Nguyễn Quang Phi
NHỮNG NGƯỜI ÔNG...
Tôi hay nói đùa, mình là người “giàu” hơn các bạn cùng trang lứa tôi bởi ngoài ông ngoại ra tôi còn có tới hai người ông nội.
Ông nội tôi-cụ cố Nguyễn Quang Kỳ- là con thứ hai trong gia tộc họ Nguyễn Quang. Ông bà nội tôi sinh hạ được bốn người con, hai trai, hai gái. Bố tôi là con trai thứ hai.
Anh trai của ông nội tôi là cụ cố Nguyễn Quang Chuyên cũng sinh hạ được bốn người con gái, rồi cụ bà mất sớm. Là trưởng tộc nên hai ông đã bàn bạc chọn người kế tự gánh vác gia tộc. Thế là bố tôi là cháu thứ hai được hai ông chọn làm trưởng sự tương lai. Lúc bố tôi bảy tuổi, sang ở với ông bác, được các chị gái bên bác rất quý, cưng chiều, dạy dỗ và được hai ông chỉ bảo nên mười ba tuổi bố tôi đã thạo việc nhà cửa, việc đồng áng. Khi các bác gái đi làm dâu, bố tôi mới mười sáu tuổi, đã được ông nội tôi “nhắm” cho một người con gái cùng tuổi trong làng mang họ Dương. Và sau này, khi mấy anh chi em tôi ra đời, chúng tôi có tới hai người ông nội và ông ngoại luôn săn sóc, uốn nắn…
Trước Cách mạng tháng Tám, gia tộc Nguyễn Quang của tôi đã nuôi giấu cán bộ Việt Minh, ủng hộ thóc gạo nuôi cán bộ, bộ đội. Thời kháng chiến chống Pháp, hai ông của tôi cho tám người con, người cháu tham gia du kích chống càn. Hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Minh: “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.”, các ông đã hướng dẫn bố tôi và đội du kích kháng chiến của làng rèn đao, kiếm, chặt tre đực già già vàng lõi gióng thẳng dài hai mét, cắm ngọn đao sắt lên phần ngọn làm vũ khí mà đánh giặc. Các ông cùng dân làng vót chông tre, rèn chông sắt làm bàn chông, cả làng kháng chiến bỏ vườn không, nhà trống vây đồn chống giặc Pháp, lính lê dương và bọn tề rõng càn quét vào làng bắt giết du kích kháng chiến. Thời chống Mỹ, gia tộc tôi có hai mươi tám đưa cháu nội, ngoại lên đường ra trận. Ngày 28 tháng 01 năm 1964, ông cả Nguyễn Quang Chuyên được Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng kí tặng bằng khen với thành tích: “Đã góp công góp sức trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc”.
Trong kí ức của tôi, những ngày thơ bé thật ấm áp. Nhà tôi được dựng bằng những cây gỗ xoan nhỏ nhắn, tường chát đất, mái lợp rạ có bậc hè ra hiên. Các ông tôi lúc bế, ôm, ru anh em chúng tôi trên võng, lúc cõng trong nhà, dìu tôi tập đi trên nền đất và bế nhấc tôi qua vũng nước chúng tôi tè. Tuổi lên ba, tôi đứng vịn bậc hè được ông bế nhấc qua hè nhà ra sân xem cây hoa lá và chơi trên sân cùng chúng bạn. Rồi ông dạy các cháu luyện sức như chơi chọi cỏ gà, nhảy dây, nhảy qua bậc hè, tập nhảy cao, nhảy xa, tập bơi lặn trong ao, qua sông cho không bị đuối nước. Nhờ vậy mà khi lớn lên chúng tôi có sức mà vượt suối sông, trèo núi, băng đèo không sợ mệt theo kịp anh em đồng đội.

Khi chị em tôi tranh nhau đồ chơi, tôi khóc ré lên, ông tôi lại bế vào nhà và gõ cái trống ông làm bằng vỏ dừa căng da ếch. Nghe tiếng “bung… bung… bung” tôi cười típ mắt quên cả đòi đồ chơi hay khóc với đòi theo mẹ, theo cha ra đồng. Ông còn dạy các cháu chơi “i” rèn hơi dai sức, chơi cướp đồn luyện ý chí, rèn sự nhanh nhạy.
Cả hai ông nội và ông ngoại tôi đều có chòm râu trên cằm, nhưng râu ông cả có chùm râu dày và dài, trắng muốt trên khuôn mặt phúc hậu. Ông ngoại tôi có chòm râu ngắn hơn. Mỗi khi ông ngoại sang nhà là tôi có quà. Khi vừa bước vào cửa, ông giơ tay vẫy gọi “Cu tí đâu ra ông cho chuối này; cu cún ra ông cho bánh rồi ông cõng đi xem bơi trải hội nhé…”. Ngồi trên lưng ông mà mắt tôi hớn hác, ngó ngoáy quan sát từ cây cau, chùm quả, đến vườn cây ao cá, hết con chó, sang con gà, ra đường ngó con trâu… nhìn cái gì cũng thích.
Ra đến hội bơi, tôi được ông ngoại mua cho tôi con tò te mà thổi, được nhìn cảnh trai làng mặc áo đỏ, áo xanh, áo tím, áo vàng hò reo bơi trải dô huầy. Tôi được trèo lên vai ông mà ngó, được cảm nhận niềm vui không khí ngày hội: “Giai ơi! Dô huậy!, vục sâu vào! Dô huậy!, quyết chiến thắng! Dô huậy! Lao động giỏi! Dô huậy, chiến đấu cừ! Dô huậy! Đoàn kết! Dô huậy, dũng cảm! Dô huậy, quyết lập công! Dô huậy, về đích nhất! Dô huậy....”. Tôi nhìn người phất cờ hô, những tiếng dô huậy vang trời, người tôi bừng bừng khí thế, hình như từ Hội làng tháng chín đã bồi đắp cho tôi ý chí ngoan cường.
Tôi nhớ khi còn bé, một hôm được dắt ra nhà ông bà ngoại chợt thấy hôm nay đông thế, người đứng kín người cả trong nhà ngoài sân. Tôi được dắt vào trong nhà, và thấy ông ngoại mặc bộ quần áo đỏ nằm im trên giường, tôi đòi vào với ông mà không ai cho tôi lại gần bên ông. Tôi khóc ré lên, với tay ngó vào ông. “Ông ơi! Ông ơi!”. Tôi thấy cả bố và mẹ tôi cùng khóc theo tôi và bế thốc tôi ra ngoài. Tôi càng ưỡn người vươn qua vai bố tôi đòi vào bên ông ngoại nhưng chả ai cho, mọi người chuyền tay nhau bế tôi ra ngoài sang nhà hàng xóm thí cho tôi nín. Thế là tôi mất ông ngoại từ ngày ấy.
Ông ngoại tôi đã đi xa mấy chục năm nhưng hình ảnh ông ngoại hiền từ mặc áo dài đỏ nằm trên giường, hai tay ấp trên bụng mãi mãi n sâu trong lòng tôi không bao giờ quên được. Sau này lớn lên tôi hỏi thì bố tôi bảo: “Ông ngoại đi về với tiên tổ nên phải mặc đẹp và sang thế con à!”.
Khi tôi đến tuổi đi học vỡ lòng, bố sắm cho tôi bút chì, phấn và vở; ông nội làm bảng sơn đen kẻ dòng cho tôi tập viết. Đến năm tôi lên lớp một, được thầy chủ nhiệm Bình giao cho làm lớp trưởng, được cầm giữ chìa khóa lớp. Tôi phải đến trước để mở cửa và khi thầy vào lớp phải hô các bạn đứng dậy chào thầy, rồi còn phải hô cho cả lớp, toàn trường tập thể dục giữa giờ. Tôi sợ mất chìa khóa nên hỏi ông. Ông tôi lặng lẽ đi lấy chỉ se cho tôi sợi dây thật bền buộc chìa khóa lớp rồi dặn khi đi học đeo vào cổ, về nhà treo vào cái đinh dưới đầu cái mỏ võng. Tôi làm theo ông và tính cẩn thận, ngăn nắp của tôi có được từ đó.
Ông cả Nguyễn Quang Chuyên của tôi là trưởng thái lão của làng, là tiên chỉ của họ. Những ngày mồng Một hôm rằm, ông lên chùa. Ngày giỗ Tổ, ông mặc áo chùng đen, đội khăn xếp đen rồi nhắc tôi ra đóng cổng và trông nhà. Và bao giờ ông về cũng có quà cho anh chị em tôi: khi thì nắm xôi, cái oản, khi thì mấy quả chuối, quả cam, trái bưởi… Ông đều vẫy gọi các cháu quây quần rồi ông chia phần, đứa nào cũng có nên khi ông về là cả lũ chúng tôi ra cổng đợi đón rồi reo lên: “A, ông đã về”.
Bố mẹ tôi đều đi làm từ sáng sớm đến trưa và chiều tối mới về. Càng lớn, tôi càng quấn quýt với hai ông nội từ trong nhà ra ngoài sân. Ông cháu luôn bên nhau. Cả hai ông của tôi đều giỏi đan lát. Tôi hay theo ông ra bờ tre nhìn ông chọn tre, chặt tre về chẻ vót đan, tôi lôi kéo dọn cành tre giúp ông. Ngồi bên ông, nhìn ông làm, tôi hí hoáy nghịch đủ thứ, hỏi đủ điều. Ông thường chiều tôi, lúc thì ông đan cho tôi cái vỉ để tôi đập ruồi, muỗi và dán, khi thì ông đan cho tôi cái quạt. Thích thú nhất là được ông đan cho cái lồng chim hình quả chuông để nuôi chim chào mào, chim sáo. Có những kỷ niệm tôi không bao giờ quên là khi tôi lên lớp hai, lớp ba, năm nào ông cũng làm cho tôi một cái diều rồi dẫn tôi ra đồng, dạy tôi cách thả diều và làm ống sáo gắn trên diều...
Đêm nào tôi cũng được nghe ông kể chuyện. Từ chuyện cây khế cụ nội trồng, có từ bao giờ, cách hái quả ra sao. Cây khế gần bờ ao nên ông phải rào kẻo trẻ ham trèo mà ngã xuống ao không biết bơi là chết đuối rồi đến cách đạn lờ, làm ống lươn và cất vó tôm, vó tép, cách đánh mục, cách gói bánh, giã giò ngày tết. Các ông thường dạy tôi làm trai việc gì cũng phải biết học mà làm. Vào bộ đội là một môi trường lớn, trăm quê, bách nghề, cháu phải học hỏi ở đồng đội sau sẽ thạo mọi việc.
Lên cấp hai, tôi được theo ông đi ra cồn ngoài đồng. Một hôm, ông ôm tôi vào lòng và nói: “Cháu ông học giỏi chăm ngoan, sang năm ông sẽ đan cho cháu cái thuyền nan mà tự cháu chèo trên đồng để đi chơi, đi học, đi câu và thả lờ, cháu có thích không? Tôi bảo: Cháu thích lắm. Thế là ngày tôi sang tuổi mười lăm, cả nhà cùng theo ông đốn tre, xem ông đan thuyền nan. Khi ông đan xong, cả nhà tôi trẻ già trai gái cùng giúp ông đào hố trên vườn theo ông vẽ, rồi đóng cọc, rồi đứng dận nan thuyền cho lún theo hố, rồi người kẹp, người găm, uốn, rồi cạp… tiếng hò hai ba nào theo nhịp ông tôi chỉ huy. Chỉ trong buổi sáng, con thuyền đã lên khung, rồi mất một ngày cạp, một ngày làm khoang, một ngày róc băm vỏ sắn, giã nát, sơn quét khắp trong và ngoài thuyền… phơi khô mấy hôm là tôi có con thuyền tự mình chèo lái hái hoa súng, hái tóc tiên về cho mẹ nuôi lợn. Có thuyền, tôi còn chở được cả phân vãi ruộng, chở mạ cho mẹ cấy, chở gạch giúp bố xây nhà. Ông luôn tính trước những điều tôi cần phải biết, phải học.
Bước sang tuổi 18, tôi xung phong tòng quân đánh Mỹ theo các anh chị. Ngày tôi đi, ông gói bánh chưng, mẹ đồ xôi cho tôi đi ăn đường. Trước ngày đi, ông dặn bảo tôi: “Cháu đi đánh giặc như ông chặt đốn róc chẻ tre thôi cháu ạ. Trước tiên phải mài dao cho sắc. Cả búi tre muốn chọn cây nào làm gì mình phải biết, chọn được nó muốn lấy nó phải tỉa cành gai góc cho khỏi rách mặt, đứt tay, khi róc tre và bổ chẻ tre cũng vậy phải lựa mắt, lựa gióng… Đánh giặc cũng vậy phải có mưu lược mới thắng cháu nhé”. Tôi nghe ông dặn như nuốt từng lời, miệng khẽ “dạ” một tiếng mà lòng miên man nghĩ theo lời ông. Càng nghĩ tôi càng thấy đúng như câu các cụ đã nói: “Sức mạnh như chẻ tre”.
Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi may mắn chỉ có vài vết sẹo nhỏ, được lành lặn trở về quê. Khi ấy các ông tôi đều đã về tiên tổ. Ông nội cả “đi” từ năm 1972, thọ 85 tuổi, ông nội hai “đi” năm 1973 thọ 83 tuổi. Trước bàn thờ hai ông nội và ông ngoại, tôi thắp hương dâng chùm quả đất phương Nam mang về kính lễ, sản vật mà các ông chưa bao giờ được thưởng thức, cháu của các ông đã thắng giặc trở về.
N.Q.P