Lường Đức Chôm
TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀY - THÁI
Được chắt lọc qua cuộc sống và tích lũy hàng trăm năm, tri thức bản địa các dân tộc miền núi (nói chung) và dân tộc Tày – Thái (nói riêng) có những nét vô cùng độc đáo do đặc điểm địa văn hoá.
Trước hết, là trong nông nghiệp: Với sườn dốc trên bốn mươi lăm độ, đất xen lẫn với đá tảng, đá làn thì việc dùng cơ giới là không thể vì vậy cách duy nhất là người ta lấy cây vát chéo rồi chọc lỗ để tra hạt giống. Do gần rừng, độ ẩm cao nên cây phát triển tốt mà không cần bất cứ một loại phân bón nào. Với lúa nước thì từ ngàn đời nay, bà con có sáng kiến đắp đập, đào mương hoặc dùng cọn nắm (guồng quay) để đưa nước vào ruộng và biết kết hợp nuôi cá trong ruộng lúa. Bởi thế, đã xuất hiện nhiều câu thành ngữ, quán ngữ chẳng hạn như: Háy tệm tạ bàu sằm na hới nừng, kháu đòn xóm nha vá chệ cha, pạ nay na nha vá chệ cáng (Nương bạt ngàn không bằng ruộng một thửa, xôi giã tay đừng chê không dẻo, cá chép ruộng chớ bảo không ngon). Ai cũng biết đến những địa danh có giống lúa nổi tiếng thơm ngon như: nếp Tú Lệ (Yên Bái), nếp Điện Biên, xôi nếp Mai Châu ( Hòa Bình), hay như ở Yên Châu ( Sơn La) có giống xoài nổi tiếng trong và ngoài nước, giống mận tam hoa, mận hậu ở Mộc Châu … là những nơi có đông dân tộc Tày - Thái sinh sống.
Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, những con giống bản địa bao giờ cũng ngon thịt hơn bởi phương thức chăn nuôi chủ yếu là chăn thả ở các đồng cỏ tự nhiên không bị ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật. Mặt khác, con vật giống thuần tuy năng suất có thấp nhưng chất lượng thịt lại thơm ngon hơn, chính vì vậy mà giai đoạn đầu các khu du lịch cộng đồng thường đông khách tới nghỉ dưỡng bởi ẩm thực với các món ăn bản địa. Đặc biệt, sản phẩm ngành nghề thủ công vô cùng độc đáo với đủ chủng loại như: May mặc, trang sức, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày và hàng thủ công mỹ nghệ. Du khách rất say mê bởi những tấm thổ cẩm được thêu dệt thủ công với nét hoa văn cầu kỳ, tinh sảo của phụ nữ Tày – Thái cũng bởi nghề dệt may được lưu tuyền qua nhiều thế hệ. Người Tày-Thái có câu: Lúc nhinh phài hú tằm hục lai. Lúc trai lạu tọc sạn ập, sạn dặng. Câu này được hiểu là: Làm con gái phải biết dệt vải thêu hoa, muốn thành trai giỏi nên học đan lát. Việc thiết kế ngôi nhà ở đơn giản hơn nhiều chủ yếu là nhà sàn rộng, dài đủ cho ba đến bốn thế hệ con cháu chắt cùng chung sống. Tuy nhiên người Tày-Thái cũng biết chọn phong thủy theo sách cổ chẳng hạn như gần nguồn nước uống, nhà hướng đông nhìn ra sông, suối, hai hồi thoáng, phía sau nhà dựa vào sườn núi, …
Tri thức bản địa dân tộc Tày -Thái được biểu hiện rõ ràng nhất trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Do có chữ viết riêng ra đời từ thế kỷ IX theo hệ chữ Thái Kra-Dai (hay còn gọi là Tai-Kadai) tương đồng với chữ viết của một số quốc gia như: Lào, Thái lan, Cam Pu chia,… Cũng do có chữ viết sớm nên các tác phẩm văn học nổi tiếng ra đời như: Xồng Chú Sọn Sạo, Khụn Lu – Nang Úa, Nang Hạn,… và rất nhiều tác phẩm văn thơ khác một số đã được đưa vào sách giáo khoa ngữ văn bậc Trung học phổ thông như Xồng Chú Sọn Sạo. Hàng ngàn câu tục ngữ, ca dao, dân ca thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội được các nhà nghiên cứu dân tộc biên dịch, phiên âm từ các cuốn sách cổ đã được xuất bản và phổ biến trong cộng đồng. Đặc biệt, trong văn hóa tâm linh còn lưu giữ gần như nguyên vẹn những thủ tục cầu kỳ khi còn sống và các bài cúng đưa hồn người mất lên Thiên đàng với hàng trăm bài có vần điệu. Những điệu múa, lời hát (khắp) Tày – Thái làm xốn xang lòng người cùng những bài thơ tình lãng mạn. Những nhạc cụ cổ điển làm bằng cây nứa trong rừng như khèn bè, sáo tiêu, pí pặp, đàn môi,… được các nhạc sỹ phát triển, cải biên và nâng cao góp phần tô đẹp và phong phú nền âm nhạc nước nhà.
Độc đáo trong lĩnh vực nghệ thuật phải kể đến điệu múa tập thể mà người Tày – Thái gọi là xòe hoa: Bàu xe kháu bàu tệm na, bàu xe pạ bàu dù huối. (không xòe không tốt lúa, không xòe cá dưới suối bỏ đi). Theo thiển nghĩ của người viết bài này hiếm có một dân tộc nào trên thế giới có một điệu múa tập thể không giới hạn số người và cũng không phân biệt đẳng cấp giầu nghèo, địa vị xã hội như thế. Tất cả đều nắm tay trong vòng xòe đoàn kết, trong điệu trống chiêng và tiếng khèn bè dìu dặt làm nhạc nền. Nếu như các lễ hội ở miền xuôi mang yếu tố tôn giáo thì lễ hội của cộng đồng Tày – Thái chủ yếu là giới thiệu và giải thích các địa danh làng bản và những đặc sản của địa phương như: lễ hội hoa ban, lễ hội hái mận cũng có một vài lễ hội mang màu sắc tâm linh khác như: Xên bản, xên mường, lễ hội Nàng Han, lễ cầu mưa, …
Chữ viết người Tày – Thái đã được số hóa trên trong công nghệ thông tin và đã được thống nhất trong 8 tỉnh có đông dân tộc Tày – Thái sing sống, một số tỉnh đã đưa vào giảng dạy ở bậc Tiểu học và Trung học cơ sở như ở Sơn La, Điện Biên. Các tỉnh còn lại cũng đã đưa nội dung này vào dạy trong các Trung tâm Giáo dục thường xuyên thay cho chứng chỉ ngoại ngữ. Các tài liệu viết bằng chữ Tày – Thái cổ hầu hết được những nhà trí thức người Tày - Thái, các nghệ nhân và những người tâm huyết với văn hóa dân tộc dịch và phiên âm ra chữ quốc ngữ, được xuất bản và phổ biến trong cộng đồng. Tuy nhiên điều trăn trở nhất là giới trẻ ngày càng thờ ơ với Văn hóa và những tri thức bản địa của dân tộc mình.
Tri thức truyền thống là tài sản vô giá, là những nét rất riêng biệt cần được lưu giữ và phát huy theo đúng tinh thần của Nghị quyết Trung ương V khóa VIII.
L.Đ.C
Người gửi / điện thoại

