THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

THE MINER'S LOVE STORY

 Cầm Sơn

Lời tác giả: Trong chương trình tiến tới kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống Công nhân Mỏ. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam phối hợp với Báo Văn nghệ tổ chức chuyến đi thực tế cho các nhà văn về Vùng mỏ Quảng Ninh.

   Ngày 25 tháng 7 năm 2016, xe của Tập đoàn Công nghiệp Than – khoáng sản Việt Nam xuất phát từ trụ sở Báo Văn nghệ đưa 13 nhà văn thuộc đoàn công tác của Báo Văn nghệ do nhà văn Lã Thanh Tùng – Phó Tổng biên tập Báo Văn nghệ làm trưởng đoàn.  Các nhà văn được chia thành 4 nhóm xuống trực tiếp các mỏ để tiếp xúc với người lao động lấy tư liệu sáng tác. Nhà văn Vũ Thảo Ngọc là người của Tập đoàn Than hướng dẫn các nhà văn đến các mỏ. Theo sự phân công của đoàn công tác, tổ 1 làm việc tại mỏ Quang Hanh gồm các nhà văn: Lê Hoài Nam, Mai Nam Thắng, Vũ Bình Lục và Nguyễn Hòa Bình. Tổ 2 làm việc tại mỏ Đèo Nai gồm các nhà văn: Đăng Bảy, Cao Ngọc Thắng, Nguyễn Việt Thắng. Tổ 3 làm việc tại mỏ Khe Chàm gồm các nhà văn: Đức Dũng, Nguyễn Trác, Đinh Đức Cường. Tổ 4 làm việc tại mỏ Cao Sơn gồm các nhà văn: Lã Thanh Tùng, Vũ Nho, Cầm Sơn.

  Trong chuyến đi này, tôi được nghe bác Chiến nguyên Quản đốc phân xưởng Khoan và bác Mỹ nguyên Phó Bí thư Đảng ủy mỏ Cao Sơn kể chuyện. Từ nội dung câu chuyện của hai ông, tôi phát triển và hư cấu thành một truyện ngắn để trả bài cho Báo Văn nghệ, truyện ngắn có nhan đề “Chuyện tình người thợ mỏ”.

   Sau khi Báo Văn nghệ đăng tải, một cán bộ bên Tòa soạn Báo Sunday VietNam News có gọi điện thoại cho tôi trao đổi để Báo dịch sang tiếng Anh và đăng tải.

  Nhân Kỷ niệm 89 năm ngày truyền thống công nhân Mỏ (12/11/1936 – 12/11/2025), tôi xin chuyển tải nội dung truyện ngắn này bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Mời bạn bè cùng theo dõi!

 img20251028145053

Cam Son

THE MINER'S LOVE STORY 

by Cam Son

  After we visited Cao Son Coal Mine led by a company official, we journalists were introduced to one of the founders of the business in his home. What interested me the most was the story of the house owner Nguyễn Văn Chien, the first head of a department of this huge mine in the north of Quảng Ninh Province. Despite being the wrong side of seventy, he was well built with a deep, strong voice. After having tea, he told us about his life.

"I was among the first workers from the companies affiliated to Cao Sơn Coal Mine that were sent to the USSR to learn the skills of the trade for a year. Returning home to Việt Nam, I was made head of the drilling and excavating department cum secretary of the mine youth union. A short time later, many more youths were recruited from various localities in the north of the country to the coal mine. Our youth organisation was made up of about thirty people in the prime of their lives. Early on, the infrastructure was very poor: a small company office, some tem- porarily rigged-up buildings and a few decent huts for employees. Most of us, coming from far-away, had to live with local families.

"I was lucky enough to live with my extended family, very close to the mine. As a vast open-air mine, our first task was to connect our electric line to the provin- cial grid. After that, together with Russian technicians, we installed a huge drilling- machine and put a big excavator into operation.

"Usually, at six in the morning we went to work and returned home in the late afternoon. Without fresh water, we had to bathe in nearby Bái Tử Long Cove.

"On the whole, throughout my life there, I performed my job well. I was highly thought of by my superiors. However, one terrible incident really affected me: Trung's accident with the electric line.

"Trung and I worked in different sec- tions of the mine. We had trained togeth- er in the USSR. Returning home, we both worked for Cao Sơn Coal Mine with dif- ferent jobs: me as the head of the depart- ment of drilling and excavating, while Trung was in charge of a set of smaller drilling machines. Because I was three years older than him, in theory, I was his superior, but we saw each other as equals.

"That' day, because of a  in the cable linking the big drilling machine to the electric network, Trung and his mechanic Lap had to fix the bro- ken line. Trung climbed up to the central transformer station, hundreds of feet high, while Lap stood at the foot of the power pillar. Unfortunately, because of a fault in the power line, Trung got an elec- tric shock, fell to the ground below, and died. An investigation was launched and I was found jointly liable. What's more, I was suspected of murder, as Trung and I were chasing the same pretty female miner, Miss Nguyễn Hồng Hạnh. In truth, we had never been rivals in love. Hell, we were friendly with each other! Living side by side at the mine for years, we had never argued.

"Sadly, from that day on, Hanh did her best to shun me. Later, she asked for another job in one of the subsidiary com- panies of the mine," Chiến concluded his lengthy story.

"Hmm, whereabouts is she living now?" I asked him.

"To be honest, after I got married and had children I basically forgot her. Recently, when I visited the Cao Sơn-Luu Thúy amusement park with my old col- leagues, I met her at a religious service at the nearby Linh Son Pagoda," he con- fessed.

It was easy for me to track down Mrs Hanh at the Linh Son Pagoda. She made an appointment to speak with me. Below is her story.

"Anyone's first love is hardly likely to last forever," she revealed her feelings with these initial words from a well- known Vietnamese song.

"This is pretty fitting for my situation back then. But still, I'm happy to tell you about my secret romance when I worked at the Cao Son Mine.

"When the mine opened in 1974, the place we're sat now was just a vast expanse of marsh. To make it more use- ful, the local authorities filled it with stone and earth, year after year. Soon it became a wide area of land with roads, buildings, hospitals, schools, stadiums, markets and houses. Many young girls from Hung Yên Province, included me, were recruit- ed to that huge construction site. In the mine, we women did menial jobs like cooking, tidying accommodation; where- as the men did the heavy jobs like taking off layers of earth and rock to get coal. Our living conditions were poor. A lot of basic necessities were inadequate: fresh water and food, utensils and instruments, uniforms and helmets for safety. Of the five women I lived with, three quit their jobs. Yet, on the whole in the evening we usually had a good time.

"At first, we started our jobs by creat- ing a proper work place. One group stayed at the site to construct warehous es, offices, huts for machines, vehicles, dwelling-places and other facilities. Another group went to Mông Dương for est to fell trees to make temporary accom- modation. We lived in the deep forest for nearly two months. After one week at work, a minor accident happened to me. While cutting plants and small trees, I hit myself with my machete on my left arm. At once, it was dressed to keep blood from oozing out of the wound. I was car- ried on Chien and Trung's backs, one after another, through the forest. It took half an hour to reach the health centre.

"After that I figured out that both of them had fallen in love with me. I thought they were both good, kind men. Moreover, they were open-minded thanks to their stay in the USSR, perhaps. They taught me a lot of Russian songs and helped me learn the language with its special alphabet. After a while I could speak it fairly fluently. By and by, I had many opportunities to meet several Russian technicians at the mine. Then during an anniversary in celebration of the establishment of Việt Nam-USSR diplomatic ties I was invited to a celebra- tion to listen to some of my favourite Russian songs.

"One day, both Chien and Trung came to me to confess their love.

'Both of us have fallen in love with you and wish that you would accept our proposal,' they said in chorus. If you want, you can chose either of us then tell us your decision.'

"Never in my life had I heard such a bold marriage proposal. I was utterly torn. I didn't know how to reply. The next day, I asked one of my close work-mates for advice. Her idea was pretty clever. On Thursday, each of them would stand at one section of the two paths leading to our work places. In our two groups of workers each person in a similar uni- form with a mask covering the face, except for the eyes - went to work in two different ways. I was in one of the two, of course. Chien and Trung, each would take the opposite direction to work. Of the two suitors, whoever was able to pick me out just by looking at my eyes would win. Unfortunately, that Wednesday afternoon, Trung died in an accident."

Mrs Hạnh stopped midway, over- came with emotion. She went to the bath- room to wash her face. A few minutes later, returning to our seats, she resumed her story.

"One week after that horrible accident, I was summoned to the police station. The police demanded I told them about our love triangle. They also wanted me to tell them how Chien had been acting around me after the accident. I was well aware that they suspected Chiên. In order to shorten the heart-rending process I lied and told them that Chiên had won because Trung made the wrong choice.

"Later I felt terrible because I had been deceitful towards Trung. Anyway, the die was cast! Unable to bear my situation any longer, I asked my boss to transfer me to the Cửa Ông Coal-Screening company. At my new job, my heart was still torn apart by my memories, sad and sweet. For a long time I was depressed. Gradually, I afraid of men and became quite shy. d at Eventually, I started acting coldly g to towards men. Soon, I was part of the redundant circle of spinsters in the prime of their life partly due to young men face, being so scarce after the war. I threw myself into work to forget my sorrows. Once, when singing with some colleagues I met some Russian artists of the mine. Sometimes, I joined a vocal group to per- form Russian songs. Years went by and I hit the big 3-0. I slept with a Russian tech- nician named Nikola Corolop who was about to return home to the USSR. I gave birth to a pretty baby girl. Luckily for us, when he returned home, there were no major problems for us because of the del- icate issues between the two countries. I named little one Nguyên Cosina, half my Vietnamese half Russian. Surprisingly, when my daughter reached the age of ten, Nikola turned up in our coal mine. He told me that he had married a Russian woman. But his wife died of cancer two years later without offspring. To his amazement, he discovered he had a little girl in Việt Nam. Immediately, he flew here and found me in the northern coal region. During our brief happy time together, he urged me to follow him to his homeland to make up for me having had to raise our child alone. I denied his proposal because I didn't want to leave Việt Nam for good. We held a wedding with some relatives of both sides and our close colleagues and friends. Thanks to the support of the coal branch and his great efforts in building up the Cao Son Coal Mine during his stay in Việt Nam, the bosses decided to give him with a small plot of land right in the mine area to build a house. He went back to the USSR to settle his affairs first, then he came to stay with us. When our daughter finished her senior high education here, she was sent to her father's homeland to take a tertiary course in economics. Four years later, she completed her course with honours. Then she went on studying for her doctorate. Therefore, Nikola had to return home to help her earn her PhD in economics.

"Now in retirement, I've spent most of my time serving the rituals of the Linh Son Pagoda. Recently, I was told that her boyfriend - Chiến's son - goes to university in Russia too. He comes from the Cao Sơn Coal Mine like my daughter. I hope that their relationship will become stronger with every passing day."

She finished her story after a long silence.

I jotted down my address and phone number on her notebook, saying, "Thank you for your interesting story. What's more, when if they get married let me know. I'll certainly come here to congrat- ulate them."

                                                                              Translated by Van Minh

 img20251028145219

Cầm Sơn

CHUYỆN TÌNH NGƯỜI THỢ MỎ

   Sau một ngày cán bộ công ty chỉ dẫn đi thăm khai trường mỏ Cao Sơn. Chúng tôi được bố trí tiếp xúc với một số cựu cán bộ, công nhân là những người có mặt ngay từ ngày đầu thành lập công ty. Tôi chú ý đến câu chuyện của cựu quản đốc công trường Xúc, Khoan Nguyễn Văn Chiến. Dẫu đã vào cái tuổi 72 nhưng thân hình ông vẫn to cao vạm vỡ, giọng nói sang sảng đầy khí lực. Ông kể:

  Tôi được cử cùng một đoàn công nhân của các mỏ sang Liên Xô học tập một năm. Sau khi về nước thì được trưng dụng là một trong ba mươi hai người đầu tiên thành lập mỏ Cao Sơn này với cương vị quản đốc và làm Bí thư chi đoàn. Ngay lập tức sau đó, lãnh đạo mỏ lại tuyển dụng thêm công nhân nên chi đoàn thanh niên cũng có đến trên ba mươi người toàn nam thanh nữ tú. Ngày đầu thành lập, chưa có trụ sở, chưa có nơi ăn chốn ở, những công nhân xa quê phải ở nhờ nhà dân, còn tôi do nhà bố mẹ ở gần nên sinh hoạt cũng có nhiều thuận lợi. Thành lập mỏ là bắt tay ngay vào công việc, mỏ chúng tôi khai thác lộ thiên nên việc trước tiên là kéo điện vào mỏ, sau đó cùng chuyên gia Liên Xô lắp máy khoan, máy xúc để bóc đất đá. Buổi sáng 6 giờ xe đưa lên núi, buổi chiều cũng lại 6 giờ xe mới đưa về. Nước ngọt không có phải ra vịnh rửa ráy qua loa bằng nước biển. Bấy giờ có câu truyền miệng của thợ mỏ là: “Sáng ăn cơm tiệm, tối ra vịnh ngồi”...

 Ông kể nhiều về kỷ niệm của những ngày đầu thành lập, những ngày khó khăn gian khổ nhưng từ lãnh đạo đến công nhân, ai ai cũng hăm hở, một lòng một dạ chung tay xây dựng mỏ. Tôi ghi chép đầy đủ nhưng lại quan tâm nhiều đến chi tiết về một tai nạn nghề nghiệp của ông. Ông kể:

  Suốt cuộc đời làm việc của tôi, dù ở cương vị nào cũng luôn luôn hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Lãnh đạo mỏ rất quý mến không ai chê trách tôi điều gì. Nhưng có một chuyện làm cho tôi cứ áy náy, chênh chao, đeo đẳng mãi. Ấy là chuyện tai nạn của Trần Hồng Trung. Trung và tôi đều là những công nhân từ mỏ khác được đi học nghề bên Liên Xô rồi cùng về xây dựng mỏ từ những ngày đầu. Tôi  được lãnh đạo mỏ phân công làm quản đốc Công trường Khoan còn Trung làm tổ trưởng phụ trách một máy khoan. Việc phân công này có lẽ là do tôi lớn hơn Trung ba tuổi thôi chứ lúc bấy giờ thì quản đốc với công nhân cũng cùng làm việc như nhau chứ chẳng có ai phân biệt là cấp trên, cấp dưới như bây giờ. Hôm ấy đầu dây điện ở ổ tiếp nối giữa cột với máy khoan bị đứt, cần cắt điện để nối lại. Cầu dao điện ở tận trên trạm biến áp trung tâm, nó cách xa hàng vài trăm mét mà trời thì nắng như đổ lửa. Vậy là Trung cử chú Lập là thợ phụ của Trung đi lên trạm biến áp cắt cầu dao điện. Ám hiệu an toàn là sau khi cắt xong cứ đứng lại dưới hộp biến áp. Nếu Trung nhìn thấy Lập đứng ở đấy là cầu dao đã được cắt điện. Không biết ma xui quỷ khiến thế nào lại có một cậu công nhân đi đâu qua đấy nhảy lên chỗ biến áp để nhìn ngắm khai trường. Các anh đã ra thăm khai trường thì thấy đấy, mặc dù có xe chở nước tưới liên tục nhưng khai trường vẫn cứ bụi mù bụi mịt, cộng với cái nắng chói chang như hoa cà hoa cải trước mắt thế, với cự ly vài trăm mét làm sao mà nhìn cho rõ mặt người. Trung thấy có người đứng ở đấy yên chí là Lập đã cắt cầu dao. Vậy là xảy ra tai nạn, vừa là do điện giật, vừa là bị ngã từ đỉnh cột điện xuống, Trung đã tử vong ngay tại chỗ. Cán bộ an toàn lao động, sở Lao động, cảnh sát hình sự đến điều tra. Tất nhiên trước tiên là người ta phải chất vấn lấy lời khai của Lập, sau đó là tôi rồi. Lập khai anh ta là phụ việc, máy chính sai gì thì làm thế thôi. Khi anh ta đi lên phía cột điện có cái biến áp còn cách khoảng non trăm mét thì thấy có một người cũng mặc quần áo công nhân đứng làm gì đó bên dưới cột điện có cái máy biến áp nhưng Lập cũng không để ý làm gì. Lúc lên đến nơi cắt cầu dao thì người ấy đã đi rồi nên không biết là ai. Khi cắt cầu dao xong nhìn xuống khai trường thấy người ta xúm xít chỗ máy khoan của mình nhưng cũng chưa biết là đã xảy ra việc gì. Còn tôi người ta chất vấn khi xảy ra vụ việc tôi đang ở đâu? Tôi khai là tôi đang ở trên khai trường nhưng là ở chỗ một mũi khoan khác, chỉ đến khi người ta phát hiện ra Trung bị tai nạn thì tôi mới biết. Thực ra nếu bình thường thì tôi không phải là người trực tiếp tham gia công việc để xảy ra tai nạn. Việc này chỉ có cậu Trung và cậu Lập là những người trực tiếp cấu thành nên sự việc gây ra tai nạn, người ta phải tập trung khai thác cậu Lập mới đúng. Tôi là quản đốc chỉ là trách nhiệm liên đới thôi. Nhưng người ta lại tập trung xoáy vào tôi. Cảnh sát hình sự gọi lên gọi xuống hỏi đi hỏi lại vặn vẹo chẳng đâu vào đâu, ví như: “Anh làm quản đốc, khi máy của công trường anh xảy ra sự cố, tại sao anh không có mặt ở đó để giải quyết? ” Hoặc “Trời nắng gay nắng gắt thế mà tại sao lại xuất hiện một anh công nhân đứng ở chỗ nắng ấy làm gì?” Tôi đã trả lời là “Sự cố tầm ấy thì máy trưởng giải quyết được rồi, vả lại họ có báo cáo với tôi đâu mà tôi biết. Cả công trường có biết bao nhiêu cái sự cố khác chứ đâu phải chỉ có một cái sự cố ấy!” Và: “Đấy là việc của người ta, tôi làm sao biết được!”. Nhưng rồi lần sau triệu tập tôi họ vẫn lại hỏi lại những câu hỏi ấy. Tôi đã phải phát khùng quát lên là “ Tôi đã trả lời rồi, các anh đừng hỏi những câu rớ rẩn như thế nữa có được không!”. Nhưng họ vẫn không tha làm đầu óc tôi vô cùng mệt mỏi. Cuối cùng thì họ cũng lộ ra là họ nghi tôi có liên quan bởi tôi và Trung lúc ấy cùng theo đuổi yêu một cô gái, cô ấy tên là Nguyễn Hồng Hạnh cũng là công nhân ở mỏ. Tôi nói với họ là chuyện ấy chẳng liên quan gì đến chuyện sản xuất ở công trường. Chúng tôi là những thằng đàn ông đàng hoàng, chuyện nào đi chuyện ấy. Cuối cùng thì rồi họ cũng chả làm gì được tôi bởi lỗi là do sơ xuất, vi phạm quy trình của chính người bị nạn. Theo quy định, lẽ ra Trung phải trực tiếp đi cắt cầu dao điện rồi mới được thực hiện các thao tác tiếp theo, nhưng anh đã chủ quan sai Lập đi cắt cầu dao. Việc dùng ám hiệu bằng hình ảnh người đứng dưới cột điện cũng là một sự vi phạm quy trình về an toàn lao động. Còn Lập là thợ phụ nên cũng không phải là người chịu trách nhiệm chính. Trung đã từng được đào tạo ở nước ngoài, là thợ bậc bốn phải hiểu kỹ lắm những quy định về an toàn lao động rồi chứ.

  Về chứng lý, tôi không có lỗi gì trong vụ việc này nhưng về mặt tinh thần, tôi đâm ra mặc cảm, lúc nào cũng thấy như mình là người có lỗi với bạn. Đúng là tôi và Trung đều theo đuổi một tình yêu đối với Hạnh nhưng chúng tôi rất thân thiện, rất bình đẳng và sòng phẳng với nhau. Chúng tôi đều nghĩ rằng quyền quyết định là ở Hạnh chứ đâu phải là tôi hoặc Trung. Nhưng cảnh sát họ lại nghi tôi có âm mưu gì đó hãm hại Trung để giành giật người yêu. Thật khốn nạn, cảnh sát họ đánh giá tôi thấp quá mà hình như  đối với cảnh sát, họ nhìn ai cũng đều thấy là tội phạm thì phải. Những ngày sau đó, tôi không còn có hứng để gặp lại Hạnh nữa. Tôi có cảm giác như nếu yêu Hạnh thì chính mình sẽ là người có tội với Trung. Mặc dù trong lòng tôi da diết nhớ Hạnh nhưng tôi vẫn cứ phải ghìm lòng lảng tránh. Mà hình như Hạnh cũng có ý lảng tránh tôi. Được một thời gian sau, Hạnh xin chuyển công tác sang đơn vị khác. Thế là vĩnh viễn chúng tôi xa rời nhau.

 Vậy là dẫu không có ý định nói về tình riêng nhưng như thế là tôi đã kể cho anh nghe mối tình đầu của tôi rồi đấy nhé!

  •      Nhưng bây giờ bà Hạnh ở đâu, anh có biết không?
  •     Rồi tôi lấy vợ, có gia đình. Mối tình đầu ấy cũng nhòa mờ đi để thay thế vào đấy là biết bao nhiêu lo toan cho cuộc mưu sinh của gia đình. Mãi gần đây, một lần ra thăm Công viên Văn hóa Cao Sơn – Lưu Thủy của công ty, tôi mới lại được gặp bà ấy trong đội ngũ những tình nguyện viên phục vụ chăm sóc ngôi chùa Linh Sơn Tự.

                                          **img20251028161010

  Không khó khăn gì để gặp được người đàn bà có tên là Nguyễn Hồng Hạnh ở công viên Cao Sơn – Lưu Thủy. Bà đã đồng ý hẹn tôi đến nhà riêng của bà để nghe bà kể chuyện...

  Có đoạn lời trong một bài hát viết “Chuyện tình yêu ban đầu, mấy ai may mắn chung nhịp cầu” có lẽ rất đúng với tôi. Những chuyện thầm kín này thường người ta “Sống để dạ, chết mang theo” chứ không mấy khi lại kể ra làm gì. Nhưng ông là nhà văn, nể tình ông nài nỉ, mấy lại ý định của ông cũng chỉ là cố gắng tái hiện lại một thời gian khổ nhưng rất đáng tự hào của người thợ chúng tôi những ngày đầu mới thành lập mỏ nên tôi đồng ý kể cho ông nghe.

  Như để có thêm thời gian hình dung lại hình ảnh quá khứ đã chôn lấp trong lòng cách đây gần bốn chục năm tưởng như đã vĩnh viễn lãng quên, bà Hạnh đẩy chén nước sang phía tôi:

  •     Ông uống nước đi, nếu cần ghi chép thì cứ chuẩn bị giấy bút, tôi sẽ từ từ kể đủ để ông có thời gian ghi nhớ. Chỉ có điều sau này viết thành truyện thì phải tránh đi, đừng để người đọc là công nhân mỏ này họ nhận ra tôi là được.
  •     Bà yên tâm, đấy là nghề nghiệp của chúng tôi, truyện sẽ rất trung thành với những gì bà kể nhưng sẽ không ai nhận ra bà đâu bởi giống như một món ăn, có nguyên liệu chính nhưng lại còn có biết bao nhiêu phụ gia, gia vị gia giảm. Nhiều khi chỉ là bột đậu mà người ăn lại tưởng lầm là thịt như món ăn chay của nhà chùa chẳng hạn.

 Bà Hạnh cũng đưa chén nước lên môi chiêu một ngụm, im lặng thêm một lát rồi chầm chậm với một giọng kể nhỏ nhẹ như bà tự nói với chính mình...

   Mỏ Cao Sơn được thành lập năm 1974, bấy giờ nơi chúng ta ngồi đây chỉ là một bãi sú vẹt sình lầy. Các đời lãnh đạo nối tiếp nhau cho đổ đất đá lấn biển với diện tích hàng trăm héc ta mới thành nhà cửa, đường xá, sân vận động, trạm xá, công viên, hồ nước sinh thái, làng xóm như ngày hôm nay. Bấy giờ tôi là cô công nhân ngoài hai mươi tuổi mới được tuyển dụng từ Hưng Yên cùng với năm cô bạn cùng trang lứa do một bác là quản đốc ở mỏ về làng kéo em gái ra thì tuyển luôn thêm mấy đứa chúng tôi. Những ngày đầu, chúng tôi phải ở nhờ nhà dân chứ đã làm gì có nhà tập thể. Trên công trường bóc đất đá phần lớn là công nhân nam, con gái chúng tôi chỉ có vài chục đứa làm những công việc phục vụ sản xuất. Ở nhà cứ tưởng ra vùng mỏ làm công nhân thì oai lắm nhưng hóa ra cũng chả hơn gì ở nông thôn, có cả hàng trăm thứ việc không tên, lãnh đạo phân công công việc theo từng ngày, bữa ăn chỉ toàn ngô xay với bo bo chứ có được mấy hạt gạo. Đối với phụ nữ chúng tôi,  khổ nhất là việc tắm rửa, nước giếng thì chỉ là nước phèn đỏ oạch nhưng cũng phải tiết kiệm vì ở nhờ nhà dân, giếng cũng có mấy nước đâu nên phải biết giữ ý chứ, nước ở bể chứa là nước mưa thì dùng làm nước nấu ăn không động vào được. Đang ở làng quê, thỏa thuê tung tẩy nay lại bị vào khuôn khổ với điều kiện sống nghiệt ngã thế nên năm đứa cùng làng chúng tôi chỉ còn lại ba, hai đứa không chịu nổi đã bỏ về. Nói khổ thì khổ vậy nhưng cũng rất vui. Chúng tôi có chi đoàn thanh niên sinh hoạt thường xuyên sôi nổi, việc gì chi đoàn thanh niên cũng là mũi nhọn. Tôi nhớ không thể quên cái lần chi đoàn thanh niên cờ dong trống mở kéo quân vào rừng Mông Dương. Hơn ba chục đứa thanh niên cả nam cả nữ  dựng lán ở trong ấy đến gần hai tháng để khai thác cây đem về làm nhà. Ban ngày làm việc nặng nhọc, ăn uống kham khổ nhưng ban đêm tập trung quây quần bên đống lửa múa nhẩy, ca hát cuốn hút chúng tôi, đan quyện chúng tôi thành một khối thống nhất khó có thể tách rời. Thanh niên bây giờ các cháu chúng nó sung sướng nhưng không thể có được cái tinh thần, khí thế hào sảng như thời chúng tôi. Anh Chiến làm bí thư chi đoàn, phân công đám thanh niên là con trai đi chặt cây lấy gỗ còn mấy đứa con gái chúng tôi thì lo lấy củi, tiếp vận lương thực, thực phẩm, lo cơm ăn nước uống cho đoàn. Làm việc được hơn một tuần trong rừng thì xảy ra chuyện tôi đẵn cây củi vào cái mắt cứng bị con dao văng ngang bập vào bên tay trái. Vết thương không lớn như lại trúng ngay động mạch. Y tá phải ga rô và yêu cầu cấp tốc đưa tôi về ngay bệnh viện mới giải quyết được. Nhận được tin báo, anh Chiến về đến lán thì bế thốc tôi lên vai chạy luôn ra khỏi rừng. Anh Trung và y tá cũng chạy theo. Vừa chạy vửa phải tạm dừng để y tá nới ga rô tránh tụ huyết gây hoại tử. Vậy là anh Chiến và anh Trung thay phiên nhau vác tôi chạy. Đoạn đường chạy bộ ấy phải dài bốn, năm cây số mới đến được nơi có ô tô mỏ để đi nhờ.

  Sau sự kiện ấy, là con gái nhậy cảm nên tôi biết cả hai người đều có ý “tấn công” tôi. Tôi yêu quý và kính nể cả hai bởi các anh đều là những thanh niên “mẫu” của mỏ lúc bấy giờ. Theo tôi, những người đã từng được đào tạo ở Liên Xô, hình như máu người Nga đã ngấm vào truyền sang họ nên họ đều phóng khoáng, rộng lượng và kẻ cả. Họ thường nhường nhịn không chấp vặt. Tôi yêu và quý phong cách Nga của họ. Tôi thường xuyên giao du với cả hai người và cả hai người cũng thường xuyên giao du với nhau, họ là những người bạn thân thiết. Họ dạy tôi hát những bài hát của người Nga và tôi rất thích hát cùng với họ “Я люблю тебя, жизнь/ Что само по себе и не ново,/ Я люблю тебя, жизнь/ Я люблю тебя снова и снова... (Cả tình yêu trao cuộc sống/ Mãi mãi ta nên yêu người tình yêu thắm nồng/ Cả tình yêu trao cuộc sống/ Mãi mãi ta hiến dâng người tình yêu thiết tha...)”. Tôi còn được họ dẫn dắt giao du và cùng hát chung với những chuyên gia người Nga. Tôi thuộc nhiều bài và giọng tiếng Nga của tôi cũng khá chuẩn nên nhiều bác chuyên gia rất thích hát chung với tôi. Cuối cùng thì hai anh cũng đặt vấn đề với tôi. Ông có biết họ làm thế nào không? Cả hai người cùng đến gặp tôi. Họ bảo: “Cả hai đứa chúng tôi đều yêu em và muốn được em nhận lời yêu. Em hãy chọn lấy một. Khi nào chọn được thì thông báo cho bọn anh”. Tôi thật sự lúng túng, có lẽ trên đời này chả có ai đi ngỏ lời yêu kiểu ấy. Còn tôi thì đúng là chả biết chọn ai, ai tôi cũng yêu, ai tôi cũng quý. Tôi đem chuyện ấy nói với con bạn thân cùng làng. Nó nghĩ ra một sáng kiến và tôi đã làm theo sáng kiến của nó.

 Đám công nhân mỏ là phụ nữ chúng tôi khi đi làm mặc quần áo bảo hộ của mỏ cấp phát đồng đều giống nhau rồi. Tầng mỏ trên khai trường thì bụi mù, nắng gắt nên đứa nào cũng  quấn khăn bịt mặt chỉ hở mỗi hai con mắt để nhìn. Theo kế hoạch thì sáng ngày thứ năm hai anh phải đứng ở hai đoạn đường khác nhau để nhận ra trong đoàn công nhân nữ đi làm ai là tôi. Chỉ cần đi ngược chiều rồi vỗ  nhẹ vào vai tôi là được, nếu vỗ nhầm thì tự chịu hậu quả. Nếu một trong hai anh nhận sai thì người nhận đúng sẽ thắng cuộc. Nếu cùng đúng thì sẽ làm cách khác, nghĩ sau. Cả hai người đều hồ hởi và có vẻ thích thú với cái cách yêu cầu của tôi. Họ cho đấy là cách hay nhất, công bằng nhất. Dẫu người nào có bị thất bại cũng thấy thỏa mãn bởi tình yêu của mình chưa đủ chín. Vậy mà...buổi chiều ngày thứ tư thì xảy ra sự cố anh Trung bị điện giật...

  Xúc động, bà Hạnh tạm dừng lời vào buồng tắm rửa mặt rồi mới quay lại kể tiếp:

  Khoảng một tuần sau sự cố anh Trung bị điện giật, cảnh sát hình sự họ mời tôi lên trụ sở mỏ. Họ hỏi về quan hệ của ba chúng tôi rồi họ lại thăm dò xem ông Chiến có những động thái gì khác thường không. Tôi nhận ngay ra là họ có ý nghi ngờ anh Chiến. Lúc ấy tôi nghĩ, làm sao lại có thể có chuyện gì giữa các anh. Tôi mảy may không hề có một chút gợn nhỏ gì về tình bạn của các anh. Còn họ là cảnh sát, họ có quyền nghi ngờ, đấy là việc của họ. Vậy là anh Chiến đang gặp rắc rối về chuyện này. Người chết thì đã chết rồi, không thể chỉ vì chuyện của mình mà lại để rắc rối cho người đang sống. Tôi  kể cho họ nghe cách chọn người yêu của tôi nhưng lại nói khác đi là việc ấy đã kết thúc, anh Chiến nhận ra tôi còn anh Trung thì đã nhận nhầm người.

  Sau chuyện này, tôi cảm thấy như có lỗi với anh Trung vì mình đã nói dối không đúng sự thực. Nếu chuyện nhận người đã xảy ra, có gì đảm bảo rằng anh Chiến nhận đúng còn anh Trung nhận nhầm. Nhỡ ngược lại thì sao. Mang trong lòng nỗi ân hận ấy, tôi không muốn gặp lại anh Chiến nữa mặc dù cũng rất nhớ anh. Và hình như anh cũng có ý lảng tránh tôi. Tôi hiểu và thông cảm với những suy nghĩ của anh. Nhiều lúc lẩn thẩn nghĩ anh Chiến tuổi Thân, anh Trung tuổi Hợi, tôi tuổi Dần nằm vào “Tứ hành xung”. Không đến được với nhau chắc do trời định. Còn sống ở đây, còn nhìn thấy anh thì tôi không chịu được. Vậy là tôi đã nhờ anh con bạn làm quản đốc người cùng làng xin cho tôi chuyển sang làm việc bên Nhà sàng Cửa Ông.

 Sang đơn vị mới rồi nhưng trong lòng tôi vẫn nặng trĩu nỗi niềm với những u uẩn của câu chuyện tình bến cũ nên tôi trở thành tự kỷ, lãnh đạm đối với đàn ông. Mà ngày ấy mới thoát khỏi chiến tranh, đàn ông là thứ quý hiếm lắm chứ phụ nữ thì đông chàn chạt. Đương nhiên là tôi bị gạt vào góc khuất dành cho thứ sản phẩm tồn kho rồi. Tôi lao vào công việc và tham gia trong đội văn nghệ, hát cho nó quên đi tất cả ấy mà. Thanh niên Việt Nam thì cao không tới, thấp không nhìn. Mấy lại họ cũng không có ai chú ý đến tôi nữa. Mặt khác, tôi lại quen thân nhiều với các chuyên gia bởi tôi thường xuyên hát cặp với họ. Năm tháng cứ vùn vụt chạy qua, ngó đi ngó lại đã ngoài ba mươi tuổi. Tôi đánh bài liều quài với một anh chuyên gia sắp hết hạn về nước có cái tên là Nikola Corolop và sinh được một cháu gái. Cũng nghĩ là xin lấy một đứa nuôi cho có mẹ có con sau này, anh ta về nước rồi thì đỡ khỏi lằng nhằng, rắc rối cho anh ta và cho cả chính mình. Tôi cắn răng vượt lên trên tất cả những kỳ thị, những tiếng chì tiếng bấc dể nuôi dạy con gái. Vì người ấy đã về nước chẳng ảnh hưởng gì nữa nên tôi công khai đặt tên con trong giấy khai sinh là Nguyễn Cosina. Năm con bé lên mười tuổi, bỗng nhiên Nikola Corolop xuất hiện. Anh bảo về nước anh mới lấy vợ, nhưng vợ anh lại bị bệnh ung thư mất cách đây hai năm, chưa sinh cho anh được đứa con nào. Đang buồn chán lang thang thì được bạn bè cho biết là anh có một đứa con gái bên Việt Nam. Mừng quá, anh bay sang và tìm gặp tôi luôn. Anh muốn đón tôi về nước để đền đáp cho tôi những ngày thiệt thòi nuôi con một mình nhưng tôi thấy mình không thể xa dời được quê hương. Chúng tôi đã làm một đám cưới muộn và có một ngôi nhà. Tôi vốn dĩ là công nhân mỏ Cao Sơn, anh lại là chuyên gia Liên Xô đã từng sang giúp đỡ ngành Than nên lãnh đạo mỏ Cao Sơn cũng ưu tiên cho chúng tôi một mảnh đất ở làng mỏ này. Anh về nước thu xếp và sang ở hẳn Việt Nam với mẹ con tôi. Sau khi con gái chúng tôi học hết phổ thông, anh thu xếp cho cháu sang Nga học đại học. Mấy năm trước cháu đã ra trường nhưng ở lại làm tiếp học vị tiến sĩ. Anh phải về bên ấy phục vụ, trợ giúp cháu. Nghỉ hưu, sống một mình, tôi tình nguyện ra chùa phục vụ. Hằng ngày cũng có thời gian được tụng kinh, niệm phật cầu mong cho muôn nẻo kiếp người được bình an, siêu thoát. Gần đây, tôi nhận được tin có một bạn trai cùng làm nghiên cứu sinh với cháu có bố mẹ là người ở Công ty Cổ phần Than Cao Sơn. Được biết con anh Chiến cũng  tầm tuổi cháu đang học ở bên ấy. Không biết bạn trai của cháu có phải là con anh Chiến không. Nhưng đúng là như thế thì ông trời thật có mắt.

  Tôi ghi lại địa chỉ và số điện thoại của mình đưa cho bà Hạnh và nói:

  •     Rất cám ơn bà đã cho tôi nghe một câu chuyện tình, nhưng nó là mối tình lớn lao, cao đẹp hơn nhiều những chuyện tình giữa con trai với con gái thông thường. Khi nào các cháu làm đám cưới, xin bà hãy gọi cho tôi, bằng giá nào chúng tôi cũng sẽ đến để chúc mừng các cháu!

 Tạm biệt bà Hạnh, người nữ công nhân có mặt từ những ngày đầu thành lập mỏ Cao Sơn, được nghe câu chuyện của ông Chiến và bây giờ là chuyện của bà Hạnh, trong lòng  tôi cứ thấy ngân nga mãi lời ca bà Hạnh hát trong lúc kể chuyện cho tôi nghe:

.”... Một ngày mới, vẫy chào ta/ Bạn đời ơi ta muốn dâng ngọn lửa cháy này/ Cho cuộc sống, bao vui buồn/ Xin hạnh phúc, dẫu muộn màng sẽ đến với ta...”

 

                                                                                                      C.S

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 8
Trong ngày: 133
Trong tuần: 1276
Lượt truy cập: 103296
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.