Lê Va
“CÁ KÌNH” THOÁT CẠN VỀ VẤY VÙNG SÔNG ĐÀ
Ở đời, ai mà chẳng muốn chọn chỗ thuận lợi để sống. Nhưng hình như, mỗi người lại hợp với một môi trường nhất định. Ở đó, người ta phát huy được sở trường và hạn chế sở đoản của mình. Quãng đời hơn 30 năm thăng trầm của ông Nguyễn Đình Tuy – một “cá kình” trên hồ sông Đà có thể chứng minh điều này.
Sinh ra và lớn lên ở “Xứ Đoài mây trắng”, năm 1969, vừa tròn 20 tuổi, chàng thanh niên Nguyễn Đình Tuy ngược sông Đà lên Chợ Bờ (huyện lỵ Đà Bắc lúc bấy giờ) xung vào đội quân kéo bễ, quai búa trong xưởng Nông cụ. Gọi là phố Bờ - thị trấn huyện Đà Bắc, nhưng nơi này chưa thành một đơn vị hành chính cấp thị trấn mà lại trực thuộc xã Vầy Nưa. Ngày ấy, tầu xe đi lại rất khó khăn, lại càng khó khăn hơn bởi những trận oanh kích của máy bay Mỹ mà bến phà Chợ Bờ và Suối Rút là một trong những trọng điểm đánh phá của địch hòng ngăn cản đường hành quân sang chiến trường Lào của bộ đội ta. Chính vì thế, những ngày nghỉ, chàng Tuy chỉ biết tha thẩn ở các bản đồng bào Mường gần phố Bờ để ngắm người, ngắm cảnh.
Xóm Trà – một xóm trù phú bên dòng Đà giang. Mùa xuân về, nơi đây hoa gạo rợp đỏ cả một khoảng trời. Những bông hoa rời cành, xoay tít đậu xuống mặt sóng rồi theo dòng lũ lượt trôi xuôi. Hình ảnh ấy gợi trong Tuy nỗi nhớ tuổi thơ, nhớ quê hương da diết. Nhớ quê thì còn hình dung ra quê, nhưng 4 người anh em ruột đang chia lửa trên các chiến trường đánh Mỹ - ngụy thì biết hình dung thế nào đây? Nhà có 5 anh em trai thì 4 người lên đường tòng quân giết giặc. Còn mình Tuy, nhiều lần tình nguyện mà không được vào quân ngũ.
Những năm tháng nước sôi, lửa bỏng ấy, thanh niên trai tráng rủ nhau ra mặt trận hết cả, ở hậu phương chủ yếu là người già, phụ nữ đảm đang việc làng xóm. Sự có mặt của chàng thanh niên người Kinh sôi nổi, hay hát và đặc biệt là có hàm răng trắng, đều, mỗi khi cười cứ như gieo nắng vào đông đã làm ngây ngất bao trái tim sơn nữ.
Có gì đẹp bằng rung động từ trái tim đến trái tim bằng con đường ca hát và những sinh hoạt sôi động của tuổi trẻ. Những làn điệu dân ca đồng bằng Bắc Bộ được chàng trai xứ Đoài mang đến hòa quyện với ví, đúm của cô gái Mường Đinh Thị Niên như làm sáng hơn, dài hơn những đêm trăng đại ngàn. Mối tình của họ trong trẻo như nắng ban mai giữa núi rừng Tây Bắc. Năm 1970, đám cưới của họ được tổ chức ấm áp trên đất Mường Vầy Nưa.

Giã từ những ngày kéo bễ, quay búa, Tuy trở về quê vợ bắt đầu cuộc sống gia đình. Làm ruộng thì đã từng, nhưng vào rừng, lên nương thì bây giờ mới là những bài học “vỡ lòng” đối với anh. Chọc gậy, thả thóc trồng lúa nương; đi rừng chặt nứa, bắc nước từ mó về nhà sàn…những công việc tưởng chừng lạ lẫm mà đầy hấp dẫn đối với chàng rể mới người Kinh trên đất Mường. Ngoài rừng, ruộng, nương rẫy thì con sông Đà trước mặt đầy cuốn hút. Bắt đầu bè, mảng rồi đến con thuyền gỗ nhỏ chèo tay, kiếm con tôm, con cá những lúc nông nhàn, dìu cây củi trôi sông mùa lũ để lấy cái đỏ lửa quanh năm, đỡ phải lên rừng kiếm củi… những công việc quanh năm của người miền núi, ven sông mà chẳng mấy chốc thành quen thuộc đối với Tuy.
Sau chiến dịch mùa xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, chiếc máy nổ cole từ kênh rạch miền Nam theo những anh giải phóng quân ra miền Bắc. Sẵn nghề “cơ khí” trước đây, Tuy bàn với vợ, bằng mọi cách phải mua ngay một máy đẩy. Thế là từ thuyền chèo tay, gia đình anh đã có một thuyền máy để lướt sóng sông Đà. Từ khi có thuyền máy đẩy, việc kiếm con tôm, con cá của gia đình anh cũng không còn là chính yếu. Thay vào đó là những chuyến thuyền chợ. Từ Chợ Bờ, Suối Rút, rồi Hạt, Kế …phiên nối phiên. Từ đó, thời gian sống trên sông của anh đã nhiều hơn trên bờ.
Khi ấy, thác Bờ vừa là vẻ đẹp thơ mộng, vừa là nỗi hoang mang của dân thuyền bè mỗi dịp qua đây, nhất là mùa mưa lũ. Chính vì thế, đã là dân sông nước, ai cũng phấn đấu có thuyền máy rồi thì phấn đấu thuyền to, máy nhiều sức ngựa để tăng công suất vận tải mà lại chống chọi được với thác ghềnh. Sau vài năm bươn bả khắp mặt sông, gia đình Tuy nâng cấp từ thuyền nhỏ chở 12 người lên 45 người; từ thuyền trọng tải 30 tấn lên 50 tấn rồi hàng trăm tấn. Chợ Bờ - Hòa Bình – Vạn Yên, Sơn La không chỗ nào anh không có mặt. Những năm huyện Đà Bắc ráo riết việc chuyển dân khỏi vùng lòng hồ sông Đà, phục vụ cho việc đắp đập thi công Công trình Thủy điện Hòa Bình có thể nói là những năm tháng sôi động mà người ta gọi là một cuộc cách mạng. Trong đó, gia anh đã tham gia đắc lực vào cuộc cách mạng chuyển dân này.
Việc chuyển dân khỏi vùng lòng hồ sông Đà thời ấy diễn ra nhiều đợt, theo cốt nước và cao trình của đập thủy điện. Những gia đình có điều kiện kinh tế nhất trong số dân phải chuyển lòng hồ thì tìm cho mình một nơi ở mới ở thị xã Hòa Bình. Trong số đó, có gia đình của anh Tuy. Nói điều này, trước hết là ghi nhận những cố gắng của vợ chồng anh trong những năm tháng tảo tần trên dòng sông Đà, trước khi con sông bị chặt dòng làm điện.
Phần lớn các gia đình chuyển vén. Cốt nước lên đến đâu thì chuyển lên cao hơn. Nếu chuyển cao quá thì chạy nước mà khát nước. Đi lại vô cùng khó khăn. Đường không có, trường học, trạm xá không có. Nếu chuyển nhiều nơi thì gia đình phân tán, kinh tế đã khó khăn lại càng khó khăn. Người viết bài này, tuy không phải chuyển nhà (vì lúc đó chưa có gia đình riêng) nhưng cũng phải chuyển cơ quan và chứng kiến trọn vẹn công cuộc chuyển dân với vô vàn khó khăn và kéo dài hàng chục năm của nhân dân các dân tộc vùng lòng hồ Hòa Bình.
Không biết bao gia đình người Mường đã phải tháo “khớp” nhà sàn vác ngược núi. Gối người như sắp bong ra. Cột, kèo thì lạc hơi nhau. Cái sứt mộng, cái mẻ mang cứ như trườn khỏi tay người mà nghênh ngang tìm đường về quê cũ. Ấy thế mà khi dựng được nhà, mái tranh còn đang sưng xỉa cãi gió thì lại đã phải dỡ ra để ngược tiếp lên cao hơn. Và, cứ mỗi lần chuyển vén, cái nhà sàn lại ngót đi.
Đó cũng chính vào đầu những năm 80 của thế kỷ 20. Trước thời đổi mới, giai đoạn cuối của thời bao cấp với vô vàn khó khăn. Khi mà mua từng cân xi măng, sắt thép, nghìn gạch phải qua bao nhiêu chữ ký, con dấu và lưu lại hóa đơn làm bằng…thì việc gia đình anh Tuy từ vùng lòng hồ về xây nhà tầng giữa thị xã Hòa Bình là ước mơ của không ít cư dân thị xã chứ nói gì đến dân chuyển lòng hồ sông Đà.
Có nhà ở thị xã Hòa Bình, chị Niên - vợ anh Tuy mở quầy bán gạo tại chợ Phương Lâm và trông nom các con ăn học. Cuộc sống tưởng thế là êm xuôi, nào ngờ lại bắt đầu nảy sinh những điều bất ổn. Mà cũng tại con người cả thôi. Người ấy lại chính là Nguyễn Đình Tuy – chủ gia đình. Ở sông, có cái phức tạp của sông. Lên bờ, lại có nhiều cái phức tạp của bờ. Trong những phức tạp ấy, Tuy không cưỡng nổi những lời mời ngọt như mía lùi của những tay anh chị trong làng cờ bạc. Thế là, từ một con người chỉ biết miệt mài ghìm lái, lướt thuyền ngược xuôi trên sông Đà, Tuy đã bắt đầu dẻo tay trong các sới bài bạc.
Thời gian đầu, Tuy thường thắng vơ tiền vào lòng. Rồi thắng ít thua nhiều, rồi triền miên thua. Ngơ đi, tính đã có 13 năm ở thị xã Hòa Bình, giật mình, anh Tuy quyết định bán nhà cửa lấy hơn trăm triệu rồi chạy ào về quê Đan Phượng của anh. Toàn bộ vốn liếng còn lại, anh Tuy mang đầu tư mở xưởng xẻ gỗ. Chả là sẵn chỗ bạn bè sông nước, bè mảng trước đây, hàng họ, đầu ra, đầu vào chắc cũng thuận hơn người. Đúng là làm ăn thì rất thuận, nhưng nào ngờ: “Tránh vỏ dưa, lại gặp vỏ dừa” – anh Tuy kể: Không phải cờ bạc ở Hòa Bình theo về, mà chính miền xuôi vùng quê anh, cờ bạc còn khủng khiếp hơn nơi anh vừa chạy trốn. Cờ bạc cũng là một loại ma túy. Bỏ rồi, chơi lại càng nghiện. Ba năm ở quê, gia tài bao năm đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có đã gần như khánh kiệt. Không còn con đường nào khác, Nguyễn Đình Tuy quyết định: Ngược sông lên lại lòng hồ Hòa Bình khi bước vào tuổi làm ông.
Đúng ngày Quý Mão, năm Đinh Sửu ( 26 tháng 3 âm lịch năm 1997), ông Nguyễn Đình Tuy cập thuyền vào khu đảo thuộc xóm Xăng của xã Vầy Nưa mà bên kia là khu đồi có đền Bờ tọa lạc. Vốn liếng còn được 13 triệu đồng, ông Tuy mua lại hơn 10 ha đồi đảo của nhiều hộ gia đình đang tăng gia trồng sắn. Thế rồi, vợ chồng, con cái lại bắt đầu bới đất, lật cỏ khai hoang, lấy ngắn, nuôi dài. Vừa trồng sắn, ngô, vừa quy hoạch trồng luồng, trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ, kết hợp chăn nuôi và đánh bắt thủy sản. Cứ thế, lao động chân chính đã mang lại niềm vui và giá trị cuộc sống cho gia đình ông.
Một vinh dự lớn đến với gia đình ông Tuy – đúng ngày 09/3/2001 tức ngày 15 tháng 2 âm lịch, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã lên thăm và biểu dương những cố gắng biến đảo hoang ở nơi lòng hồ vô cùng khó khăn thành trang trại của vợ chồng ông.
Có lẽ, hơn ai hết, thấm cái cay cực của kẻ từng “bán danh ở lúc rườm rà thú vui”, tưởng chừng không thể ngóc đầu dậy, nên Nguyễn Đình Tuy đã quyết “ mua lại danh ở lúc sa đà” bằng tất cả tâm lực của mình. Và, ông đã, đang giành lại những gì đánh mất. Cây ăn quả cho thu hoạch, rừng luồng khép tán rồi cho thu hoạch. Nay, ông thay toàn bộ diện tích luồng bằng cây keo và áp dụng công nghệ gieo thẳng. Một trăm cây dừa đang vươn tầu hắt bóng xuống mặt nước hồ trong xanh, mà theo ông, khu đảo này sẽ mang tên đảo Dừa. Đợi mùa nước cạn năm nay, ông sẽ đầu tư xây một con đập ngăn một eo nước dài trên 200m, chỗ rộng nhất tới trên 40m, sâu hàng chục mét để nuôi thả cá chứ không chỉ cá lồng.
Đã gần 10 năm nay, cứ đến ngày Rằm tháng Hai, gia đình ông Tuy lại tổ chức kỷ niệm ngày Chủ tịch nước tới thăm. Ngày này, con cháu ông tụ lại, lãnh đạo địa phương và bà con láng giềng cùng bạn hữu kéo đến. Vài mâm cơm bày đặt giữa nhà sàn. Tiếng cười, tiếng hát vang lên, lan tỏa mặt hồ.
Ông Tuy tâm sự: “Vinh dự thì đúng rồi! Nhưng tôi làm thế không phải để khoe khoang mà để nhắc mình và con cháu mình nhớ bài học từ những thất bại mà vươn lên. Từ đó phải quyết tâm lao động, lao động chân chính để phát triển khu đồi này thành một cơ ngơi xứng tầm của nó. Và, tôi coi ngày này là “Ngày Tết gia đình”, của riêng gia đình tôi.
Trên ngôi nhà sàn đẹp đến mê hồn giữa hồ nước xanh, tôi hồi tưởng từ những ngày đầu đặt chân lên huyện miền núi Đà Bắc của tỉnh Hòa Bình mà xốn xang. Bao địa danh nay chìm sâu nơi đáy hồ. Kỷ niệm bỗng ùa về. Trong đó, không ít lần tôi được ngồi thuyền máy cole của Nguyễn Đình Tuy xuôi ngược sông Đà. Tôi được ăn, ngủ trên con thuyền trọng tải hàng trăm tấn với 2 máy nổ công suất lớn của ông. Được chứng kiến sự “chìm nổi” do chính con người này gây ra rồi tự gượng dậy…cho đến bây giờ. Thấm thoắt đã hơn nửa đời người, vào tuổi sáu mươi, ông vẫn mạnh khỏe và giữ vị trí nhạc trưởng trong gia đình. Bốn người con của ông bà đã trưởng thành, hai cháu nội, sáu cháu ngoại đang tuổi ăn, học. Gặp lại ông, tôi mừng vì “Cá Kình” Nguyễn Đình Tuy đã thoát cạn mà trở về vẫy vùng trên hồ Hòa Bình.
Nếu “Minh triết” là nghiệm sinh, thì cuộc đời giông gió của Nguyễn Đình Tuy chính là một bài học.
Tháng giêng, 2009
L.V