gần tạ rồi, thịt một con mà ăn Tết, còn một con bán đi, Đàn gà cũng hơn năm chục con. Cầu mong ông trời, từ giờ đến Tết đừng rắc sương muối nữa, đàn gà không bị rù thì ăn Tết không phải lo thịt nữa rồi. Bảo cô An cứ yên tâm nhé, khoảng hai tám Tết là anh Luận thịt lợn đấy, cả nhà trên ấy nhớ thu xếp về ăn Tết rồi lấy thịt, lấy bánh ống và bánh uôi, lấy gà, lấy gạo nếp về gói bánh chưng mới cả đồ xôi. À bảo cô An là bá đã dặn chị Lâm đi rừng cắt thêm lá dong rồi nhé. À, năm nay bá sẽ gói cả bánh gio, và bánh mật, với bánh gai nữa, gói nhiều để ra Tết cho chị Lâm mang đi. À, bá dự định sẽ bán gần hết chỗ lúa tẻ đi, chỉ để lại ít đủ ăn dến vụ gặt chiêm thôi. Bán lấy ít tiền thêm thắt vào cho con Lâm, ăn Tết xong đi một chuyến. Đợi nó đi về mới cấy chiêm, mà nếu chị con chưa về kịp thì ở nhà bá thuê thêm người cấy cùng chị dâu con là được chứ gì ? Cứ phải đi, con ạ, tốn kém tiền bạc có là gì, để sau này mình không phải ân hận gì ? Tháng trước, khi đợi gặt mùa, bá đã giục thằng Luận đi một chuyến rồi, nhưng mà bá chẳng tin được nó. Ôi dào, đàn ông đàn ang như nó, ăn xổi ở thì, ruột để ngoài da có nghĩ gì sâu xa đâu, được sểnh ra ngoài lại mải chơi nhìn chỗ nọ ngó chỗ kia, chắc gì nó đã tới được đến tận nơi ? Phải hỏi han người nọ người kia, phải tìm thật kỹ ấy chứ. Người ta bảo, nhà mình phải kiên nhẫn cơ, vì có người từ chối chẳng muốn gặp người nhà đâu, họ sợ phiền, họ sợ trở thành gánh nặng. Bá nghe người ta bảo đã có trường hợp thế rồi đấy, rồi thì cứ đi qua đi lại, tìm đẩu tìm đâu, còn người ngay trước mắt mà chả làm sao gặp. À mà bá vẫn gặp luôn đấy, có gặp thì mới biết chứ.

   Tôi kinh ngạc nhìn vào mắt bá dâu. Không, nhìn đôi mắt kia và  nghe giọng nói rành rọt đầy nội lực  thì bá dâu  vẫn tỉnh táo và khỏe khoắn lắm, sao mà tôi phải lo lắng.

     Uầy, uầy, mấy con gà này bới quá lắm, xùy ! xùy ! a, cô An mới về đấy à ? Tiếng anh Luận dưới gầm sàn quát mấy con gà và hỏi vọng lên trên nhà. Tôi ngó xuống gầm sàn, con gà mái mơ xù lông vẻ tức giận lục cục gọi đàn con quầy quả đi ra vườn, chắc nó bực lắm vì mẹ con nó đang vui thì bị xua đuổi. Anh Luận quẳng bó củi trên vai xuống đống củi khô xếp gọn ghẽ bên chân cột. Tôi đi xuồng thì thầm với anh, này anh vừa đi về đấy à ? Anh Luận đưa mắt nhìn lên trên nhà, máng lại kể chuyện với cô à ? Vâng, em nghe bá nói, nhưng mà bá bảo cho anh đi tốn tiền mà chẳng được việc gì, bá không tin anh đâu. Anh Luận gạt mồ hôi trên trán chảy xuống thành dòng rồi phân bua, đấy cô xem, nhà thì chuẩn bị vào vụ gặt, lại còn tranh thủ kiếm ít củi khô để đun Tết với cả nấu bánh, thế mà cứ giục anh ời ời, bắt đi. Anh mà không không đi thì máng lại khóc đứng khóc ngồi, lại không ăn không ngủ. Cô không biêt đấy thôi, ruột gan anh cứ như có ai thò tay vào mà vắt như vắt quần áo ấy. Anh không chịu nổi nên mới phải khăn gói quả mướp mà đi đấy. Hàng chục năm nay rồi, mỗi năm đi vài lần, gom được ít tiền là bắt anh đi. Mà đến đấy thì khi nào người ta cũng trả lời mình như thế, hỏi mãi mặt mình cũng quá là dơ dáng dạng hình rồi, người ta lại bảo mình không hiểu biết gì. Máng cứ bảo là đàn ông đàn ang vụng ăn vụng nói nên không lọt tai người ta, cho nên người ta không bảo cho biết. Nói thật là anh bó tay bất lực rồi, cô  An khuyên giải cho máng giúp anh với, máng nghe cô An nhất đấy.

   Có tiếng gọi với qua hàng rào dâm bụt cao đến bụng, cô An mới về à, ngủ chơi chứ ? Tôi ngẩng lên, chị Lâm đi cắt lúa nương về, dựng cum lúa lên đầu sàn phơi, vừa lau mồ hôi vừa gọi với sang. Chị Lâm ở riêng trong ngôi nhà sàn nhỏ dưng ở cuối vườn, ai hỏi đến chuyện chồng con chị chỉ cười trừ không nói. Bá dâu tôi không ít lần than vãn, có mỗi mụn con gái thì ông trời lại không thương.

    Qua Tết ít lâu, tôi ghé về. Hôm đấy bá dâu đi vắng, Rất ít khi bá dâu rời nhà, chỉ trừ khi bên ngoại có việc giỗ tổ tiên, hoặc cưới xin, việc bà con làng bản đã có anh Luận và chị Lâm gánh vác. Tôi ngạc nhiên hỏi, chị Lâm bảo bá dâu về bên ngoại, liên hoan đứa cháu gái thi đỗ đại học, cả dòng họ mừng lắm, lâu lắm rồi mới có đứa cháu gái học giỏi được đi học ở Hà Nội.

    Chị Lâm bảo tôi, chị vừa đi Bắc Giang về , không tiêu hết tiền đâu, nhưng mà giấu, chị vẫn cầm đây và cất đi, phòng khi bá dâu ốm đau còn thuốc thang. Đấy, cô tính xem, việc nhà đã nhiều như lông lươn, lại thêm việc này nữa. Mà kéo dài  mấy chục năm nay rồi. Mỗi chuyến đi như thế này, tốn tiền là việc nhỏ, tón thời gian cũng không tính, nhưng mệt mỏi vì phải nói dối. Tôi hỏi, nói dối sao hả chị ? thì cô không hiểu à, đến đấy cũng phải nói dối vì sao mà  đến ? về nhà cũng phải nói dối bá rằng thế này thế này thế khác. Thêm nữa lại không được về sớm, nếu về sớm là bá cô nghi ngờ chị luôn. Cho nên chị ở lại, xin phục vụ không công. Ban đầu người ta nghi ngờ, nhưng sau đấy người ta hiểu ra, cho chị vào làm nhân viện phục vụ tam thời. Không có tiền công, nhưng được ăn và ngủ miễn phí, nên có dùng tiền  làm gì đâu, lần nào cũng mang tiền về cất đi.  Bá không biết là đã có một số tiền tiết kiệm hàng trăm triệu rồi.

    À, nói với cô An môt chuyện bí mật nhé, chị có người yêu đấy. Măt tôi sáng lên, thật không, anh ấy ở đâu, cho em gặp anh ấy đi. Chị Lâm cười mủm mỉm, chưa gặp được đâu. Tôi xịu mặt, chị không tin em ? Không phải là không tin, mà bây giờ chưa phải lúc. Thật, tôi không hiểu chị Lâm, thế đến khi nào thì phải lúc đây ? chị đã ba mươi chín tuổi, ở quê như thế là ế hẳn. Chị Lâm không sắc nước hương trời mà có duyên mặn mà đằm thắm, người chắc lẳn mình cá trắm cao ráo. Chị  Lâm giống mẹ tôi đôi mắt to và đen thẳm. Tôi vẫn ghen tị với chị, là con gái mẹ nhưng mắt màu nâu giống cha. Chị Lâm bảo trai làng không lọt mắt. Vậy giờ trai mường nào lọt vào mắt chị tôi đây ? Chị Lâm cười, đôi mắt đen óng lên niềm hạnh phúc, đợi nghỉ hè, chị cho cô đi gặp anh ấy.

   Chiếc xe ô tô khách dừng lại. Một tấm biển đập vào mắt tôi, trại thương binh nặng Thuận Thành. Tôi sững sờ như không nhấc được chân, tôi nghĩ đến anh Cả. Trước khi lên xe khách, chị Lâm nói với bá dâu là hai chị em tôi sẽ đi cùng nhau, và phải mười ngày mới về. Bá dâu tôi vui lắm nói là có hai chị em thì chắc việc đi tìm sẽ dễ hơn. Chúng tôi vào trạm gác trình giấy tờ, chẳng có gì khó khăn vì mọi người ở đây đều quen chị Lâm. Anh lính cảnh vệ đưa hai chị em đến một căn phòng nhỏ, có hai giường cá nhân và nói, hai chị em nghỉ ngơi rồi chiều lên gặp phó giám đốc trại nhận việc.

     Hai chị em tôi phục vụ các anh thương binh theo yêu cầu. Ở đây, hầu hết là thương binh nặng, có người gần như không thể tự phục vụ được ; có người nhúc nhắc chân tay làm được việc nọ việc kia. Mọi người vui vẻ và yêu thương nhau. Nói thế thôi nhưng cũng chẳng có việc gì nặng nhọc. Bởi những việc như tắm rửa, thay băng, ăn uống, giặt chăn ga gối đã có hộ lý. Chúng tôi đi các phòng nhận đồng hương, nói chuyện này khác, kể chuyện về làng quê, lấy hộ ca nước, xem phích nước nóng còn không, đôi khi hát tặng một bài. Các anh hay hỏi, ở quê mình dạo này phát triển kinh tế như thế nào rồi, bà con có ấm no không ? Các anh hay yêu cầu hát  bài ‘‘gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn’’, hoặc bài ‘‘Cô gái mở đường’’. Các anh bảo hồi kia ở Trường Sơn, ai cũng mong nhớ gặp các cô thanh niên xung phong mở đường. Tất cả các anh ở đây, ai cũng thầm yêu trộm nhớ một cô đấy, nhưng chả rõ là yêu cô nào, chỉ biết yêu vậy thôi, thì vừa rời ghế nhà trường là ra mặt trận, đã biết mùi con gái là như nào ?

   Tôi hào hứng hát cho dù tôi thuộc loại hát dở nhất. Hồi đi học phổ thông và đại học, chưa bao giờ tôi được tham gia vào đội văn nghệ. Tôi hát mà xúc động cay cả mắt, chả biết vì câu chuyện các anh kể, hay vì được các anh khen hát hay. Ở trại thương binh được hai hôm, tôi hỏi chị Lâm, khi nào đi gặp anh người yêu của chị ? Lâm bảo tôi ngày mai. Tôi hỏi, đi có xa không, để còn sắp xếp công việc ở đây. Lâm lắc đầu, không đi xa đâu. Tôi hồi hộp như lễ xem mắt của tôi vậy. Tôi nghĩ không biết anh ấy như thế nào mà cưa được chị Lâm đổ gục, chắc anh ấy phải đẹp, khôn khéo như con báo gấm ở trên đỉnh núi Mỵ.

   Tôi sững sờ. Hết nhìn anh. Rồi lại nhìn chị Lâm. Rồi lại nhìn anh. Trước mặt tôi là người thương binh nằm trên chiếc giường gần cửa ra vảo. Anh ấy là người yêu cầu tôi hát nhiều nhất bài Cô Gái Mở Đường. Anh ấy nằm trên giường, chiếc chăn dạ xám có kẻ màu hồng sạch sẽ đắp ngang bụng. Bên tay trái cụt gần đến khuỷu. Bên cạnh giường, có đôi chân giả xếp ngay ngắn. Anh có đôi lộng mày đen nhánh gọn gàng như nét vẽ mực tàu, nổi bật trên khuôn mặt chữ điền rất đàn ông cương nghị, sống mũi thẳng và nhân trung rộng mở trên khuôn miệng tươi tắn. Chào hai chị em, anh niềm nở mở lời. Hai hôm nay, anh nhìn thấy cô rồi, anh đã nghe cô hát, anh nghe cô kể chuyện, anh cảm ơn cô. Anh đã nghe Lâm kể chuyện về cô trước khi nhìn thấy cô cơ đấy. Anh tên là Sơn, cô An à !  Tôi lúng túng, vâng ạ, em chào anh Sơn ! Tôi vẫn chưa hết bàng hoàng. Trên đường về, tôi mới có cơ hội hỏi chị Lâm cho rõ ngọn ngành.

   Cô tính đi, một năm mấy lần bá bắt chị đi tìm anh Cả, hở? Đã nhận cái bằng Liệt Sĩ Ghi Công sau một tháng nước nhà thống nhất, bá vẫn không tin là anh Cả đã hy sinh. Bá bảo anh Cả không bao giờ chết, trước khi đi B, anh Cả đã hứa như thế. Bá dâu bảo, hàng đêm anh Cả vẫn về nói đủ thứ chuyện, bàn công việc nhà. Anh Cả chỉ bị thương nặng, người ta đưa về trại thương binh. Ở trại có nhiều người như anh Cả, nếu gia đình biết thì lên đón về. Anh Cả nói có người sống ở trại thương binh cả đời cho đến lúc chết, vì thương tích biến dạng, không muốn về làm người thân đau lòng. Bá dâu bảo, chị Lâm phải đi tìm và thuyết phục anh Cả trở về, bá sẽ nuôi dưỡng anh, miễn là anh nhận mẹ và gia đình.

   Mẹ như thế chị làm sao chị yên tâm đi lấy chồng? Quanh năm, chị mướt mải cấy gặt, màu màng xong xuôi là thu vén tiền bạc đi tìm anh Cả, tìm từ năm này đến năm khác. Trên cái đất nước này, các trại thương binh nặng, thương binh nhẹ, chị đến hết. Chị quen nhiều người. Chị nhận nhiều anh em làm anh nuôi, em nuôi, vì họ đều là đồng đội của anh Cả.

   Tôi kinh ngạc hỏi, thế là tuổi thanh xuân của chị trôi đi trong các trại thương binh à ? Chị Lâm gật đầu, thế cô bảo tôi còn làm được gì khác hơn ? Mỗi lần đi về, chị nói với bá thế nào ? À, khó gì đâu, chị bảo rằng anh Cả không chịu về, đằng nào Nhà nước cũng cấp bằng Liệt Sĩ Ghi Công cho mẹ rồi, cứ để anh sống ở trại, có người nhà nước phục vụ, khi chết cũng vẫn được công nhận là Liệt Sĩ. Chính vì thế, nhà cứ vãn việc là bá bắt chị đi ngay lên trại, kẻo anh Cả chờ mong.

   Tôi hỏi, những chuyến đi ấy chị mới gặp anh Sơn hả ? Đúng rồi, anh Sơn quê ở Thanh Hóa, mồ côi cha mẹ, giờ không có người thân. Anh Sơn là phụ xe của anh Cả nhà mình. Khi cái xe bị trúng bom, anh Sơn đang đứng ở cửa xe dẫn xe qua ngầm, nên bị hất tung lên, chỉ bị thương nặng thôi. Còn anh Cả nhà mình thì…Nói đến đây nước mắt chị Lâm chan chứa. Trên giấy báo, chỉ ghi anh Cả hy sinh ở chiến trường Khe Sanh, người không còn mảnh xác thì làm gì có mộ? Cho nên bá cứ khăng khăng là anh Cả còn sống là vì thế. Chị thấy may mắn đã gặp anh Sơn. Chị ngỏ ý đưa anh Sơn về nhà nhưng anh ấy bảo không muốn làm gánh nặng cho gia đình nhà mình.

   Đúng ngày 30 Tết, bá dâu điện thoại gọi tôi về ngay để đưa chị Lâm đi đẻ. Tôi lo lắng lắm, đàn bà bốn mươi mốt tuổi mới đẻ con thì không thể chủ quan được. Tôi chỉ thở ra nhẹ nhõm khi bác sĩ trao cho tôi đứa trẻ bụ bẫm và nói con trai nhé, ba cân tám, khóc to lắm. Không ai biết bố đứa trẻ là ai, chị Lâm cũng không nói, chỉ có tôi đoán ra nhưng cũng không chắc lắm. Tuy nhiên tôi rất muốn báo tin cho anh Sơn biết là chị Lâm đã sinh nở mẹ tròn con vuông. Bá dâu tôi mừng lắm, cười vui vẻ, nếp nhăn giãn cả ra, trẻ ra đến cả chục tuổi.

    Bá dâu tôi bảo, đặt tên thằng cu là Lộc, nó là lộc mùa xuân của nhà mình. Năm nay, ra rằm tháng Giêng, nhà mình phải ăn Tết lại, thịt con lợn, gói bánh ống, mở cỗ thật to. Vừa ra xuân, chưa đến rằm tháng Giêng nhưng tiết trời ấm áp, bốn cây cam giấy bung từng tầng hoa trắng ngần, thơm ngan ngát, đàn ong mật bận rộn bay tíu tít ra vào vườn như sợ hoa nở hết, dự báo một mùa quả trĩu cành.

                                                                                                              P.M.H

 

Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 22
Trong ngày: 527
Trong tuần: 1414
Lượt truy cập: 101197
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.