Nông Thị Ngọc Hoà
XANH MỘT VÙNG CAO, SÁNG MỘT VÙNG NGƯỜI
Trong dòng chảy của thơ ca cách mạng Việt Nam, với lớp lớp tiền bối khả kính, đã có những thi nhân “neo đậu” được những tác phẩm và tên tuổi mình trong nhiều thế hệ độc giả. Mỗi người mang một phong cách riêng, có những người mang dấu ấn đậm nét đến mức đặc biệt. Bản thân tôi có ấn tượng sâu sắc với các tác phẩm viết về đề tài dân tộc và miền núi của một người đặc biệt như thế: Thi nhân Bàng Sĩ Nguyên - Người sinh ra trong một gia đình “ Danh gia vọng tộc” ở nơi đô thị phồn hoa.
Tôi không có diễm phúc được diện kiến thi nhân, hoạ sĩ Bàng Sĩ Nguyên; nhưng tôi may mắn được nhà thơ, nhạc sĩ, hoạ sĩ Bàng Ái Thơ - ái nữ của Ông kể cho nghe những kỷ niệm về cuộc đời ông và tặng Tuyển thơ Bàng Sĩ Nguyên, Nhà xuẩt bản Văn học, 2011.
Cảm nhận đầu tiên của tôi là sự chỉn chu đến mức trang trọng của tác phẩm. Ban Biên tập cùng gia đình đã “ chắt lọc” trong “ kho tàng “ thơ của Ông để chọn 552 trang tác phẩm với nhiều chủ đề, mang nhiều cung bậc cảm xúc của Thi nhân.
Trong Tuyển, tôi đặc biệt trân quý tình cảm, tâm huyết Ông dành cho các tác phẩm với đề tài dân tộc và miền núi. Điều đó thể hiện ngay phần đầu, mang tên Mùa hoa trên núi và nhiều tác phẩm xuyên suốt cả Tuyển: Mùa hoa trên núi, Tiếng đàn môi, Lòng ta vẫn sáng ánh trăng đầu mùa, Vợ chồng đi chợ xuân… Những cung bậc tình cảm của Ông được thể hiện khi ảo diệu, khi sắc nét như chính người con của dân tộc, của núi rừng.
Tác phẩm của Ông đặc biệt khai thác tình yêu nam nữ, tình yêu vợ chồng, tình yêu quê hương làng bản và thuần phong mỹ tục, nếp sống sinh hoạt văn hoá của đồng bào vùng cao… Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin phép góp đôi dòng cảm nhận về tác phẩm của Ông - những tác phẩm về đời sống sinh hoạt của người dân xứ núi.
Tuổi trẻ, mùa xuân và tình yêu luôn là đề tài sáng tác của bất cứ người làm thơ nào. Đối với Thi nhân Bàng Sĩ Nguyên khi đi sâu về mảng đề tài này, nhất là đối với tình yêu của những người con núi rừng - Ông đã cảm nhận bằng trực giác tinh tế, rung động bằng trái tim nhân hậu và chuyển tải thông điệp bằng bút pháp tài hoa.
Những thanh âm long lanh, thủ thỉ như nói giúp lời trái tim của trai xinh, gái đẹp, trai tài, gái ngoan; là lời của gió, của suối, của đàn tính, đàn môi… dung dị mà thiết tha, ngọt ngào mà sâu lắng: “…Bình Cao khơi lửa hồng/ Ý Don thổi đàn môi/ Tiếng đồng trên ngón nẩy/ Chỉ hai người nghe thấy/ Mưa xuân rơi ngoài trời/ Lửa hồng sáng khung cửa/ Bóng hoa đào ngó vào/ Cánh hoa hình môi nở/ Cành mưa lóng lánh sao…” ( Tiếng đàn môi ).
Sự cảm nhận và quan sát của thi nhân thật tinh tế về “Tiếng đồng trên ngón nẩy”. Ngón tay của cô gái, những ngón tay biết lên rừng lấy củi, biết lên nương trồng lanh, biết se sợi, biết nhuộm chàm, biết dệt vải, biết thêu hoa văn lên khăn áo và nẩy những ngón tay thô nhám lên lưỡi lam bằng đồng của cây đàn môi - tạo nên những âm thanh kỳ diệu, làm run rẩy trái tim người trai mình đã chọn. “Chỉ hai người nghe thấy” - Đó là ngôn ngữ của trái tim đến trái tim từ người lao động cần củ, mang tâm hồn nghệ sĩ.
Tình yêu của trai gái vùng cao nảy nở trong sinh hoạt, trong lao động sản xuất; cứ tự nhiên như mặt trăng, mặt trời, như nắng gió, trăng sao: “ Trời thu trăng sáng/ Sương thu tím ngát/ Rơi đầy lòng thung/ Tiếng chày giã cốm/ Động bốn mặt rừng/…Trăng xanh màu cốm / Hát quên không về/ Áo ẩm sương khuya/ Đôi ta thương nhau/ Còn giấu bố mẹ/ Buộc khăn đầu sàn/ Đánh tiếng khe khẽ…” (Mùa cốm ).
Những mùa vui, mùa hò hẹn trong các lễ hội rực rỡ sắc màu, mang đặc trưng phong tục tập quán từng vùng miền và từng dân tộc. Đó là khi mùa xuân về, gọi bướm bay đôi, gọi chim đan tổ, gọi hoa khoe màu, giục những người yêu thương tìm nhau - Khi ngô lúa đầy nhà, gà lợn chật sân. Hội mở đầu xuân để tạ ơn năm cũ và cầu cho năm mới được mưa gió thuận thời, cho mùa tiếp bội thu, cho bếp lửa reo vui, cho đông con, nhiều cháu: “… Khăn chàm thêu chỉ đỏ/ Vòng bạc sáng cổ tay/ Uốn mình còn vút bay/ Còn bên trai bên gái/ Còn xanh tua lá cải/ Còn vàng chân rơm mới/ Còn trắng nhánh hoa bông/ Còn thắm cánh hoa hồng…/ Gió nâng áo chàm bay/ Cả hai người như say/ Trong bài ca thống nhất…” ( Hội còn). Tình yêu lứa đôi nhỏ bé quyện trong tình yêu Tổ quốc lớn lao khi đất nước thái hoà.
Đã qua những mùa hội xuân, đã qua những mùa hẹn hò, đã qua những mùa thương nhớ. Hoa đến thì hoa nở, rượu đến độ rượu thơm, gái ngoan tìm chồng, trai khôn chọn vợ: “ Khướu hót trong cành bông hoa ban/ Hoa xoè cánh trắng ôm nắng vàng/ Nghiêng chào nhà trai có người sang… / Nâng áo cô dâu bước lên ngựa/ Được phép mẹ cha về nhà chồng/ Hàng xóm tiễn đưa người đứng trông/… Tiếng khèn tiễn người đi làm dâu/ Như tiếng bầy ong đi tìm mật…” (Đi làm dâu).
Những con chữ long lanh, như tự thân nó phải chảy ra ngòi bút. Sự ví von đúng chất đồng bào, tiếng khèn như bầy ong đi tìm mật thì đó chính là “thương hiệu” Bàng Sĩ Nguyên - Không khác! Vị ngọt ngào không chỉ hạn hẹp trong một khoảng thời gian, một không gian nhất định, mà nó mở ra một không gian bao la, bát ngát, với thời gian không cùng - Hạnh phúc của đôi bạn trẻ, của gia đình, dòng tộc và làng bản. Nàng dâu mới như cánh ong mật cần cù, hút nhuỵ nơi hoa để làm nên mật ngọt.
Ngay từ bài mở đầu của Tuyển đã được Thi nhân “vẽ” ra bức tranh xinh xắn về một gia đình nhỏ của vợ chồng son, với cuộc sống giản dị, ấm êm, an lành và hạnh phúc: “ Một mái nhà đỉnh núi/ Với một đôi vợ chồng/ Tiếng mõ trâu lốc cốc/ Hoà nhịp tiếng suối trong/ Chồng trên cây thổi sáo/ Vợ vịn cành lắng nghe/ Mưa xuân bụi khăn áo/ Núi mờ xanh mây che…/ Hát hoa đào cứ thắm/ Như duyên của đôi ta/ Vách núi vọng lời hát/ Núi với người vang ca…” ( Mùa hoa trên núi).
Miền núi với muôn vàn khó khăn, gian khổ; những mưa ngàn, thác lũ; những nhạt muối, đói cơm cũng có thể làm núi thay hướng, cũng có thể làm suối đổi dòng, nhưng không làm mặt trời tắt, không làm mặt trăng ngưng và không làm phai nhạt lòng tin của bà con với Bác Hồ, với Đảng. Cuộc sống cứ an nhiên như thế, như bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông.
Quanh năm tất bật, quanh năm lo toan với bao thứ việc không tên và có tên; Chỉ mong đến chợ xuân để tìm về nơi cũ, nơi gặp nhau trao ánh mắt ban đầu. Tuỳ theo phong tục từng địa phương - Chợ miền núi họp theo phiên cách nhật, hoặc theo các ngày con Giáp. Chợ không chỉ là nơi giao thương, trao đổi hàng hoá. Chợ còn là nơi giao lưu văn hoá, trao gửi yêu thương và tìm kiếm bạn đời: “ Núi rừng xa mờ xanh với xanh/ Đường non như lưng rồng uốn khúc/ Vợ ngồi lưng ngựa vợ đi trước/ Chồng nắm đuôi ngựa chân theo nhanh/ Vợ chồng xuống núi đi chợ xuân/ Sương sớm còn che như lấp lối…/Một dải rừng mai hoa ướt sương/ Đường xuân đưa vợ chồng xuống núi/ Váy vợ phồng căng đầy gió đồng/ Đuổi theo vó ngựa mỏi chân chồng/ Vào chợ đổi hàng mua vải, muối/ Mắt đưa nhìn quanh thấy rượu nồng/ Chồng ghé vào hàng say mấy chén/ Vợ bán mua xong, dắt ngựa đến/ Thấy chồng dim mắt cười nắng xuân/ Ngả nón tu lờ đưa chồng gối/ Xoè quạt bên chồng vợ phe phẩy… /Gió mát nằm lâu chưa hết say/ Nâng chồng lên ngựa hàng chất đầy/ Vợ đi thong thả sau lưng ngựa/ Về núi tay cương, chồng lỏng tay” ( Vợ chồng đi chợ xuân ).
Bài thơ từ từ mở ra khung cảnh hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền núi. Không gian khoáng đạt ấy bỗng ấm áp, sinh động với sự xuất hiện của con người ( đôi vợ chồng ) và chú ngựa của họ. Tiếng vó ngựa khua vào không gian tĩnh mịch, làm lung lay những hạt sương trong suốt. Cả một đường hoa đẫm sương dẫn lối người xuống chợ. Lòng người háo hức, khiến quãng đường dường như ngắn lại.
Câu thơ “ Váy vợ phồng căng đầy gió đồng” là câu thơ khiến tôi tâm đắc nhất, nó đã thể hiện được cảm xúc cần chuyển tải. Khung cảnh náo nhiệt, ồn ã của phiên chợ; những váy áo rực rỡ sắc màu đã thay thế sự thanh khiết suốt chặng đường rừng. Đến chợ, chồng gặp bạn để chuyện trò và uống rượu. Uống để quên đi nỗi lo áo cơm thường nhật, uống để thể hiện tình cảm với bạn bầu và uống cho … đỡ rét. Ở chợ miền núi, uống rượu là một nét văn hoá không thể thiếu.
Bài thơ cho chúng ta cảm nhận vi diệu từ một số giác quan: Thị giác cho ta nhìn thấy cảnh vật và màu sắc của cây, của hoa; thính giác cho ta nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng suối róc rách ngân nga, tiếng vó ngựa đi nước kiệu và phi nước đại; khứu giác tỉnh thức bởi hương rượu ngô nồng nàn mê đắm và mùi thắng cố, mèn mén mời gọi đến nôn nao…
Trong bài thơ có cả thi, ca, nhạc, hoạ và … điện ảnh. Ta như được xem một bộ fim ngắn; trong đó, ta thấy tình cảm con người với con người, con người với thiên nhiên trong sự giao hoà thật thân thiện. Bài thơ chân thật và tinh tế đến mức khó tin.
Bài thơ đã được nhạc sĩ Đoàn Bổng phổ nhạc, với ca từ sử dụng trọn vẹn cả tác phẩm nhiều hình tượng này. Sự hoà hợp giữa thơ và nhạc đã cho bài thơ Vợ chồng đi chợ xuân một diện mạo mới rất đáng yêu.
Miền núi và vùng cao cứ đẫm xanh trong thơ của Thi nhân Họ Bàng - mặc cho tất cả mọi thứ nơi ấy đều thiếu thốn, chỉ có nghĩa nhân với yêu thương luôn ăm ắp, tràn đầy. Ai đã từng ở rừng sẽ được ngắm trăng trổ hoa trên thảm lá, được nghe tiếng nai tác đầu non và đêm đêm vọng tiếng chim “ Bắt cô trói cột” ( trong sự tích ). Nhưng với tinh thần lạc quan tin tưởng ở một tương lai tươi sáng, bà con đã đọc thành “ Khó khăn khắc phục”.
Hẳn là nhà thơ Bàng Sĩ Nguyên đã yêu thương cảnh sắc và con người miền núi với một tình yêu chân thành, vô tư nhất. Đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng tin yêu Đảng, Bác Hồ, yêu cán bộ, bộ đội như chính người thân, ruột thịt của mình: “ Nhớ khi hạt muối cùng lo/ Mé phù, thiếu muối, nhường cho ăn cùng/ Bữa cơm hạt muối để chung/ Cơ quan mời mé, mé nhường cơ quan/ Về xuôi nhớ miếng cơm lam/ Mõ trâu lốc cốc. lửa sàn sớm trưa/ Còn đây gói muối con đưa/ Mé cầm gói muối vẫn chưa quay vào/ Mé ơi muối mặn làm sao/ Mặn tình con với đồng bào rẻo cao” ( Hạt muối ). Đọc bài thơ, tôi cứ thấy cay cay nơi sống mũi.
Mỗi con chữ của Thi sĩ Bàng Sĩ Nguyên về miền núi và dân tộc như sự tri ân vùng đất chiến khu cách mạng, nơi mà Ông gắn bó suốt thời trai trẻ, trong những tháng năm gian khổ. Ông yêu núi rừng đến mức thánh thiện và đắm đuối như chính người con của núi rừng vậy. Núi rừng cũng yêu Ông với một tình yêu bao la, nên đã tiếp cho Ông những cảm xúc dạt dào, chân thật để Ông tạo nên tác phẩm Thi - Hoạ, những tác phẩm cứ xanh ngời niềm hy vọng ở tương lai.
Tôi trân trọng, ngưỡng mộ thi sĩ, hoạ sĩ Bàng Sĩ Nguyên và những tác phẩm văn học nghệ thuật của Ông. Những tác phẩm góp phần không nhỏ trong kho tàng văn học nghệ thuật nước nhà. Một Thi nhân Bàng sĩ Nguyên với tác phẩm riêng có, không lẫn vào bất cứ ai. Ông toả hào quang của riêng mình bằng một trái tim chân thành, một tâm hồn thanh khiết, một tình yêu trọn vẹn với vùng cao ./.
N.T.N.H
Người gửi / điện thoại

