THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

NHÀ THƠ ĐINH ĐĂNG LƯỢNG

Thanh Ứng

NHỮNG VẦN LỤC BÁT ĐẬM HỒN DÂN TỘC .
(Đọc tập thơ “Lục bát tìm tôi” của nhà thơ Đinh Đăng Lượng, nxb Hội Nhà văn 2024)

    Năm 1976, hợp nhất hai tình Hà Tây và Hòa Bình thành Hà Sơn Bình biểu hiện rõ sự hợp thành của ba vùng đất: Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình. Những người sáng tác văn thơ của ba vùng đất ấy có một cuộc gặp mặt lịch sử tại Hội trường Sở văn hóa-Thông tin Hà Sơn Bình năm 1978, để ghi nhận sự hòa hợp đó là sự ra đời của tập thơ in chung ba tác giả đại diện cho ba vùng đất: Thế Mạc, Đào Ngọc Chung, Đinh Đăng Lượng, bài thơ “Hội cồng mùa xuân” của Đinh Đăng Lượng được lấy tên cho tập thơ in chung đó. Năm 1985, chuẩn bị kỉ niệm 10 năm hợp nhất, Sở văn hóa thông tin Hà Sơn Bình xuất bản tập “Hà Sơn Bình-Thơ-1976-1985”. Tập sách có tên nhiều tác giả đáng chú ý: như Trần Lê Văn, Vân Long, Bế kiến Quốc, Quách Vinh, Nguyễn Tấn Việt, Đặng Hiển, Lai Vu, Thế Mạc, Quách Ngọc Thiên, Đào Khang Hải, Lò Cao Nhum, Tô Thi Vân, Thanh Ứng, Nguyễn Khắc Kình, Nguyễn Thị Mai, Phạm Ngọc Chiểu, Lai Vu…. do Giáo sư Hà Minh Đực viết lời giới thiệu. Đinh Đăng Lượng được chọn 5 bài, trong đó bài “Về thăm biển lần đầu”, “Làng công nhân”, “Hội cồng mùa xuân”…được đông đảo bạn đọc khen ngợi. Đặc biệt bài lục bát “Hội cồng mùa xuân” đứng trong tập này như một điếm  sáng của thơ Đinh Đăng Lượng.dinhangluong

   Sau hơn nửa thế kỉ, khi đã là nhà thơ thành danh, năm 2024, anh cho ra đời tập thơ chọn lọc “Lục bát tìm tôi”, “Hội cồng mùa xuân” là bài thơ đầu tiên trong tập thơ 50 bài lục bát này.  Sau rất nhiều tập thơ, kí, tản văn được xuất bản, trong đó có nhiều tập được giải, với nhiều thể thơ khác nhau, lần này, anh chọn thơ lục bát một thể thơ truyền thống làm tiêu chí để lựa chọn tập, như ghi nhận sự tâm huyết của anh với thể thơ truyền thống dân tộc. Điểm lại thơ của Đinh Đăng Lượng từ trước đến nay, dù tác giả từ khi còn là một chàng trai Mường ở xóm Đồng Sông, xã Dân Hạ, huyện Kỳ Sơn, đến khi trở thành một kĩ sư, một cán bộ lãnh đạo tỉnh, bước chân của tác giả không chỉ ở “Bốn Mường” mà còn đến những vùng đất khắp miền tổ quốc và cả nhiều nơi xa xôi trên đất người, thì hồn thơ anh vẫn là hồn thơ dân tộc. Hãy điểm tên vài tập thơ trong số những thi phẩm anh đã cho ra đời: “Người ở đầu nguồn”, “Bóng cây Chu Đồng”, “Cánh bông giàn mải miết”, “Hồn chiêng”, “ Xứ hoa Poông Traăng”, “Bốn Mường”…và tập gần đây nhất “Từ miền sử thi” năm 2024, ta thấy hồn thơ Đinh Đăng Lượng là hồn thơ của  của đồng đất, núi đồi, sông suối quê hương, là ngôi nhà sàn nơi anh thờ phụng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, nơi anh gắn bó cả đời với các thế hệ người thân…tất cả anh gọi chung một từ rất đỗi thân thương là “Quê nhà”. Nhiều bài thơ trong tập được anh sáng tác ở nơi” chôn nhau cắt rốn” này. Đọc hai chữ “Quê nhà” ghi thời điểm sáng tác ở cuối nhiều bàì thơ, tôi cảm thấy gần gũi với anh nhiều lắm, giữa anh và người đọc kể cả bạn đọc ở miền xuôi như cũng không còn khoảng cách. Đúng như anh đã viết: “ Văn chương là tiếng tơ lòng/Mấy ai rút ruột mà mong cơ đồ” khi về thăm mộ Đại thi hào Nguyễn Du. 50 bài thơ, bài đầu tiên sáng tác tháng 3/ 1977 đến bài gần nhất sáng tác tháng 11/2023 là gần 50 năm, thời gian dài đằng đẵng mà thơ anh vẫn giản dị, trong trẻo như ngày nào. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã có nhận xét:“Trong thơ anh người đọc không vấp phải nhiều những thứ thổ cẩm văn chương đã mòn vẹt đi vì đã truyền tay quá nhiều người làm thơ trong đó phần lớn lại là các bạn thơ người Kinh, khi viết về các dân tộc ít người” (Trích “Đinh Đăng Lượng-một giọng thơ Mường trong thế giới phẳng- Vũ Quần Phương Vanvn.vn). Đọc “Lục bát tìm tôi”, dù có bị câu thúc bởi vần điệu nghiêm ngặt của thể thơ, ta vẫn gặp trong  thơ của Đinh Đăng Lượng tràn ngập những địa danh của vùng đất của Hòa Bình yêu quý. Từ Lũng Vân, Tân Lạc với núi Nàng Tiên thơ mộng dến Sông Bôi, Thung Trâm, Cố Nghĩa, Yên Bồng…Lạc Thủy. Rồi Phương Lâm, Đà Giang, núi Ông Tượng, đồi Ba Vành, Bôi Câu, Chúa Nguyệt, Kha Cối, Quèn Ang, Chùa Khánh, Chợ Khến, Chợ Khang, Sông Rậm, Bến Bờ, Đác Hoa, Thung Nai, Hào Tráng, Mường Vang, Mường Vó, Mường Thàng, Sông Bưởi, Đồi Thung, Lai Láng, Lai Ly, Mường Động, dốc Chồng Mâm, Dốc Ái Nàng, Bưng, Bằng, Cạn Thượng…Những cái tên đó lại gắn với những cung bậc tình cảm của chủ thể trữ tình thương yêu hết mực những vùng đất ấy. Người đọc nghẹn ngào cùng nhà thơ khi anh nhắc đến tên miền quê Yên Thủy trong đám tang nhà thơ Mường tài hoa Quách Ngọc Thiên: “Xóm Nghìn trơ giữa mênh mông / Đường vào như có như không- lối này”,.. “Vàng óng một”, “Vàng óng hai” cũng từ Lạc Thịnh, Phú Lai-hả trời”(Mưa nắng một đời thơ). Những địa danh đó cũng trở thành những nhịp cầu nối tình người với người trong những những niềm vui của miền quê núi: “ Đưa dâu, môi đỏ miếng trầu / Đã yêu Sủ - Bến, phố Lau ngại gì!” (Đêm cuối năm ở Phương Lâm), “Tiếc là chưa kịp hỏi tên / Cho dù Cạn Thượng, Thạch Yên…sá gì” (Hội Xuân), “Dập dìu xe gỗ, cát vàng / Đã về Cố Nghĩa, lại sang Yên Bồng” (Tìm người đêm hội)…Trong “Lục bát tìm tôi”, Đinh Đăng Lượng có nhiều cảm xúc với những lễ hội của dân tộc mình. Bất kì một dân tộc nào, một vùng quê nào, lể hội cũng là những kết tinh bản sắc của một nền văn hóa dân tộc ấy, vùng quê ấy. Đinh Đăng Lượng đã cảm nhận lễ hội của dân tộc Mường một cách trân trọng, giầu cảm xúc và chứa chan tình yêu thương con người và vùng đất nơi anh đến. Anh đã hòa mình vào không khí lễ hội  linh thiêng đầy màu sắc dân gian cổ xưa, giầu truyền thống văn hóa mà những người hôm nay đang cố giữ gìn và phát huy...Đó là “Hội cồng mùa xuân” ở Phương Lâm, “Hội xuân” ở Mường Thàng,  Hội Đầm Đa ở Lạc Thủy…Ngoài lễ hội ở vùng đất bốn Mường, anh còn “Trẩy hội Cao Bằng”, nghe kể “Chuyện tình đêm hội” của người Mông, Mộc Châu…Dù đi nhiều nơi, tâm hồn của thi sĩ Đinh Đăng Lượng vẫn dành nhiều tâm huyết với lễ hội truyền thống quê nhà. . Hãy đọc những dòng anh viết về những hợp âm kì diệu của dàn cồng chiêng Mường trong “Hội cồng mùa xuân”: “Bung bung…chiêng khỗ bay ngang / Boong boong chiêng chót vút sang cuối trời / Chiêng khầm ngân giọng bồi hồi /Chiêng boòng beng nói bao lời ước mong” (Hội cồng mùa xuân)và sự đưa đẩy nhịp nhàng trong những thú vui dân gian như ném còn, rượu cần, múa sạp, đu tiên: “Cùng đu cho mở quạt tiên / Đường còn, cần rượu, ngả nghiêng vòng trầm” (Hội xuân), “Sẽ là tay lại cầm tay / Gót nâng bước gót, ngất ngây cửa nhà” (Theo về múa sạp cùng em). Những trò chơi dân gian ngày hội càng gắn bó con người với nhau:”Lắng trong bao tiếng nói cười/ Nhờ còn mà gặp được người hằng mong” (Mùa trái còn bay). Không mê đắm, không hòa tan vào những lễ hội của dân tộc mình không có những vần thơ như thế và hơn hết là sự tự hào về vẻ đẹp của dân tộc được phô diễn : “Áo vàng, yếm đỏ, môi cười / Bông nghia, trái trám nói lời chờ mong” Bông nghia, trái trám là hoa văn trên cạp váy của các cô gái Mường Hòa Bình (,Hát đối ở Mường Vang). Sâu xa hơn, Đinh Đăng Lượng luôn trân quý và tự hào về kho văn hóa phong phú giầu bản sắc của dân tộc mình, Ta gặp trong thơ anh những tên đất, tên người, những huyền thoại liên quan đến sử thi “Đẻ đất đẻ nước”, đến những điệu ca Thường Rang, bộ Mẹng, những câu chuyện hát đối…Dù đã có cả một tập thơ “Bóng cây Chu Đồng”, một lần qua bến Bôi Câu nơi rái cá giúp người vớt cây Chu Đồng anh vẫn còn những cảm xúc tươi nguyên về câu chuyện xa xưa của cha ông “Chu Đồng thì đã về Kinh / Thầy Mo vẫn kể dáng hình cây Chu/ Chén Vàng còn mãi ngàn thu / Bạn cùng nâng chén-mời từ Bôi Câu” (Qua bên Bôi Câu). Nhà văn Phạm Ngọc Chiểu đã ví anh là “Chim réo rạ hót vui đồng Mường”. “Loài chim ấy, theo sử thi “Đẻ đất, đẻ nước”, đã ấp trứng Điếng để nở ra loài người, cứ mùa xuân hót vui đồng Mường” và “từ nay anh sẽ như chim Réo Rạ góp thêm một giọng làm vui, làm đẹp đất Mường” (Trích từ “Những trang sách, những cuộc đời”-Phạm Ngọc Chiểu nxb Lao Động năm 2019). Vẻ đẹp của đất Mường trong thơ Đinh Đăng Lượng là vẻ đẹp của tâm hồn Mường. Vẻ đẹp đó được băt nguồn từ ngôi nhà sàn thân thương, nơi anh sinh ra, lớn lên và trưởng thành, nơi chứa đựng đầy đủ linh hồn, phẩm chất, nền nếp gia phong qua các thế hệ người Mường. Bài “Nhớ nhà sàn” ngắn gọn mười dòng lục bát mà nói được bao điều về ngôi nhà sàn thiêng liêng này: “Nhớ sao cái nếp nhà sàn / Thâm trầm của vóong, cầu thang la đà/Câu đầu, kèo cột dầm xà…/Trên nâng, dưới đỡ vào ra một thời/ Giữ cho đòn nóc ngang trời / Phên gianh, tàu cọ tay người kết đan…”Nói về cái nhà nhưng chính là nói về nếp nhà, trên kính, dưới nhường, thương yêu đùm bọc lẫn nhau để chống chọi với thiên nhiên, với giặc giã. Ngôi nhà sàn thường không có cửa, hoặc có cửa mà không có then cài như người Mường luôn mở lòng đón bạn muôn phương đến chơi nhà. Ngôi nhà thấm đẫm tình người, tình đất. Khi cuộc sống đổi thay “Loa thùng thay tiếng chiêng Mường / Chẳng ai hát điệu Rằng Thường hội xuân”  thì anh nghĩ ngay đến ngôi nhà sàn của mình “Nhà sàn còn lại trong câu chuyện buồn” (Làng tôi). Có đôi chút chạnh buồn nhưng, hồn Mường, hồn quê còn đó “Người già còn nói tiếng Mường”, “bản Mường vẫn dìu dặt ca dao”, “Sàn bương, vách nứa chan hòa trống  chiêng”, “Vòng trầm, dây bạc roong reeng / Đan sang lời nhị, đua chen tiếng đàn”, “Vò rượu đầy ắp men say” …Một lần đến Giang Mỗ, gặp lại “núm chiêng”, “Con Quạ khung dệt”, “cái cối giã trầu”, “ Sừng nai, vuốt hổ treo tường”, “chăn phà”, “cột cái, cột hiên”…của một ngôi nhà sàn, anh bâng khuâng bao hoài niệm về những kỉ vật thân thương: “Còn bao dấu cũ người thân / Ngày đêm thấp thoáng như gần như xa” (Dấu cũ). Thơ của Đinh Đăng Lượng có nhiều niềm vui hơn là những nỗi buồn và chứa đựng những suy tư, nghĩ ngợi. Anh cảm nhận sâu xa về các thế hệ nhất là các bậc tiền nhân: Tổ tiên, ông bà, cha mẹ “Cha ông ăn kiếp ở đời /Dễ cao hon một đầu người cháu con” ( Nhớ nhà sàn). Năm 1979,khi đã là người trưởng thành, anh có bài thơ về mẹ thật cảm động: Một bà mẹ Mường ở vùng Đồng Sông, Dân Hạ, Kì Sơn trong nghèo khó đã nuôi dạy 7 đứa con nên người. Một bà mẹ của riêng anh: “Áo chàm vá đẫm mồ hôi /Mẹ ngồi, mẹ ngắm núi đồi lô xô”, “Nhà trong bên bếp mẹ ngồi / Hồng hồng ánh lửa- một nồi sắn thơm”…(Mẹ). Mẹ của anh nhưng cũng là mẹ của bao người con trên đất Việt Nam này: “Thương nhiều tác bạc lưng gầy / Mẹ đâu có ngại thân cây lắm cành” (Mẹ). Mùng một tết năm 1998, anh viết bài thơ căn dặn vợ và các con “Giữ cho đôi mắt tinh tường /Trái tim luôn biết yêu thương đợi chờ” (Quê hương). Dù khi đã trưởng thành, có chức trọng, quyền cao thì trái tim của thi sĩ Đinh Đăng Lượng vẫn là trái tim của yêu thương. Anh thương kính cha mẹ, thương yêu vợ, các con và trải lòng mình với những người thân, bạn bè. Anh viết những vần thơ về vợ ngày chị đi viện chữa bệnh “vôi hóa” sống lưng” thât đắng đót: “Bao lần vịn gối lên non / Cắt gianh, gánh củi…áo sờn đôi vai/ Bát cơm quá nửa ngô khoai / Nuôi con, dưỡng mẹ…miệt mài sớm hôm” . Nhà có hai bóng “Chập chờn vào ra”, bây giờ chị đi chữa bệnh “Đêm nay anh ngủ trông nhà / Tiếng em từ phía trời xa gọi về” (Ngày em đi viện). Rất thật, rất thương cho cả hai người…Anh thương người chị có chồng đau yếu vẫn thủy chung, chịu thương, chịu khó “Thế mà thấm thoắt mười xuân / Chị tôi lầm lũi bón chăm cho chồng” (Chị tôi). Anh nhắc nhở con khi làm dâu xứ người: “Ăn kín miệng, nói giữ lời /Rể hiền dâu thảo làm người Tràng An” (Con đi làm dâu). Anh sẻ chia nỗi niềm với người bạn về những chuyện thế thái nhân tình “Hàn huyên thế thái nhân tình / Bỗng đâu vụt sáng trong mình tứ thơ” (Lời bạn). Rõ ràng thơ đã giúp anh có những nghĩ suy tích cực trong cuộc sống. Một điều không thể không ghi nhận qua tập thơ “Lục bát tìm tôi” với gần 50 năm làm thơ, trong đó có thơ lục bát, anh vẫn giữ nguyên hình thức của thể thơ này. Trong lúc nhiều người cải tiến, cách tân ngắt chặt 6/ 8 thành 3, 4 đoạn thì anh vẫn chung thủy: Trên sáu, dưới tám. Truyện Kiều của Nguyễn Du dài hơn 3200 câu thơ đều đều không thay đổi số chữ 6/8 mà vẫn hết sức sinh động, đa dạng, hấp dẫn…Như khung cửi Mường ta, con thoi cứ đều đặn đưa qua, đưa lại, ngày này, tháng khác…mà dệt nên bao tấm thổ cẩm rực rỡ sắc màu với những họa tiết thật đa dạng, tinh xảo. Anh dũng cảm và có bản lĩnh. Tôi cảm phục anh.

   “Lục bát tìm tôi” không phải là một cuộc tìm kiếm mà là sự khẳng định thêm một lần nữa cái “Tôi” Đinh Đăng Lượng. Một cái “Tôi” của người con đất Mường Hòa Bình, một tri thức, một nhà thơ. Sau khi giũ bỏ các chức vị, tất cả cái còn lại với chúng ta là “Chất thơ Đinh Đăng Lượng” sâu đậm hồn dân tộc và cũng rất hòa hợp với nền thơ hiện đại ngày nay. Thơ anh gần gũi với dân tộc anh nhưng cũng không xa lạ với những bạn đọc phổ thông như chúng tôi. Vì thế, tôi mạnh dạn viết những dòng cảm nhận trên để ghi nhận và chúc mừng thành tựu của một nhà thơ mà tôi luôn trân quý và mến mộ: Nhà thơ Đinh Đăng Lượng!

                                                                                Hà Đông tháng 9/ 2024

                                                                                              T.Ư

                                                                            

                                                            

Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 8
Trong ngày: 126
Trong tuần: 790
Lượt truy cập: 36411
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.