THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

TRẮC

Hà Phạm Phú

TRẮC

XXV-
Sau cuộc nổi dậy của bộ tộc Dâu ở Bắc Đới, Tô Định cho chuyển Đô uý trị về Liên Lâu, tự mình nắm việc quân sự, tổ chức lại bộ máy cai trị, thực thi các chính sách đồng hoá và vơ vét cho đầy túi tham.
Năm ấy Quang Vũ Đế sức chỉ gửi Tô Định, đưa ra những qui định mới về lương bổng cho các chức thái thú, huyện lệnh, huyện trưởng, các loại thuế ao hồ, các đồ vật và số lượng phải cống nạp, mở thêm các chức quan lang, phụ đạo, đưa người Hán ở xen kẽ với người Việt, mở thêm chức môi quan, lo việc cưới xin, tuyên truyền tam tòng tứ đức...
Ngay sau đó, từ nơi đô hội đến các hang cùng ngõ hẻm, nơi nào cũng thấy dán những tờ bố cáo của Toà Thái thú về những điều cấm kỵ, những việc bắt buộc phải làm. Những toán lính nhỏ không ngừng lùng sục, tìm bắt gái đẹp, những của ngon vật lạ, chở về dinh thái thú. Đồng thời Tô Định cũng sức giấy cho các huyện lệnh, huyện trưởng phải đưa người lên Liên Lâu bồi đắp thành luỹ. Dân phu đi đắp thành Liên Lâu đều phải mang gạo, sắn, khoai nhà đi ăn.
Chiểu theo số khẩu, thì huyện Mê Linh phải đưa dân phu đi Liên Lâu đông nhất. Trùm Lí được lệnh trà trộn vào đám dân phu đi Liên Lâu để điều tra tình hình.
Các đoàn dân phu kéo về Liên Lâu đông như kiến. Lán trại tạm bợ dựng lên ở ngoài thành, bám vào ven đường. Buổi chiều người ta lại thấy toán hát rong đi qua. Đoàn hát rong toàn người trẻ, hát những bài của người Việt, hát về Gióng. Hát rằng:
Lạc tướng Mê Linh
Giòng dõi vua Hùng
Trưng trắc nữ kiệt
Khôi phục non sông...
Bọn lính của Tô Định ra sức xua đuổi gánh hát rong. Nhưng đuổi ở chỗ này,họ xuất hiện ở chỗ khác.
Tiếng hát len lỏi khắp nơi, không dứt.

XXVI-
Đó là một ngày đẹp trời, nắng sớm hào phóng tưới lên cánh đồng lúa đang xanh mơn mởn, rắc những cánh phấn sáng lấp lánh lên mặt sông như những mảnh giấy trang kim vàng. Trên bến Mê Linh, một đoàn thuyền dài trang trí cờ hoa sặc sỡ, sóng sánh, rạo rực chờ đón đoàn người đưa xuống những đồ sính lễ gồm: trầu cau, gạo trắng, rượu vò, những con lợn thịt. Đó là đoàn thuyền chở các đồ Lễ hỏi chồng của Trắc. Sau đó, bà Thiện cùng một người cỡ tuổi bà Thiện ăn mặc sang trọng, đại diện cho nhà gái bước xuống thuyền. Theo sau hai bà là chín cô gái trẻ, đẹp như tiên nữ, líu ríu cười nói, rón rén đặt chân lên cây ván bắc từ bờ sang thuyền. Mỗi thuyền có hai mốt chàng trai cầm mái chèo chờ đợi. Khi mọi người đã tề tựu trên thuyền, bà Thiện nói:
“Được giờ lành, nhổ neo thôi.”
Đám trai tráng đồng thanh hô:
“Nhổ neo thôi!”
Đoàn thuyền từ bến tiến ra sông, nối nhau như một con rồng uốn lượn, hướng về thành Chu Diên, lao đi.
Tại thành Chu Diên, nhà trai cũng đang nhộn nhịp chuẩn bị nghênh đón tại nhà lớn. Đó là một ngôi nhà sàn dài, có chiếc cầu thang rộng, mỗi bậc thang được đẽo gọt bằng những súc gỗ to. Sàn lát gỗ được lau chùi bóng loáng. Lạc tướng sai Đô Dương túc trực ở bến sông chờ đón đoàn thuyền nhà gái tới. Hôm nay là ngày vui của Tiểu Huyện lệnh, từ lúc sớm Đô Dương đã uống vài bát rượu, hơi men làm cho gương mặt của viên bộ tướng Chu Diên hồng hào, vừa đẹp vừa lẫm liệt. Khi mặt trời đã lên cao, Đô Dương lấy tay che nắng, nhìn hút về phía tây bắc, thấy một đàn cò trắng muốt bay theo đội hình chữ nhân mỗi lúc một gần, sau đó đoàn thuyền bắt đầu hiện ra, cờ hoa phấp phới. Đô Dương nói với những người xung quanh:
“Bên Mê Linh đang đến, chuẩn bị đón tiếp.”
Tiếng trống vui bắt đầu nổi lên. Đám thanh niên trên bờ nhẩy múa và ca hát. Đoàn thuyền của bà Thiện cập bến, Đô Dương dẫn đường để đoàn nhà gái vào tư dinh Huyện lệnh. Thấy bà Thiện cùng đoàn người đi tới, ông bà Huyện lệnh Thi vội bước ra nghênh tiếp, mời khách lên nhà. Sau khi khách và chủ an toạ, Huyện lệnh Thi ra hiệu để người nhà đưa rượu lên. Hai chàng trai ngực để trần, quấn khố mới, đưa ra hai vò rượu cần lớn, đặt ngay giữa nhà. Bà Thiện cất giọng khiêm nhường:
“Chúng tôi xin mời bà Lạc tướng, cùng các vị uống rượu.”
Hai nhà cùng ngồi xuống sàn, cùng vít cần rượu, không khí thật trang trọng và cũng thật đầm ấm. Bà Thiện thưa với ông bà Huyện lệnh Chu Diên, rằng con gái bà là Trắc đã đến tuổi cập kê. Được biết bên ông bà Huyện lệnh Chu Diên có con trai là Sách, học hành đến đầu đến đũa, tài nghệ giỏi giang. Hai bộ tộc Chu Diên và Mê Linh là hai bộ tộc lớn, nếu kết sui gia thì sức mạnh sẽ vô địch. Vả chăng, Trắc và Sách cũng hợp nhau. Vậy là duyên số tốt lành, nhà gái hôm nay qua thưa chuyện cùng nhà trai để xin tác thành cho hai con.
Những lời bà Thiện nói vừa có tính chất nghi thức, cũng vừa hết sức chân thành. Hơn nữa chuyện hôn nhân của Trắc với Sách đã được bà Thiện cùng Huyên lệnh Thi bàn đi tính lại, đi đến nhất trí hoàn toàn rồi.
Sau khi hai nhà thống nhất với nhau ngày cưới, Huyện lệnh Thi nói:
“Mới đây Thái thú Tô Định vừa cho sức giấy tới tất cả các huyện to, huyện nhỏ, bắt phải bỏ phong tục cũ, cưới xin theo phong tục người Hán. Chúng ta là những huyện lớn ở Giao Chỉ, nếu chúng ta cúi đầu thì cả Giao Chỉ không thể ngóc đầu lên được. Chúng ta cứ theo tục lệ của ông bà.”
Bà Thiện biểu đồng tình, nói:
“Mỗi dân tộc có thuần phong mĩ tục riêng, phải được tôn trọng. Tôi cũng nghĩ như Huyện lệnh, chúng ta không thể khuất phục.”
Đô Dương nghe hai vị huyện lệnh đối đáp, trong lòng rất vui, bèn nói to:
“Tất cả chúng ta cùng uống mừng hai nhà kết sui gia. Nào cùng uống.”
Lễ ăn hỏi diễn ra vui vẻ và trang trọng. Hôm sau, trên quảng trường Chu Diên, thanh niên nam nữ tổ chức thi đấu đẩy gậy, kéo co, chọi gà để mừng Tiểu Huyện lệnh.
 
Trước ngày diễn ra lễ cưới, theo phong tục của bộ tộc Việt, đối với con cái của các vị tộc trưởng, hai họ phải tổ chức cho cặp vợ chồng tương lai một cuộc săn hổ, một cuộc thử thách khốc liệt đối với cặp trai tài gái giỏi.
Cuộc săn hổ diễn ra ở vùng núi Tam Sơn, huy động những thợ săn chuyên nghiệp và rất đông người hò hét để giúp sức. Đoàn người đi săn dùng chó để dồn đuổi, bố trí nhiều tốp người dùng não bạt, phèng la uy hiếp khiến cho hổ tháo chạy đến kiệt sức. Con hổ bị săn đuổi điên cuồng lồng lên, chạy khắp các ngả rừng tìm lối thoát, cuối cùng chạy theo con đường đã được mở sẵn, lao về phía Trắc và Sách đang mai phục.
Mãnh thú bị xua đuổi lao thẳng về phiá Sách. Đó là một con hổ xám to lớn, đôi mắt đỏ như hai cục than, hàm răng sắc nhọn nhe ra sẵn sàng xé nát kẻ thù. Nom con vật, hiển nhiên nó vẫn còn dư sức mạnh sau khi bị xua đuổi và đôi mắt đầy căm giận cháy đỏ như hai cục than.
Trắc thấy con vật lao về phía Sách như mũi tên bắn thì thực sự lo cho chàng. Trắc quyết định ám trợ bằng cách bắn một mũi tên trúng mắt hổ, trước khi Sách phóng vào ức con thú hai mũi lao sắc. Để tạo uy thế cho Thi Sách và tránh chạm vào lòng tự ái của chàng, Trắc cũng lén nhổ mũi tên để không ai nhìn thấy. Chuyện Sách giết hổ bằng hai mũi lao truyền khắp huyện Mê Linh và Chu Diên, có người nói chàng chính là ông Sơn tái thế.
Ngay sau đó đám cưới của Trắc và Sách được cử hành ở Mê Linh, vào buổi chiều tối, lúc mặt trời sắp lặn và mặt trăng sắp lên, lúc âm dương giao hoà, tượng trưng cho sự kết giao giữa trời và đất, cho sự xe duyên của vợ chồng.
Đám cưới Trắc là ngày hội của cả bộ tộc. Trước này cưới cả tuần, các vị tộc trưởng ở Mê Linh, dân chúng quanh vùng tuỳ theo hoàn cảnh, đã lũ lượt mang theo nào gạo, nào đậu xanh, nào gà, nào lợn, nải chuối, rỏ khoai… đến giúp bà Thiện tổ chức lễ cưới, thể hiện mối quan hệ gắn bó, tối lửa tắt đèn có nhau.
Khi mặt trời chìm xuống sau rặng núi nhọn như răng cưa ở phía Tây, đuốc lập tức được thắp sáng khắp tư dinh Lạc tướng Mê Linh. Người được rải từ bến sông vào đến chân cầu thang để chuẩn bị đón nhà trai đưa chàng rể đến.
Dẫn đầu đoàn đưa rể là huyện lệnh Thi và hai vị cao niên, tóc bạc râu bạc, như muốn nói chúc cặp vợ chồng mới sẽ bách niên giai lão. Tiếp sau là đám trẻ, trai có gái có, là cầu mong cho cặp vợ chồng con đàn cháu đống. Tiếp nữa là một đám thanh niên cường tráng, mỗi người mang trên đầu một buồng cau xanh mướt, xum xuê trái tròn và to, các thanh nữ cầm tay những bó hoa được tết rất đẹp. Sách đi sau đoàn mang lễ vật của nhà trai, có hai chàng trẻ tuổi đi theo phù trợ hai bên.
Bà Thiện đưa Trắc ra đón Huyện lệnh Thi và Sách.
Hai bên đường dẫn vào tư dinh Lạc tướng, nhà gái bầy một dẫy sạp dài, trên bầy la liệt những bó trầu lá to non, mới hái, toả ra mùi hương thơm cay, từ trên cao nhìn xuống như một đôi rồng xanh, thật thích mắt.
Sau khi đám thanh niên nam nữ Chu Diên lần lượt đặt những bó cau và hoa bên cạnh những bó trầu xanh, lui lại phía sau, nhường đường cho Sách bước lên, lập tức những ống nứa được đốt cho phát ra hàng loạt những tiếng nổ râm ran, tạo nên không khí hội hè.
Huyện lệnh Thi cầm tay Sách dắt lại trước bà Thiện, nói rằng từ nay, Sách sẽ là con bà, nhờ bà dạy bảo cho nên người. Bà Thiện cũng đưa Trắc đến trước huyện lệnh Thi, nói từ hôm nay Trắc sẽ là con gái ông, mong ông yêu quí, chăm sóc bảo ban. Để chính thức trở thành vợ chồng, Trắc trao cho Sách chiếc gậy làm bằng gỗ cây hồng hoang lấy từ đỉnh Nghĩa Sơn, tượng trưng cho quyền lực, Sách đeo cho Trắc một chiếc vòng được làm bằng vuốt hổ, tượng trưng cho sức mạnh chinh phục.
Làm xong các nghi thức cưới chồng, Trắc và Sách đứng ra đón khách. Trùm Lí là vị khách người nhà đầu tiên lên chúc mừng. Ông Trùm tặng Trắc một đôi chim nhạn, nói:
“Đôi chim nhạn này giống từ phương Bắc, có đôi cánh khỏe, bay được rất xa, suốt đời sống bên nhau, không bao giờ lìa đôi. Trùm Lí xin cung chúc nhị vị chung sống đến lúc đầu bạc răng long.”
Trắc nhận đôi chim, ngỏ lời cảm ơn ông Trùm, rồi bảo:
“Khách đến chúc mừng hôm nay có nhiều vị nữ kiệt, ông Trùm thay ta tiếp đãi chu đáo, lưu lại để ta được gặp, chuyện trò.”
Trùm Lí đáp:
“Trùm tôi đã gặp Lê Chân ở An Biên, Thánh Thiên và Thục Nương ở Bắc Đới… Các vị đều nhận lời lưu lại.”
Trắc hài lòng:
“Vậy thì tốt quá, ta trông cậy vào ông Trùm đấy.”
Tuy nhiên trong số các thực khách đến dự đám cưới hôm đó có một người để ria đen vểnh ngược, đôi mắt ti hí giảo quyệt trà trộn sau gánh gánh hát rong, gánh hát rất quen thuộc với mọi người, vào trong tư dinh Lạc tướng. Không ai để ý đến gã. Riêng Trùm Lí, nhìn thấy mặt hắn, cảm giác khó chịu, để ý theo dõi, nhưng không phát hiện được gì khả nghi.
Khi bữa tiệc vào cao trào, gánh hát rong kéo nhau xuống quảng trường, dựng đài diễn tích Truyền nhân của Gióng. Tích hát có câu:
Trưng Trắc, Thi Sách
nữ kiệt anh tài
ra tay giết hổ
gây dựng tương lai...
Tiệc vui ba ngày, theo tục lệ, Sách phải trở lại Chu Diên. Trắc tiễn chồng ra bến sông, nói:
“Duyên phận kết nối đôi ta thành vợ chồng, số phận đặt lên vai chúng ta những nghĩa vụ nặng nề. Trắc mong chàng không quên những lời ước hẹn.”
Rồi Trắc âu yếm ôm Sách vào lòng, quyến luyến không rời.
Đoàn thuyền đưa Sách trở lại Chu Diên, thực hiện việc tích luỹ lương thực, tuyển mộ trai tráng, luyện tập quân sự chờ thời cơ.
 tuongviet

Phần ba - LÃNG BẠC
 
I-
Nhờ có công giúp Quang Vũ Đế Lưu Tú đánh dẹp Ngỗi Hiệu, thu phục Long Tây, Viện được thăng lên chức Thái Trung Đại Phu, thống lĩnh đội quân bảo vệ Trường An. Được vài năm thì người Khương ở Long Tây lại nổi dậy, viên quan trấn thủ Long Tây không đủ sức đương đầu. Vua Hán cho triệu Viện vào Triều, phán rằng:
“Ái khanh lăn lộn ở Long Tây nhiều năm, hiểu người, hiểu việc ở đó. Nay ở Kim Thành Phá có loạn, viên Thái thú Long Tây là kẻ hữu dũng vô mưu, không đối phó nổi. Vậy trẫm phong cho khanh làm Quận thú Long Tây, hãy vì trẫm mà gắng sức.”
Viện vái lạy tạ ơn, rồi thu xếp đi Long Tây ngay.
Năm ấy Viện vừa tròn bốn mươi chín tuổi, ở quê là chuẩn bị lên lão, có thể hưởng thú điền viên. Nhưng Viện là một viên quan võ, lấy nghiệp binh đao làm kế sinh nhai, ưa dùng sức mạnh để sai khiến người khác, ngầm lấy công tích để mong áp đặt ý muốn của mình đối với hoàng đế, cuối cùng là để hưởng sự vinh thân phì gia. Cái nhục bá phụ Hà La mưu phản bị chém chết có gột rửa bao nhiêu cũng không sạch hết, vì thế Viện càng ham lập công tích. Viện nhận ấn kiếm trở lại Thiên Thuỷ với một lòng hăng hái chưa hề suy giảm.
Gặp lại Thiên Thuỷ, vẫn cảnh vật cũ, nhưng con người thì đã khác. Nhớ lại những ngày mới lên thảo nguyên, cùng ăn cùng ngủ với người Khương, học cách chăn ngựa, chăn cừu, bắt sói. Nếu không có người Khương, liệu Viện có được như hôm nay. Cả viên Đại tướng quân tự xưng Ngỗi Hiệu, suy cho cùng, với Viện, Hiệu đối đãi có khác gì anh em, cũng giống như Viện đối đãi với Thiết vậy. Nhưng Hiệu đã chết dưới tay Viện. Liệu người đời sau có cho Viện là kẻ sấp mặt, phản chủ? Nhưng Viện không sợ, lòng trung của Viện sáng như trăng rằm, chăm chỉ thờ vua. Lần này trở lại Long Tây, việc duy nhất của Viện là phải thu phục các bộ tộc người Nhung Khương, vì thế dù có phải tắm máu cũng phải làm. Chợt nhớ đến Thiết, tên đầy tớ trung thành, Viện mừng thầm vì đã nhìn xa, lo cho gã một chức quan nhỏ, để gã về quê phụng dưỡng cha mẹ.
Đến Thiên Thuỷ được ít lâu, Viện liền sai người đem thư và quà biếu gửi cho tất cả các thủ lĩnh người Khương. Viện dặn viên quận thừa:
“Nhà ngươi chuẩn bị quà biếu cho hậu hĩ vào, trong số mười mấy tên tộc trưởng có được năm bẩy đứa ngả theo ta là tốt rồi.”
Viên quận thừa nhìn chủ tướng vẫn chưa hiểu. Viện giảng giải:
“Chỉ cần năm bẩy viên tộc trưởng thuận theo ta, là ta có cơ hội khiến chúng phải tự nghi ngờ, đánh giết lẫn nhau, ngư ông đắc lợi, hiểu chưa?”
Đúng như Viện đã dự đoán, có năm viên tộc trưởng người Khương ngỏ ý bãi binh theo Viện, số còn lại kiên quyết chống đối. Mặc dù dầy dạn kinh nghiệm đánh nhau với người Khương, mặc dù đã thẳng tay đánh phá và tàn sát, nhưng phải mất sáu năm, Viện mới dẹp xong loạn Khương ở Long Tây, chẳng những thế còn bị trúng tên của người Khương hai lần ở đùi và ở bụng, chút nữa thì mất mạng.
Viện đánh tan các bộ lạc Khương ở Long Tây xong, gửi tấu biểu về triều báo công. Quang Vũ Đế phái một viên quan tâm phúc đem ý chỉ của Hoàng đế tới tận nơi trao cho Viện. Lời Quang Vũ Đế trang nghiêm lúc nào cũng văng vẳng bên tai Viện:
“Hoàng Đế Đại Hán vâng ý Hoàng Thiên làm chủ thiên hạ, không có vùng đất vùng biển nào dưới gầm trời này không là của Trẫm. Để cho đất đai của Trẫm bền mãi muôn đời, thì dân chúng phải một lòng trung thành với Trẫm. Dân chúng của Trẫm phải tinh con mắt phải thính lỗ tai mới nghe được lời Trẫm, mới đọc được chữ Trẫm. Nhiệm vụ của các ái khanh là làm sao cho ý nguyện của Trẫm ngày càng hiện thực, ngày càng phát triển, truyền mãi về sau.”
Đón ý chỉ của nhà vua, Viện nói với mệnh quan Triều đình, Viện sẵn sàng đợi lệnh, đưa quân mở rộng bờ cõi ra ngoài Tây Vực. Sau đó Viện cho chiếm những nơi đất tốt giao cho binh lính người Hán, những người làm nghề buôn bán hoặc các phạm nhân người Hán ở Trung Nguyên bị đầy đi Long Tây đến ở, khai phá. Việc làm của Viện được Quang Vũ Đế khen ngợi, cho gọi về triều thăng chức lên Hổ Phù Trung Lang Tướng, vào hàng cửu khanh.
Năm Viện được thăng chức, cũng là năm Tô Định được bổ làm Thái thú Giao Chỉ thay Tích Quang.
 
II-
Buổi sáng hôm đó bầu trời u ám khác thường, không khí trong công đường như đặc quánh lại, rất khó thở, khiến quan Thái thú họ Tô hay cáu gắt và bực tức. Tên lính hầu người ướt đẫm mồ hôi, ráng sức quạt lấy quạt để, vẫn không đủ gió cho Tô được mát. Viên quận thừa tìm cách lẻn ra ngoài hóng gió trời. Tô Định nguyền rủa cái khí hậu Giao Chỉ, đỏng đảnh chẳng khác gì con vợ già cứ phải chung sống, không thể bỏ phắt ngay được. Giá mà có thể cho bãi đường, về ngay tư dinh cởi truồng ngâm vào bồn tắm để mấy con hầu non kì cọ cho sướng cái đời.
Tô Định ngồi ghếch chân lên bàn, nhớ đến con đàn bà hát rong mà Tô đã cưỡng ép ở Mê Linh, bất giác thấy người nóng ran, khắp nơi như bị kiến cắn, bứt rứt khó chịu. Tô bắt lính treo màn, khiêng bồn tắm vào công đường, chọn mấy đứa hầu non vào phục vụ.
Lũ hầu gái cởi sạch áo xống, khiêng Tô đặt vào bồn nước mát lạnh. Tô lim dim mắt, để cho lũ gái non ve vuốt thân thể. Tay con gái sao mà mềm như nước, có thể luồn lách đến mọi ngõ ngách. Rõ hay! Sống trong đời cũng phải như nước, không biết ai đã nói, chân lí của người Trung Nguyên là ở bầu thì tròn, ở ống thì dài. Thời nào cũng phải làm quan, quan mới có quyền, mới có tiền, mới có gái. Thế chẳng quan bản vị thì là cái gì? Tô túm chân một con hầu gái, túm đầu một con hầu gái khác, bắt chúng nó nghịch nhau để nhìn. Gái non là một món ngon dùng để di dưỡng tinh thần và bổ dưỡng cơ thể.
Bất ngờ có thám báo xin vào, bẩm báo một việc cơ mật. Tô bảo cho gã thám báo vào, vẫn nằm trong bồn tắm, không dậy. Tên thám báo là gã có râu trê, cúi đầu không dám nhìn viên thái thú trần như nhộng trong bồn tắm, lắp bắp nói:
“Bẩm… bẩm Trắc Mê Linh đã cưới Sách Chu Diên, có âm mưu phản loạn.”
Tô Định vẫn nằm nguyên trong bồn tắm:
“Mày nói cái gì?”
Gã thám báo xun xoe:
“Bẩm quan Thái thú, Sách là con trai Thi, huyện lệnh Chu Diên đang ra sức chiêu binh mãi mã, tích trữ lương thảo, đóng thêm nhiều thuyền...”
Tô Định đủng đỉnh:
“Nói tiếp... thế bên Mê Linh động tĩnh thế nào?”
Tên thám báo ngập ngừng:
“Dạ bẩm, có vẻ yên tĩnh...”
Tô Định giọng kẻ cả:
“Bọn trẻ còn hoi sữa, lũ chó nhách. Ta sẽ bóp chết lúc nào ta muốn.  Thôi cho ngươi lui.”
Tuy vậy, từ sâu thẳm đáy lòng, Tô bắt đầu cảm thấy lo lắng. Tô quay sang đám hầu non, bảo chúng lau khô và mặc y phục vào cho gã. Sau đó gã cho người đi gọi viên đô uý thừa. Viên đô uý thừa lập cập tới trị sở. Tô Định nói ngay:
“Loạn Dâu vừa mới dẹp yên, lại có mầm mống khởi loạn ở Chu Diên. Ta phải bóp nát chúng ngay trong trứng nước.”
Viên đô uý thừa vốn sống ở Giao Chỉ nhiều năm, biết rõ chưa bao giờ dân chúng chịu cúi đầu vâng theo các quan cai trị dị tộc. Dân Thổ Trước ưa cuộc sống tự do, quen với lề lối sinh hoạt tộc họ, chưa có ý thức cộng đồng. Những vụ nổi dậy chống lại sự cai trị của các Thái thú chỉ là lẻ tẻ, sức mỏng manh, rất dễ bẻ gãy. Nếu các bộ tộc Giao Chỉ liên kết được với nhau thì e sẽ là đại hoạ. Gã đô uý thừa hé răng định thưa, nhưng lại ngậm miệng. Tô Định luôn tự coi mình thông minh tuyệt đỉnh, không muốn nghe ai. Viên Đô uý thừa cúi đầu như những viên quan trong triều cúi đầu chờ nghe ý chỉ của nhà vua.
Tô Định thay Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ, tuân theo ý chỉ của vua Hán, ban bố nhiều luật lệ hà khắc, tăng thêm các loại thuế má, khiến không chỉ dân chúng mà cả những quan lại cấp thấp người Việt bất mãn, chống lại. Trong lúc Trắc đang dần thay thế bà Thiện, chuẩn bị lực lượng nổi dậy, thì ở vùng Bích Động, viên tộc trưởng bộ tộc Dâu nổi dậy, chống nạn sưu cao thuế nặng.
Xét về sự từng trải trong binh nghiệp, Tô Định chỉ như đứa trẻ đang lẫm chẫm tập đi. Kinh nghiệm tổ chức cai trị ở những vùng như Quan ngoại, Lĩnh ngoại không có, vì thế khi bộ tộc Dâu nổi lên làm cho y hết sức lo lắng, lúng túng như gà mắc tóc. Đúng như viên Đô uý thừa đã nghĩ, do bộ tộc Dâu manh động, nổi dậy non, tổ chức chưa vững chắc, chưa liên kết được với các địa phương khác, nên Tô đã dễ dàng dẹp được.
Nhưng có một điều gã Đô uý thừa không biết, con gái của viên huyện lệnh ở Bích Động là Thánh Thiên, tự thấy các điều kiện duy trì cuộc khởi nghĩa chưa chín mùi, nên đã chủ động đưa lực lượng vào hoạt động bí mật.
Việc loạn Dâu dễ dàng bị bẻ gãy khiến Tô Định càng thêm  tự mãn, kiêu căng. Kéo quân từ Bắc Đới về Liên Lâu, Tô Định mở tiệc khao quân, các tướng lĩnh húm vào tâng bốc, khiến mũi gã càng nở bung như ngô rang. Tô nói, giọng ngẹt vì rượu:
“Ta cảm ơn các ngươi. Các ngươi lăn lộn ở Giao Chỉ nhiều năm, hiểu được phong tục tập quán của đám Nam Di, thuộc được đường đi lối lại của bọn chúng, đánh thắng chúng, các ngươi mới là những người đáng được xưng tụng nhất.”
Miệng tuy nói vậy, nhưng trong lòng Tô Định lại nghĩ, gã là một thiên tài quân sự.
Cái tin Sách Chu Diên chuẩn bị làm loạn khiến bay biến mất sự khoan khoái do nước mát, do da thịt mơm mởn của các cô hầu non mang lại, Tô cảm thấy cáu kỉnh, nóng bức. Quan Thái thú hỏi viên đô uý thừa:
“Quan đô uý có cao kiến gì chăng?”
Viên đô uý thừa khép nép:
“Hạ quan xin cúi đầu nghe Thái thú dạy bảo.”
Tô Định phán:
“Huyện lệnh Chu Diên là Thi đã già, lui về Tam Sơn ở ẩn, tu tiên theo đạo của Thái Thượng Lão Quân. Sách là con trai lên thay. Sách đã theo học sách Thánh hiền ở Liên Lâu, nhưng là học để phá. Vì thế từ lâu ta đã sai người thám sát thành Chu Diên, vẽ được bản đồ bố phòng của chúng. Binh pháp của chúng ta là tiên phát chế nhân, đánh địch trước khi địch đánh mình, là cách dùng dao mổ trâu cắt tiết gà. Theo phép Lục nhâm, chúng ta sẽ tiến binh vào ngày Tỵ, chia thành nhiều tốp rồi tập kết ở tây bắc Chu Diên, giờ Dần ngày Mùi sẽ tấn công...”
Tô Định dừng lại một chút, tự thưởng thức những điều mình vừa nói. Viên đô uý thừa vội phụ hoạ:
“Quan Thái thú nhìn xa trông rộng, liệu việc như thần, hạ quan vô cùng bái phục.”
Tô Định bật cười như nghé, rồi ghé vào tai viên đô uý thừa nói nhỏ những điều gì đó khá lâu.
 
III-
Rất lâu sau ngày cưới, do bận những công việc không thể xếp lại, mãi đến mùa thu Trắc mới đi Chu Diên thăm Sách được. Khi đó huyện lệnh Thi đã lui về ở ẩn tại Tam Sơn. Sách thay cha đứng đầu bộ tộc Chu Diên, tiếp tục các công việc mà cha để lại, đồng thời làm ngay những việc đã bàn với Trắc, tích trữ lương thảo, chiêu tập trai tráng luyện tập võ nghệ, đóng thêm chiến thuyền, chờ thời cơ đến sẽ dùng.
Hôm ấy, Sách đang ở ngoài xưởng đóng thuyền thì có người đến báo, Trắc vừa từ Mê Linh tới. Sách vui như mẹ về chợ, lòng rộn lên tựa hội Rằm tháng Giêng, vội dạo bước trở lại dinh.
Thời tiết giữa thu, lác đác những chiếc lá vàng được gió thả bay, loang loáng như những chấm nắng. Gió mát thổi từ dưới sông lên, nhẹ nhàng và nhởn nhơ, lang thang qua cánh đồng, uốn éo trên những vòm cây. Cái nóng hầm hập của nắng hạ dường như chưa bao giờ có, cái oi nồng của gió chướng dường như chưa bao giờ thổi qua đây. Ở Giao Chỉ này có mùa nào đẹp như mùa thu? Mùa xuân, những đoá hoa hồng mơn mởn, cánh hoa mỏng manh đẫm nước, nhưng mưa có khi thối đất thối trời. Còn mùa đông thì gió heo may và sương muối, cây trút lá, người chui vào bếp, có khác gì con chuột rúc vào hang, tự hun khói mình. Mùa hạ thì cả bầu trời là một bếp lửa khổng lồ. Chỉ có mùa thu.
Sách bước những bước dài lên cầu thang vào nhà. Trắc đứng dậy ra đón, ôm chầm lấy chàng, hôn tới tấp lên khuôn mặt sạm nắng gió của chàng. Rồi Trắc dừng lại, thở một lúc mới nói:
“Trắc nhớ Sách lắm, nhớ nhiều lắm.”
Sách đẩy Trắc ra xa một chút, bảo để ngắm xem, gương mặt Trắc thế nào, có bị nắng gió làm xấu đi không? Rồi Sách ôm lấy Trắc, nói:
“Sách cũng nhớ như Trắc.”
Cứ thế cặp vợ chồng trẻ vừa ôm nhau, vừa hôn, vừa nói những câu vô nghĩa. Lâu lắm Sách mới gỡ tay Trắc, nói:
“Hôm nay mười bốn, trăng sẽ tròn đầy, Sách sẽ đưa Trắc lên đồi Cườm uống rượu ngắm trăng, Trắc sẽ thấy thành Chu Diên như con chim phượng đang bay, thấy những cánh ruộng Chu Diên như những cánh đồng trăng vàng hươm. Còn dòng sông Cái sẽ giống như tấm lụa mịn màng buộc hờ lên cổ con chim phượng, gió đùa phấp phới.”
Trắc chợt khám phá thêm về tâm hồn Sách, thế giới nội tâm của chàng phong phú và giầu có biết bao, chứng tỏ chàng khao khát yêu đương biết nhường nào. Trắc nói:
“Được rồi, đêm nay chúng ta sẽ ngắm trăng trên đồi Cườm, chúng ta sẽ làm tất cả những gì chúng ta thích trên đồi Cườm. Còn bây giờ, Trắc muốn đi tắm, tiếc là mùa sen đã tàn rồi.”
Sách vẫn ôm chặt Trắc, nói:
“Sách suốt ngày ở ngoài công trường đóng tầu thuyền, bụi bậm đầy người, cũng muốn gột rửa sạch. Nán đợi đi Trắc, chúng ta cùng tắm. Sách sẽ đem cho Trắc một sự bất ngờ.”
Nói rồi, Sách cầm tay Trắc bước xuống chín bậc cầu thang, đi về phía nhà sau. Ngôi nhà lợp lá gồi, xung quanh lịa ván, nom xinh xắn và đẹp như một thứ đồ chơi cỡ lớn. Bước đến trước cánh cửa gỗ đóng kín, Sách bảo Trắc nhắm mắt lại. Cánh cửa khẽ kêu một cách gượng nhẹ. Rồi nghe tiếng Sách, bảo nàng mở mắt ra. Trắc mở mắt, thốt reo to vì bất ngờ. Đó là chiếc nhà tắm Sách làm riêng cho Trắc, bồn tắm đầy nước rắc kín hoa sen. Những cánh hoa hồng hào rung rinh theo ngọn gió ùa vào khi cửa mở. Trắc nói:
“Làm sao giữa thu rồi mà vẫn có hoa sen?”
Sách không giấu vẻ tự hào, đáp:
“Trắc ơi, nếu Trắc đến Chu Diên mùa đông, sẽ có hoa sen mùa đông. Trắc có tin không?”
Trắc không nghi ngờ gì, đáp:
“Trắc tin, vì tình yêu của chàng hoa sen sẽ nở cả bốn mùa.”
Xế chiều, Sách và Trắc đem theo mấy người hầu đi lên đồi Cườm. Đám người hầu trải chiếu, bầy tiệc rượu ngay trên cỏ, vừa bầy tiệc vừa hát. Tiếng hát nhẹ như tiếng sáo diều lơ lửng trên không, lan toả như gợn gió mặt hồ, gợi lên những ước mơ và khao khát.
Sách nói:
“Khi nào chúng ta có con, gái thì đặt tên Cườm, trai thì đặt tên Thu.”
Trắc hỏi:
“Sao lại đặt tên thế?”
Sách đáp:
“Cườm là đồi Cườm, tượng trưng cho sự sinh nở, cũng là Đất, tượng trưng là mẹ. Còn Thu, là mùa thu, mùa chúng ta yêu nhau, cũng tượng trưng là Trời.”
Trắc vỗ tay:
“Hay lắm, Trắc đồng ý, con gái thì đặt tên Cườm, con trai thì đặt tên Thu.”
Sách rót rượu ra hai chiếc li sành, một li đưa cho Trắc, mắt mơ màng:
“Chúng ta cùng cạn li rượu này, chúc cho mỗi lần yêu nhau đều như yêu lần đầu.”
Trắc cảm thấy lòng tràn ngập hạnh phúc, dốc cạn li rượu, nói:
“Sách hãy ngồi yên cho Trắc ngắm, Trắc có cảm giác như đêm nay là đêm cuối cùng của chúng ta, Trắc muốn Sách hãy hoà tan vào Trắc, chúng ta cùng hoà vào nhau, rồi cùng hoá thành làn gió rong chơi khắp thế gian này.”
Sách không muốn đêm nay là đêm cuối cùng, nhưng hiển nhiên Sách muốn cả hai hoà tan vào nhau, hoá thành không khí, thành làn gió mà rong chơi. Sách ôm lấy Trắc. Vào lúc đó trăng lên, soi sáng cặp vợ chồng trẻ đang yêu nhau nơi trần gian.
 
IV-
Sau khi ông Trùm về vùng cửa sông Lục Đầu, xứ Hải Đông tuyển được đủ số trai tráng để lập đội quân đặc biệt bèn đưa tất cả lên Lãng Bạc, tổ chức luyện tập, rồi bàn giao cho Nhị sử dụng. Như trên đã nói, Lãng Bạc nằm trên con đường thuỷ nối miền biển với trung tâm đất nước là Mê Linh. Vùng hồ này địa hình phức tạp, nếu cuộc chiến xẩy ra, ai khống chế được nó, người ấy sẽ nắm quyền chủ động. Đưa đội quân đặc biệt về Lãng Bạc, Nhị vừa đón đầu được phương hướng chiến lược vừa che được mắt của lực lượng chiếm đóng.
Hôm ấy, Nhị cùng Trùm Lí đi thăm cơ sở thuỷ quân được đóng trong một góc hồ kín đáo, nom xa như một xóm chài, nhưng khi tiến vào mới thấy kiểu đóng quân như trong một trại thuỷ binh tinh nhệ. Viên đội cỡ tuổi Trùm Lí, khoẻ mạnh và thạo việc, sau khi nhận được ám hiệu đã bơi thuyền ra đón Nhị và ông Trùm từ ngoài xa. Ông Trùm nói với Nhị:
“Thưa Nhị huyện lệnh, viên đội nguyên là một tay giang hồ vùng Lãng Bạc, do cảm ân uy của Lạc tướng mà tình nguyện đem toàn bộ thuỷ binh qui về chúng ta. Hiện họ vừa đánh bắt cá để tự nuôi sống, vừa luyện tập đánh độn thuỷ. Con đường vào căn cứ có nhiều chông và cọc ngầm, nếu không thuộc lối, không vào được.”
Nhị khen, bước đầu làm vậy là tốt.
Sau khi xem đội lính thuỷ thao diễn, Nhị nói với viên đội trưởng, nước sông vùng ta đục, những thứ giấu ở dưới khó bị phát hiện, việc đánh độn thuỷ cũng thuận lợi, nhưng thuyền quá nặng vì toàn đóng bằng gỗ, khó cơ động, nên học dân vùng cửa Hạc, hoặc vùng Hạ Đan, làm thuyền nan, nhẹ có thể khênh vác được, phù hợp với ta hơn.
Viên đội trưởng luôn miệng khen phải và hứa sẽ cho làm ngay.
 
Giờ Dần ngày Mùi mùa thu năm ấy.
Đội quân của Tô Định áp sát thành Chu Diên. Định nói với viên đô uý thừa, cho lính buộc vải vào chân ngựa, tháo chuông, lợi dụng bóng đêm chuẩn bị tập kích thành.
Thành Chu Diên nằm ở phía nam sông Cái, cũng nằm ở phía nam thành Liên Lâu. Về mặt địa lí, sông cái giống như một con hào thiên nhiên khổng lồ, án ngữ phía trước, về mặt phòng ngự thật lí tưởng, quân Hán muốn tiến đánh Chu Diên không thể không vượt qua sông Cái. Ngoài sông Cái như chiếc hào tự nhiên, quanh thành Chu Diên còn có con sông đào, gọi là sông Diên, nối với sông Cái để lấy nước, tạo nên thế trận phòng ngự chặt chẽ, vững chắc. Cổng thành Bắc và Nam được dựng bằng gỗ kiên cố. Cổng thành phía tây hướng lên Tam Sơn, đường đất được sửa chữa thường xuyên, giao thông đi lại thuận lợi. Cửa Đông hướng ra bến cảng, có đội thuyền chiến của Chu Diên khá hùng hậu. Các đội dân binh thay nhau canh gác rất nghiêm ngặt.
Gần đến giờ Dần ngày Mùi đó, bỗng nhiên xuất hiện một đoàn xe chở hàng bịt kín từ trong thành tiến ra cửa Nam. Viên quan hộ thành tiến ra chặn đoàn xe. Ông chủ đoàn xe từ trên chiếc xe cuối cùng nhẩy xuống, chạy vội lên trước. Ông chủ vội lên tiếng:
“Chào quan hộ thành, người quen đây mà, Khoan nhà buôn đây mà.”
Quan hộ thành nhìn vào bộ mặt có hàng ria vểnh, nhận ra gã lái buôn tên là Khoan mới đến lập nghiệp ở Chu Diên được mấy tuần trăng, thông qua người họ hàng làm quen với mình, bèn sởi lởi:
“Ông lái đi đâu sớm vậy?”
Lái buôn Khoan đảo mắt rất nhanh, nói:
“Tôi đưa hàng đi Cửu Chân, đường xa phải đi sớm cho kịp. Có chút quà gửi biếu quan hộ thành uống rượu.”
Quan hộ thành gạt túi tiền lái buôn Khoan đưa ra, bảo:
“Huyện lệnh chúng tôi cấm ngặt không được nhận quà biếu, ông lái hãy cất đi.”
Lái Khoan làm ra vẻ khó nghĩ:
“Tôi là lái buôn, đi buôn có lời. Quan hộ thành ăn lộc của dân, ba cọc ba đồng, lái buôn chỉ chia một chút lời cho quan, nếu quan không nhận thì, chúng tôi xin quay lại, đợi trời sáng.”
Quan hộ thành thấy khó xử. Quan đã mấy lần uống rượu với lái buôn Khoan, cũng đôi ba lần nhận quà biếu của gã, bèn nói:
“Lần này xuê xoa, ông lái cứ đi đi, lần sau thì dứt khoát không được.”
Nói rồi, quan hộ thành cho lính mở cổng.
Khi đoàn xe của lái Khoan đang đi qua cổng thành thì bất ngờ, như từ dưới đất hiện lên, đoàn kị binh Hán như một cơn lốc ập vào. Nhanh như chớp, gã lái buôn rút dao, đâm thẳng vào ngực quan hộ thành. Quan hộ thành tinh mắt tránh được, rút gươm bổ thẳng xuống đầu gã lái tên Khoan, thét to:
“Có giặc phản, có giặc phản!”
Lái buôn Khoan cũng không phải tay vừa, gã rút phắt con dao giấu trong bụng đưa lên gạt thanh gươm của quan hộ thành. Ngay lúc đó cửa thành tràn ngập lính Hán. Quan hộ thành buộc phải rút chạy.
Dùng mẹo, phá được cổng thành Nam, đại quân của Tô Định từ đó tiến vào, quân bảo vệ thành Chu Diên không sao cản được.
Sách nghe thấy tiếng huyên náo, rồi thấy cổng thành Nam bốc cháy thì biết có biến, vội mặc áo giáp cầm giáo nhẩy lên ngựa, chạy lên mặt thành. Quan hộ thành, sau khi chém hụt tên lái buôn, thúc lính liều chết chiến đấu, nhưng không giữ nổi, bị quân Hán đẩy lùi lên mạn bắc. Vừa thấy Sách lao lên mặt thành, viên quan hộ thành vội sụp lạy, xin chịu tội chết. Sách quát to:
“Hãy liều chết cản địch, lấy công chuộc tội!”
Viên quan hộ thành vội nhảy lên ngựa, múa gươm xông thẳng vào đám loạn quân. Sách đốc thúc đội dân binh chia các ngả đánh địch, điều đội cung tên chiếm điểm cao, chờ quân Hán đến gần mới bắn. Nhưng quân Hán nhiều như nước, cứ hết đợt này đến đợt khác dồn tới. Sách rút lên cao với đội quân cung nỏ. Lúc đó mặt trời đằng đông đã ngang đỉnh đầu, nhìn về hướng nam thấy quân Tô Định vẫn đang kéo tới. Sách đã hiểu sự tình. Tô Định tiến đánh Chu Diên theo hướng vu hồi, hướng Sách không ngờ tới. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn cả, là viên quan hộ thành đã sơ hở để cho Tô Định phá được cửa thành Nam. Cần phải có ngay quyết định. Sách sai người tập họp các bô lão, thay Sách đưa dân nhanh chóng thoát ra theo hướng Tây, lên vùng Tam Sơn, nơi cha Sách là Thi đang tu đạo, còn đội thuyền chiến thì bí mật rút về Mê Linh, để bảo toàn lực lượng.
Hai ngày sau, đội quân cảm tử của Sách bị quân Hán tiêu diệt. Sách bị thương và bị bắt đưa về Liên Lâu. Quân Hán được lệnh của Tô Định phải  giết sạch dân chúng Chu Diên, phá sạch thành Chu Diên. Nhưng dân chúng phần lớn đã thoát khỏi thành lên núi Tam Sơn, giữ được lực lượng, riêng thành Chu Diên thì bị san phẳng. Dù sao Sách cũng được an ủi phần nào, bọn Tô Định chưa phát hiện ra đầu não kháng chiến ở thành Mê Linh, mưu lớn của dân Việt vẫn được giấu kín.
Tô Định bắt Sách đưa về Liên Lâu, sai buộc tay chân Sách vào bốn con ngựa ở bốn hướng. Tô đến bên Sách, nói:
“Này Sách, ta biết nhà Hán đối đãi với ngươi không đến nỗi nào, sao ngươi lại âm mưu làm loạn?”
Sách bị buộc, nằm ngửa nhìn lên trời, thấy những cánh cò trắng bay ngang, thấy những áng mây bồng bềnh ung dung tự tại, nói:
“Chúng tao không làm loạn, chúng tao muốn đòi lại giang sơn của mình, để sống cuộc sống tự do của mình.”
Tô Định ngạo mạn cười:
“Tất cả dưới gầm trời này là của Hoàng đế nhà Hán. Nếu nhà ngươi thần phục nhà Hán, ta sẽ để lại mạng sống cho ngươi?”
Thi Sách cũng cả cười, nói:
“Tô Định, ngươi hãy nhớ lấy điều này, ngươi có thể cho ngựa xé xác ta làm bốn mảnh, nhưng ngươi không thể xé xác tất cả người Việt ở Lĩnh Ngoại, ngươi không bao giờ biến được giang sơn nhà Hùng thành đất của người Hán!”
Sau khi giết Sách, Tô Định cho cắt thủ cấp treo ở cửa thành Nam, phơi xác Sách ở cửa thành Bắc, đồng thời cho dán bố cáo khắp thành Luy Lâu, kể tội Sách nổi loạn chống lại triều đình. Dân chúng địa phương thấy cảnh ấy thẩy đều căm giận, nhiều người ngoảnh mặt đi, ngầm gạt nước mắt. Một buổi chiều gánh hát rong đi qua, tối hát tích Gióng. Sáng hôm sau thủ cấp và thi thể Sách không cánh mà bay.
 
V-
Tin dữ Sách bị Tô Định giết, thành Chu Diên bị san phẳng đến Mê Linh làm Trắc bàng hoàng. Trắc nhớ lại những lời đã nói với Sách trong đêm ở đồi Cườm, như một lời nói gở, bỗng thấy lòng đau như cắt, lại xát thêm muối. Sách mất là nỗi đau không gì hàn gắn được, nhưng đấy là nỗi đau của riêng Trắc. Việc thành Chu Diên bị phá báo hiệu một nguy cơ to lớn đối với sự nghiệp lâu dài của những bộ tộc Việt ở Giao Chỉ, ở Lĩnh Ngoại. Việc lớn nhất của Trắc lúc này là phải nén hoặc là giấu kín mối thù riêng để lo việc chung, phải làm sao che giấu tai mắt của Tô Định để chúng nghĩ rằng việc Sách chuẩn bị nổi dậy ở Chu Diên cũng chỉ là sự manh động, giống như cuộc nổi dậy của bộ tộc Dâu ở Bắc Đới. Phải làm cho chúng mất cảnh giác, rồi xuất kì bất ý mà đánh chúng mới mong giành thắng lợi. Ý lớn đã quyết, Trắc trở nên trầm tĩnh, lặng lẽ làm những việc phải làm.
Đêm được tin Sách bị giết, thành Chu Diên thất thủ, Nhì theo lời dặn của Trắc đang đi xem xét thành Ốc, vội đi ngày đi đêm về Mê Linh chịu tang cùng chị. Lúc đó Trắc xoã tóc, ngồi lặng lẽ một mình. Nhì bước đến bên, cầm tay chị, giọng nghẹn ngào:
“Chị ơi, em thương chị lắm. Từ nay, bất cứ việc gì, em cũng xin giúp chị một tay.”
Ngày trước, khi lâm chung, Lạc tướng giao lá tâm thư viết trên lụa cho Trắc, Nhì cũng chứng kiến, cùng nghe những lời di chúc của cha, lòng chỉ biết thương cha, còn gánh trách nhiệm thì Nhì dửng dưng lắm. Nhì thấy Trắc chú tâm vào việc nối nghiệp cha, tìm cách giành lại giang sơn nhà Hùng, vừa thấy khâm phục, vừa e ngại, xa lạ với bản tính yếu đuối và đa tình của mình. Sau cái chết của Sách, tâm tính của Nhì thay đổi hẳn. Nhì nhận ra sự cô đơn và lẻ loi của Trắc, Nhì tự thấy mình phải nâng đỡ chị, giúp đỡ chị.
Trắc nghe Nhì nói, nước mắt liền ứa ra, ôm lấy em gái, thổn thức:
“Em ơi, chị đau khổ lắm. Sách chết là do chị, là do chị.”
Nhì cũng khóc, cố nghĩ cách an ủi Trắc. Nhì nói:
“Chị nói vậy không phải, chị ơi. Sách chết là do Tô Định. Chị phải cứng rắn lên để nghĩ cách trả thù.”
Trắc gạt nước mắt:
“Em nói đúng, chị phải trả thù. Em phải giúp chị, em nhé.”
Đêm sau, có người của gánh hát rong từ Liên Lâu trở về, báo tin đã cướp lại được thủ cấp và thi thể của Sách đưa về Mê Linh. Trắc vội thay tang phục, sai người chuẩn bị thuyền đưa thủ cấp và thi thể chồng bí mật chôn bên kia sông Cái, để bọn tay chân của Tô định không hay biết.
Trùm Lí được Trắc giao cho chuẩn bị mọi việc. Ông Trùm đi thuyền nhỏ vượt sông qua bên hữu ngạn, đi sâu hơn vào trong, chọn một cánh rừng kín đáo tựa vào núi, hướng ra ngòi Khê để đặt huyệt mộ. Ông cũng cho mua sẵn quan tài gỗ, nấu sẵn nước lá thơm để tắm rửa và khâm liệm. Gần sáng thì đoàn thuyền chở Trắc đưa thi thể Sách tới nơi. Thủ cấp và thân thể Sách do hai nhóm người bí mật lấy từ hai nơi, cửa Nam và cửa Bắc thành Liên Lâu, rồi cấp tốc đưa về Mê Linh, vì thế không khỏi có sự luộm thuộm, thiếu chu đáo.
Ông Trùm tự tay mở hai chiếc bao chứa đầy chè khô, cất giấu thủ cấp và phần thi thể Sách, lạ thay vẫn vẹn nguyên, không hề thối rữa. Ông Trùm vừa tắm rửa cho Sách vừa nói:
“Người này sống khôn chết thiêng, sẽ phù hộ cho Trắc và các bộ tộc theo bà.”
Trắc đứng nhìn khuôn mặt chồng lần cuối, rồi cho mai táng, nước mắt lặn vào trong. Trời chưa sáng rõ, mọi việc mai táng đã xong xuôi, đoàn thuyền lần lượt trở về Mê Linh.
Sau lễ cúng năm mươi ngày cho Sách, Trắc bí mật liên lạc với Lạc tướng Chu Diên đang tu tiên ở Tam Sơn, với Thánh Thiên ở Bắc Đới, với Lê Chân ở An Biên (mới) rồi cùng bà Thiện, Nhì, ông Trùm, Năng Tế, Đô Dương họp với nhau trên sông Cái để bàn công việc.
Y hẹn, mọi người cải trang như khách đi đò dọc, lần lượt xuống thuyền, giong buồm ngược lên theo hướng thượng nguồn. Sau cái chết của Sách, mọi người đều cảm thấy buồn, chen chút lo lắng. Lạc tướng Thi tóc đã bạc phơ, có lẽ do lui về Tam Sơn ở ẩn, tu đạo xa lánh cõi đời, nên gương mặt có vẻ thoát tục. Bà Thiện vừa thương con rể, vừa xót con gái vẻ mặt u trầm, già trước tuổi. Nhì cùng Năng Tế, Đô Dương rì rầm chuyện trò với Thánh Thiên và Lê Chân, vẻ sốt ruột chờ đợi. Ông Trùm bây giờ giống như quân sư của Trắc, nhíu mày suy tính. Con thuyền giương buồm lựa gió băng ra giữa sông, ngược giòng lên vùng Ao Châu.
Ao Châu là một vùng đồng rộng, hình thế phức tạp, có chín mươi chín ngách, bọn quan lại ở Liên Lâu không sao nắm hết được. Ngày xưa Tổ Hùng chọn nơi đứng chân, đã đi lại Ao Châu nhiều lần, cuối cùng nghĩ đến sự phát triển lâu dài của các bộ tộc, cương thổ cần phải mở rộng, cũng cần phải thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán, trao đổi văn hoá nên mới chọn đất nơi Ngã Ba Hạc, để rồi đến những đời sau này rời xuống Mê Linh.
Đoàn thuyền của Trắc tiến vào Ao Châu, dọc đường có thêm nhiều vị anh hùng hào kiệt miền trung thượng du nhập đội, theo hướng dẫn của Trùm Lí chọn nơi kín đáo cắm sào.
Trắc lựa lời nói:
“Do đề phòng không hết, Sách đã bị Tô Định đánh úp. Sách bị giết hại dã man, lực lượng của chúng ta bị tổn thất không nhỏ. Để tổ chức lại lực lượng, để bảo đảm cho nghiệp lớn khôi phục giang sơn nhà Hùng, Trắc xin đề nghị Lạc tướng Chu Diên chủ trì đại sự.”
Lạc tướng Thi từ tốn:
“Tôi đi từ Tam Sơn về Chu Diên Thượng, qua Chu Diên Hạ thấy trẻ con ở đâu cũng hát:
Trưng Trắc nữ kiệt
khôi phục giang sơn...
Câu hát ấy có khác gì lời sấm, đó chẳng phải là ý trời hay sao. Vả lại, tôi đã nghe Trắc nói, đã xem Trắc làm, thấy đáng làm thủ lĩnh của tất cả chúng ta. Phần tôi nay đã già, sức vóc không thể theo được, chỉ xin trông nom đội quân lương thảo, canh giữ hậu phương.”
Nghe vậy thì thấy lạc tướng Thi đâu phải người thoát tục, mà là người tinh đời, biết rõ thời thế. Lời ông cũng hợp lòng bà Thiện. Nhưng là mẹ, vun vào cho con không tiện, bà quay sang hỏi ông Trùm:
“Ngày trước ông Trùm theo Lạc tướng Mê Linh, bôn ba khắp miền Lĩnh Ngoại, qua Lĩnh Nam, đến tận Trường Sa Quốc, kiến văn quảng bác. Ông Trùm có cao kiến gì trong việc này, hãy nói cho chúng ta nghe.”
Ông Trùm cung kính thưa:
“Tôi may được theo chân Lạc tướng, lại được bà Thiện tin cậy, vào lúc việc trọng không thể ngậm miệng như thóc, xin có lời gan ruột thưa cùng các vị lạc tướng và chư vị tướng quân.”
Trùm Lí đúng là người kiến văn quảng bác, lại được dùng như một mưu sĩ, như một quân sư, lại quen nói thẳng ý mình, nên được bà Thiện cũng như Trắc đều quí.
Ông Trùm nói:
“Trước khi mất, Lạc tướng Mê Linh đã có ý trao việc lớn vào tay tiểu thư Trắc. Khi tiểu thư Trắc bước vào tuổi trưởng thành, bà Thiện đã chẳng ngần ngại đưa tiểu thư tham chính, điều hành mọi việc. Hai nhà Mê Linh, Chu Diên kết thông gia với nhau, Lạc tướng Thi cũng tin tưởng giao quyền cho cặp vợ chồng trẻ, lui về Tam Sơn. Nay dù Sách không còn, nhưng tiểu thư Trắc đã tổ chức được mạng lưới tình báo rộng lớn, liên kết được với các nữ tướng từ miền sơn cước đến vùng đồng bằng đông dân, uy danh tiểu thư trùm khắp Lĩnh Nam, Lĩnh Ngoại. Khi tình hình chín muồi, Trùm tôi tin, Trắc chỉ hô một tiếng, tất cả sẽ đồng lòng đứng lên.”
Mọi người nghe Trùm Lí nói thật thấu tình đạt lí, ai cũng gật gù khen đúng. Lạc tướng Chu Diên long trọng:
“Tôi nghĩ Lạc tướng phu nhân cũng nghĩ như tôi, chúng ta xin nhờ Trắc gánh vác trọng trách khôi phục giang sơn nhà Hùng. Và từ nay, theo tục lệ của chúng ta, chúng ta xin gọi nữ chủ tướng là Trưng Trắc.”
Các vị nữ tướng Lê Chân, Thánh Thiên; các tướng Năng Tế, Đô Dương cũng như các vị tộc trưởng miền trung thượng du đều nhất loạt tán thành.
Trắc thấy mọi người đều tin tưởng, suy tôn mình làm chủ tướng bèn vái tạ, rồi nói:
“Chúng ta bị mất lực lượng ở Chu Diên, nhưng trên toàn cõi lực lượng vẫn nguyên vẹn và vẫn che được mắt Tô Định. Việc Tô Định ra tay sớm cũng bộc lộ một điều, chúng coi Chu Diên là đầu não của cuộc kháng chiến tương lai, và với một trận đánh đã thắng có thể khiến chúng chủ quan. Ta sẽ tận dụng điều này...”
Mọi người đều cho Trắc nói phải, gật đầu đồng tình. Trùm Lí nói thay mọi người :
“Nữ chủ tướng cao kiến.”
Trắc nói:
“Từ nay đầu não chỉ huy sẽ đặt tại Mê Linh. Mọi việc chuẩn bị phải hết sức kín đáo, làm sao để bọn Tô Định tin rằng hạt nhân của cuộc chống đối đã bị bóc lấy rồi.”
Các tướng sĩ chăm chú lắng nghe. Trắc tiếp:
“Ngay đêm nay các tướng Đô Dương phải đi Cửu Chân chắp mối liên lạc, mời các thủ lĩnh về Mê Linh lập hội thề, ước hẹn ngày khởi nghĩa.”
Sau đó, mọi người lần lượt rời khỏi Ao Châu trở về đất bản bộ, âm thầm chuẩn bị, chờ ngày hội quân.
 
VI-
Sau khi phá được thành Chu Diên, bắt Sách về Liên Lâu chém đầu thị chúng, Tô Định mở tiệc khao quân rõ to, rượu thịt ê hề. Các quận thú Nam Hải, Quế Lâm, Hợp Phố, Cửu Chân đều đến hoặc cử người thay mặt đến chúc mừng. Nhân đà rượu say, Tô Định vỗ ngực nói:
“Ông nội hạ quan là Trung lang tướng Tô Vũ đi sứ Hung Nô, bị vua Hung Nô là Thiền Vu bắt đầy lên Bắc Hải chăn dê những mười chín năm, không chịu chết, được tiếng là trung thành với Hán đế, sau do nhà Hán đòi gắt, vua Hung Nô mới trả, cho mang tấm thân già về Trung Nguyên, xét cho cùng thì cũng thật đáng hổ thẹn. Nay Tô Định vâng chiếu nhà vua đi trấn thủ Lĩnh ngoại, làm cho dân Nam Di răm rắp tuân lệnh, những kẻ phản loạn đều bị trừng trị thẳng cánh, trộm nghĩ đó mới là khí chất họ Tô.”
Các vị đồng liêu cùng ngà ngà say, vỗ tay nói to:
“Quận thú mới chính là tinh hoa giòng tộc. Mừng Tô tộc xuất danh anh hùng.”
Năm ấy, có nạn châu chấu, cả Giao Chỉ mất mùa, nhưng Tô Định không giảm cống nạp và thuế má. Tô sức cho các địa phương, từ rày thay việc thu thuế hoa lợi bằng thuế đánh vào đầu người. Cụ thể như sau, trẻ em từ bẩy đến mười bốn tuổi phải nộp tiền hai mươi ba đồng mỗi năm, dân từ mười lăm đến năm mươi sáu tuổi phải nộp tiền một trăm hai mươi đồng. Cùng với việc đóng thuế năm, trai tráng còn phải phục dịch việc binh mỗi năm một tháng, nếu muốn được miễn thì phải nộp tiền ba ngàn đồng…
Bị bóc lột đến tận xương tuỷ, người dân không đủ ăn, chết đói la liệt ven đường, góc chợ. Giao Chỉ vốn là quận giầu nhất cõi Lĩnh Nam và Lĩnh Ngoại mà còn đói chết người, thì những quận khác cũng chẳng hơn gì. Các bộ tộc Việt cũng như dân Thổ Trước đều căm giận quan cai trị. Khắp nơi lan truyền những câu ca phản kháng. Trẻ con thay nhau hát:
Lũ châu chấu giặc trời
cướp lúa ngô, dân đói
thêm một lũ giặc người
nhắm dân Việt tàn hại,
Này giặc trời, giặc người
quyết cùng bay sống mái!
Những lời ca đó đến tai Tô Định. Tô cả cười bảo, chuyện trẻ con, không chấp. Trong khi đó, tình hình Giao Chỉ nóng lên từng ngày, đêm đêm khắp các chiềng chạ, dân chúng tụ tập bàn tán về những chuyện kì lạ mới xẩy ra. Chuyện rừng phương bắc bùng cháy dữ dội khi đang mưa rào. Chuyện cọp dữ xuất hiện ở thành Liên Lâu giữa ban ngày, ngang nhiên bắt đi một viên quan người Hán. Chuyện những lá cây đa ở gần thành Ốc được viết hai chữ Vua Bà, sáng rực dưới ánh trăng.
Sau cuộc gặp với Trắc, Lạc tướng Thi cùng các vị đứng đầu các bộ tộc trong đàm Ao Châu, theo lệnh Trắc, Đô Dương được cử đi Cửu Chân liên lạc với các đầu lĩnh, qua đất Lão tìm mua voi, tổ chức một đội quân cưỡi voi, ẩn kín ở miền tây chờ đợi lệnh. Đội thuyền chiến do Sách tổ chức, huấn luyện trước đó được giao cho tướng Lê Chân trông coi, đóng giả như dân chài, tụ tập xung quanh cửa sông Diên, khi có động thì sẵn sàng tham chiến.
Trở về Mê Linh, Trắc giao cho Trùm Lí nhanh chóng soạn thảo một thông tri, cho người bí mật đem đi các địa phương, báo cho các tộc trưởng, các già làng biết kết quả cuộc họp mặt ở Ao Châu, đồng thời thu thập tin tức quân tướng Tô Định ở Giao Chỉ để chuẩn bị Hội thề sẽ họp vào dịp Rằm tháng Tám năm 39, ở cửa sông Diên.
Đầu tháng tám, Trắc đem theo mấy người tâm phúc cưỡi thuyền đi xem xét cửa sông Diên. Cửa sông rộng, đón nước từ sông Cái vào, sóng không lớn, cả hai bên tả và hữu ngạn đều mọc đầy lau sậy, có thể tập kết và cất giấu hàng ngàn chiến thuyền. Từ cửa sông Diên, có thể dùng thuyền đi tới thành Ốc, đi tới Liên Lâu, đi lên Bắc Đới, đi Hải Đông, đi An Biên ra biển. Đó quả là một địa điểm lí tưởng có thể để hội quân.
Chớp mắt đã đến ngày mở Hội thề sông Diên.
Để giữ bí mật, các vị tộc trưởng, các đầu lĩnh đều cải trang đi thuyền đến điểm hẹn, được Trùm Lí đón tiếp rồi chuyển sang một thuyền lớn, gặp Trắc. Cuộc hội ngộ Rằm tháng tám năm 39 cùng Trắc ngoài những tướng lĩnh quen thuộc còn có các vị sau: Chàng Hối ở miền Hải Đông, Thánh Thiên ở Bắc Đới, Ả Lã ở Chu Diên, Bát Nàn ở Bạch Hạc, Mã Châu ở Phủ Lí, Đạm Nương ở Bình Xuyên, Lê Chân ở An Biên, mụ Lựu ở đất Lão… Đó đều là những nữ tướng kiệt xuất.
Trắc gặp gỡ từng người, tìm hiểu thân phận và công việc chuẩn bị lực lượng, giúp họ bổ sung những khiếm khuyết, phương thức hành động. Sau đó tất cả cắt máu ăn thề.
Hội thề sông Diên qui định vào ngày 4 tháng chín sẽ Hội quân ở cửa sông Diên. Qui định tín hiệu liên lạc là đốt ba đống lửa.
 
VII-
Trắc cho vời Trùm Lí lại, nói cần soạn một bài Hịch văn để bố cáo với Trời Đất, để khích lệ lòng hăng say của dân chúng trong ngày Hội quân. Trùm Lí viết rồi trình lên Trắc.Trắc bảo Trùm Lí đọc cho nghe, sửa đi sửa lại một số chỗ. Bài Hịch văn ấy như sau:
“Từ thủa hỗn mang chưa phân rõ Trời Đất đã có Đạo. Đạo là chỗ dựa của muôn lí lẽ. Đạo là cái lí của muôn vạn vật. Trời có được nó nên cao. Đất có được nó nên có sức chứa đựng. Mặt trời có được nó nên ánh sáng của nó vĩnh viễn. Các ngôi sao có được nó nên đường đi của nó đúng đắn. Người ta bắt đầu bằng sự ra đời và chấm dứt bằng cái chết. Lấy thân mà xét thân, lấy nhà mà xét nhà, lấy làng mà xét làng, lấy nước mà xét nước, lấy thiên hạ mà xét thiên hạ. Ta biết thiên hạ như thế là nhờ cái Đạo.”
“Tô Định là người dị tộc, chỉ vâng theo điều ham muốn, đấy là tội lớn không gì bằng, lòng tham vô đáy, không biết tự cho là đủ, đấy là hoạ lớn không tránh khỏi, nên là kẻ vô Đạo. Kẻ vô Đạo khiến bách tính oán ghét, như lửa đổ thêm dầu, sẽ bị thiêu đốt mà diệt vong.”
“Thiên trường địa cửu. Trời Đất sinh ra, tồn tại không phải vì mình mà vì vạn vật nên tồn tại dài lâu. Vạn vật sinh sôi nẩy nở là sự minh chứng hiển nhiên cho sự trường tồn của Trời Đất. Trưng Trắc ta noi theo Trời Đất, nguyện quên mình vì giang sơn gấm vóc, vì các bộ tộc trường tồn, xin đưa thân ra trước rừng gươm, mưa đạn, quyết trừ quân vô Đạo, giành lại giang sơn cho các bộ tộc, trả lại cuộc sống cho đời đời con cháu.”
“Các tướng sĩ, chúng ta quên mình thì chúng ta có Đạo, chúng ta hi sinh thì Trời Đất trường tồn. Nào, tất cả hãy xông lên trước. Chúng ta đánh trận này, tất thắng.”
 
Mùng bốn tháng Chín, Trắc hội quân ở cửa sông Diên.
Thuyền chiến tụ về, nhiều như lá tre. Trên bờ các đội tượng binh, kị binh rừng rực khí thế, có thể rời non lấp biển. Lính bộ binh đông như kiến cỏ. Trắc đứng trên đài cao đọc Hịch văn. Binh sĩ nghe Hịch văn, lòng vô cùng phấn khích, đồng lòng hô vang ba lần:
“Trưng Trắc muôn năm!”
“Trưng Trắc muôn năm!”
“Trưng Trắc muôn năm!”
Đáp lại lời tung hô, Trắc ra lệnh tiến quân về Liên Lâu theo hai ngả lớn đường sông và đường bộ.
Tin tức Trắc dựng cờ khởi nghĩa truyền tới Tô Định, giữa lúc gã đang ôm gái, uống rượu. Nghe nói có một đám toàn đàn bà con gái nổi lên ở Mê Linh, Tô Định lấy làm kì, nửa tin nửa ngờ. Tô cười ha hả, nói:
“Một đám đàn bà con gái chỉ có thể làm đệm thịt cho chúng ta, đánh nhau với chúng ta sao nổi! Ta cho các người biết, mùa xuân tới ta sẽ bắt chúng về làm tì thiếp. Ha ha.”
 
VIII-
          Trước lúc tiến quân, Trắc bảo Trùm Lí bói một quẻ xem thử cát hung. Lần này Trùm Lí không lên chùa Khải nhờ sư Tát Đạt, mà quyết định bói theo cách của người Việt, bói gà. Thầy bói là một già làng trên Tam Sơn, một người rất ái mộ Lạc tướng Thi. Thầy bói bắt một con gà trống tơ, chưa một lần đạp mái, vặt sạch lông đầu và cổ rồi đem nướng trên than hồng. Mọi người chăm chú theo dõi, hồi hộp chờ đợi. Chừng dập bã trầu, thầy bói đem chiếc đầu cổ gà ra trình trước Trắc. Trùm Lí bảo:
          “Nào, thầy hãy đoán cát hung cho chủ tướng ta nghe.”
          Lúc này mọi người mới nhìn kĩ gương mặt thầy bói. Một gương mặt đầy những nếp nhăn điển hình của những người quanh năm sống nơi rừng thẳm núi cao. Tên gương mặt ấy là một đôi lông mày rậm trắng xoá. Mái tóc thầy bói cũng trắng xoá, xoã kín hai vai.
          Thầy bói ngắm nghía chiếc đầu gà rất lâu rồi mới lên tiếng. Thầy đoán:
          “Bẩm chủ tướng, trước hết, nhìn toàn cảnh thì chiếc đầu và cổ gà này thẳng thớm, không bị vặn vẹo, cong queo, có thể thấy sự nghiệp lớn mà chủ tướng sắp thực hiện sẽ thành công viên mãn. Nhìn suốt từ đầu xuống cổ không một vết nứt, lành nguyên. Điều đó báo rằng, những người chủ chốt tay chân của chủ tướng cũng không ai bị sứt mẻ, đều giành thắng lợi. Tóm lại, đó là điềm lành, có trời ngầm ám trợ, sẽ thành công.”
          Trắc bảo Trùm Lí cảm ơn thầy bói, rồi ra lệnh bí mật tiến quân theo cách đã định.
Cánh quân tiến theo đường bộ do Trắc chỉ huy, có đội cung nỏ của Măng, các đội tượng binh của Đô Dương, các đội thân binh của Thánh Thiên và kị binh của tướng Năng Tế, vòng tránh toà đô uý trị cũ Mê Linh, bí mật áp sát Liên Lâu.
Cánh quân tiến theo đường thuỷ do Trưng Nhì và Lê Chân chỉ huy, để lại một bộ phận có nhiệm vụ bao vây và nhanh chóng tiêu diệt quân đồn trú của Tô Định ở thành Mê Linh, còn đại bộ phận tiến theo sông Vàng, qua thành Ốc hướng về Liên Lâu hợp với cánh quân bộ của Trắc. Đồng thời ước lệnh với các địa phương, khi thấy ba đống lửa cháy trên núi Thiên Thai, thì tất cả đều phải đốt lửa truyền tin cho nhau tiến đánh các nơi có quân Tô Định đồn trú, giành lấy chính quyền.
Hai cánh quân của Trắc và Nhì, đêm đi ngày ẩn, đúng đêm ba mươi Tết thì bao vây chặt Liên Lâu, Tô Định có mắt như mù, có tai như điếc.
Mùa xuân năm 40, Tô Định sức lệnh bắt dân Liên Lâu treo đèn kết hoa như dân Trung Nguyên và mở cổng thành cho mọi người tự do đi thăm thú cảnh đẹp và họ hàng thân thích. Lợi dụng tình hình đó, Trưng Trắc cho chọn những binh sĩ khoẻ mạnh, dũng cảm, cải trang lọt vào thành, lót ổ, hẹn nửa đêm ba mươi Tết thì trong đánh ra, ngoài đánh vào, quyết tâm diệt thành Liên Lâu, bắt sống Tô Định.
Buổi chiều ba mươi Tết, gánh hát rong sau vụ Nhài bị bắt cóc, được giao cho Ả Lan chỉ huy, ung dung tiến vào thành, chắp nối tin tức, ghi nhớ tình hình bố phòng của Tô Định rồi cử người ra ngoài báo tin cho Trắc. Nắm được tình hình, Trắc họp các tướng, quyết định rạng sáng ngày một Tết sẽ tấn công.
Trắc nói:
“Phép dụng binh dạy, hãy đánh vào lúc kẻ địch không ngờ nhất. Theo điều tra của Ả Lan, quân Tô Định rất chủ quan và chểnh mảng. Đây là thời cơ báo thù nhà, đền nợ nước, các tướng sĩ phải muôn người như một, thấy lửa hiệu cháy trên thành là xông vào ngay, không để cho Tô Định kịp trở tay.”
Vào khoảng sau giờ sửu ngày hôm đó, trên thành Liên Lâu vụt bốc lên ba đống lửa lớn ở ba góc thành. Sau đó trên đỉnh Thiên Thai có ba đống lửa lớn được đốt lên. Tiếp theo, ở những quả núi lân cận, lửa thi nhau cháy, lan khắp Giao Chỉ, Cửu Chân và Hợp Phố, kéo dài vô tận.
Theo kế hoạch của Trắc, đạo quân của Thánh Thiên tiến đánh Liên Lâu từ mạn Bắc, Lê Chân và Năng Tế từ mạn Đông, Bát Nàn, Nguyệt Thai và Nguyệt Độ từ mạn Nam. Đạo quân chủ lực do Trắc chỉ huy tiến từ mạn Tây. Khi thấy lửa cháy trên thành Liên Lâu, bốn phía thành tiếng trống đồng nổi lên vang rền như sấm, tiếng quân hò reo rung chuyển trời đất. Trong ánh lửa sáng như ban ngày của các đám cháy, Trắc và Nhì cùng cưỡi voi trắng đi đầu đoàn quân xông lên. Tiếng trống đồng thúc quân, tiếng voi rống, tiếng ngựa hí, tiếng binh sĩ reo hò khiến quân Tô Định thất kinh, rụng rời ngỡ như trời sập, đất sụp, không còn sức chống đỡ.
Đội quân nội ứng do Ả Lan chỉ huy lọt vào thành, sau khi bí mật tập kích, chiếm được các chòi canh của quân Tô, bèn nổi lửa báo hiệu, rồi đánh phá cửa thành.
Thấy lửa hiệu, Trắc lệnh cho Đô Dương thúc voi xông lên trước với toan tính, sự xuất hiện của đoàn voi chiến sẽ làm cho đám quân của Tô Định kinh hoàng.
Quả nhiên, những chú voi chiến lừng lững tiến lên đã khiến đội quân kị của họ Tô co rúm lại như loài ếch gặp rắn. Những chú voi vươn vòi cuốn những tay kiếm trên lưng ngựa, quật xuống đất, hoặc lôi tuột xuống rồi lấy chân giẫm lên. Những tiếng rú, tiếng thét làm rụng rời tay chân những kẻ yếu bóng vía.
Sự chống cự của quân Hán lập tức bị bẻ gẫy. Cổng thành bị voi phá đổ. Quân của Trắc tràn vào như nước lũ. Đại quân của Trắc nhân đà xông lên, thế như thác đổ không gì có thể cản được. Đến trưa ngày mồng một Tết thì Trắc làm chủ Liên Lâu, phần lớn quân tướng của Tô Định đều bị các nữ binh bắt sống hoặc qui hàng. Riêng không thấy Tô Định trong đám tù binh và hàng binh.
Lại nói Tô Định đêm ấy. Tô vừa cất công tìm kiếm mua được một con bé người Lê ở tận Chu Nhai. Con bé trắng muốt như hoa lê, mềm mại như sứa, thơm ngát như cơm nếp mới đồ chín. Tô nghĩ có cách gì mới để thưởng thức con bé. Tô vì ăn chơi vô độ, hoang dâm cực kì nên yếu cái khoản kia. Gã nhớ đến hình ảnh con dê đực, buổi sáng đứng chực trước cửa chuồng, có bao nhiêu con dê cái đều thưởng lãm hết. Con dê đực ăn cái gì mà khoẻ vậy? Gã đã sai một tên chuyên dắt gái cho gã để tâm theo dõi, xem con dê đực lên núi tìm ăn loại cỏ gì, hái đem về cho gã xem. Sau một thời gian, gã nọ đem về trình Tô món mà quan Thái thú cần. Hoá ra đó là một thứ lá cây, tròn và cứng. Gã bỏ vào miệng nhai, rồi nuốt cả nước lẫn cái, chỉ trong một tuần trăng thấy người cứ cuộn sôi sùng sục, trông thấy đàn bà con gái là chỉ muốn ngấu nghiến, nuốt chửng.
Gã để công nghiên cứu chó đực và chó cái lẹo nhau, gã vẽ một bức tranh, mô tả con chó đực là gã. Bây giờ gã sẽ thử với con bé người Lê này. Gã đặt cái tên mỹ miều cho động tác ấy là cẩu sực nữ, chó ăn người.
Đúng lúc gã định làm cái động tác chó ăn người, thì có lính cấp báo, quân Nam di đã đánh vào Liên Lâu. Tô nhổm dậy, nhìn ra cửa sổ thấy khắp thành ngọn lửa bốc cao. Tả hữu của Tô không còn một mống, y như bị một cơn lốc cuốn đi đâu mất.
Hồn vía Tô Định phút chốc rã nát như một chiếc mảng bị mối mọt đục. Tô không hiểu thành Luy Lâu đầy nhóc quân sĩ, bố phòng cẩn mật, vũ khí tối tân lại có thể sụp đổ một cách nhanh chóng đến như vậy. Tuy nhiên Tô lại hiểu rất nhanh rằng, nếu để lọt vào tay đám Nam di, thì tất cả đi đứt hết, cả danh vọng, cả tiền bạc mà Tô tích cóp gửi về Bắc, kể cả đám đàn bà, tất tật.
Con đàn bà người Lê ở Chu Nhai vẫn trần như nhộng nằm ngửa trên giường, không hề biết biến cố lớn đang đến. Tô định lúc đó chẳng còn tâm trí nào mà thưởng lãm cái non tơ, cái trong trẻo, sự trinh nguyên của nó nữa. Gã vơ lấy quần áo của con đàn bà, mặc bừa vào người, theo cửa hậu, chui tọt ra ngoài.
Đội tàn quân của Tô Định bỏ Liên Lâu tháo chạy theo đường sông Lục Đầu, khi qua Lãng Bạc bị đội quân thuỷ của Nhị đánh chìm nhiều thuyền. Bắt nhiều tù binh, nhưng không thấy Tô. Mãi sau này người ta mới phát hiện ra, trong cơn nguy biến Tô đã cải trang thành nữ nhân, cướp một chiếc thuyền nan, giả làm thuyền chài nên đi lọt.
Trắc tiến vào Liên Lâu, dân chúng đổ hết ra đường đón mừng. Tin thắng trận từ Bắc Đới, từ Mi Thử, từ An Biên, từ Sơn Nam liên tiếp báo về. Trắc phủ dụ dân thành Liên Lâu, cử tướng Năng Tế ở lại giữ thành, còn đại binh kéo về Mê Linh.
Trên đường trở về Liên Lâu, đoàn quân chiến thắng dừng lại ở thành Ốc. Những kỉ niệm lần đầu tiên thăm thành Ốc cùng đám bạn trẻ của Trắc sống dậy. Trắc cho mời Nhị đến, nói:
“Chị đã suy nghĩ nhiều về toà thành Ốc này, nó là một trang lịch sử đẫm máu và nước mắt của các bộ tộc Việt chúng ta. Nhưng điều quan trọng hơn, đây là một vị trí có ý nghĩa quân sự quan trọng. Chị muốn lưu em lại đây, em phải thay chị khôi phục lại ngôi thành này. Nó sẽ là một trong những căn cứ lớn giúp củng cố nền tảng quốc phòng của chúng ta.”
Trước đây Trắc đã bảo Nhì đi thăm thành Ốc, bây giờ lưu Nhị giữ thành Ốc, đó chính là thể hiện chí lớn mà Trắc hằng nung nấu. Nhị hiểu ý của Trắc liền vui vẻ nhận lời.
Trở về Mê Linh, sau khi khao thưởng binh sĩ, Trắc cho người tới các địa phương báo tin đã đánh đuổi ngoại bang, thu phục lại giang sơn nhà Hùng. Tất cả đều tỏ ý thần phục Trắc, nhất tề tôn Trắc làm vua.
Trắc lên ngôi, xưng là Trưng Trắc, khôi phục tên nước là Văn Lang, phong thưởng từ cao xuống thấp không xót một ai, cho Thánh Thiên quản lĩnh mười sáu châu biên Ái, Ả Nương Ả Nang tuần duTây Bắc nhị lộ. Lê Chân đóng ở An Biên. Bát Nàn đóng ở Tiên La. Ả Lan đóng ở Văn Lang, Hạ Hoà. Đô Dương trấn thủ ở Cư Phong. Đồng thời ra lệnh bãi thuế hai năm. Dân chúng hân hoan, khắp nơi thi nhau mở hội đánh "phết". Thiên hạ thái bình.

(Còn nữa)
 
 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 8
Trong ngày: 126
Trong tuần: 790
Lượt truy cập: 36412
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.