Phùng Phương Quý
MA RỪNG
Chương 1
Sướng nhất là ngồi bè ngược. Chẳng phải vất vả gì, ngoài việc ngồi ngắm trời, ngắm đất, hoặc thi thoảng kiểm tra dây nín bè có còn chắc không. Chỉ tiếc quãng sông này ngắn quá, ca nô kéo một ngày là tới cảng Đại.
Khổ nhất là thả bè mùa nước cạn. Phải bốn năm ngày mới từ bến Quân về tới ngã ba sông Hạc. Một mình suốt ngày phơi mặt, phơi lưng trên chiếc mảng nhỏ để lái bè. Muốn lái bè sang trái thì bỏ neo bên phải. Muốn lái bè bên phải thì bỏ neo bên trái. Neo cắm xuống lòng sông rồi, dây cáp kêu tưng tưng, chiếc bè đột ngột bị kéo lại, vặn mình răng rắc. Mũi bè chuyển hướng rồi phải đứng cho vững, cong đít nhổ neo lên. Lúc thả neo cũng phải chọn tư thế đứng cho chuẩn, kẻo dây óc cuốn vào chân, kéo hút người xuống đáy sông, chỉ còn cách làm bạn với Hà Bá.
Ca nô chạy gần, thở phịt… phịt như lão già cày ruộng trưa. Sợi cáp “mười hai” dàì hai chục mét nối từ ca nô đến bè rung lên bần bật. Chân vịt cuống cuồng tung từng cuộn bọt nước trắng, trôi về tận mép bè. Chiếc bè dài sáu mươi đạy gỗ, lượt thượt như con thuồng luồng cố ngóc đầu lên khỏi mặt nước, phía trước dập dềnh rều rác. Bè chậm chạp bò ngược, nhìn sang hai bên bờ sông thì tưởng bè đứng tại chỗ. Thằng ranh kia đúng là đi sông nước lần đầu, cứ rách mắt mà ngắm. Bờ bên phải dựng đứng, lở loét đất ven đê. Bờ trái có bãi bồi trông như con rùa xanh cõng trên lưng ngàn ngạt ngô trổ cờ cố bò ra mép nước.
- Bố sư mày con ạ! Mới thế mà đã nôn mửa lả ra. Cái xác chết trôi tấp vào đầu bè có gì lạ đâu. Hơn ba mươi năm sông nước, tao gặp hàng trăm xác chết trôi. Đàn ông có, đàn bà có. Kẻ thì nguyên thây, kẻ cụt đầu, kẻ cụt chân. Đàn ông chết trôi thì nằm sấp. Đàn bà chết trôi thì nằm ngửa, vẫn giơ chân giơ tay dạng háng như tiếp đàn ông. Chả có gì buồn cười. Trời sinh ra thế. Cái cánh đàn ông, đàn bà ngủ với nhau thế nào lúc bị chết đuối dưới nước y như vậy.
Cách làm lều cánh tiên hợp lý chưa? Cãi bố mày mãi. Làm lều trên bè không cần buộc bịn kĩ như lều trên bờ. Chỉ cần hai chiếc cột cái cao ngang đầu. Hai đốc che cho kín. Kèo buộc hình tam giác thế này là khi làm hai mái, chỉ cần buộc chặt vào cây nóc lều, còn cứ để xập xoè thế. Ban ngày chống lên thành mái nghỉ. Ban đêm thả xuống cài chặt lại thành phòng ngủ. Mưa không sợ, bão không sợ. Hôm đầu cô Mận đưa mày xuống, thấy cung cách giật mãi đầu hồi để chui vào lều. Tao biết ngay mày là người chưa biết đi bè. Chẳng biết chó gì về bè, có mày là một, nhưng được như hôm nay cũng là khơ khớ rồi đấy.
Tên tao gọi là Pháo, nhưng không phải là Pháo! Cười cái đếch gì. Tên khai sinh của tao là Lê Đình Phao. Phao nổi ấy. Hồi đi bộ đội tao là thằng rất máu gái, cứ đến địa phương nào, dù đơn vị chỉ qua đêm tao cũng phải mò bằng được một con đàn bà. Nạ dòng, gái góa ở đâu chẳng có, đánh vào mấy cái đồn ấy dễ lắm. Cũng có khi gặp may vớ được mấy em còn trẻ. Đời lính sống chết biết thế nào, nên tao cứ phải chơi cho biết mùi đời. Đơn vị họp hành kiểm điểm chán xong cũng nhạt dần. Chiến trận ầm ầm, hơi sức đâu mà lo những chuyện ấy. Anh em thấy thế mới thêm cho tao dấu sắc. Thế là thành Pháo. Không phải pháo “ ba bẩy”, không phải pháo “ một linh năm” mà là pháo “ mười bốn li năm” bốn nòng, bắn cấp tập. Kha!…Kha! Nhoáng cái đã 70 tuổi, tao vẫn mắc bệnh nghiện đàn bà. Đi làm cho cô Mận thế này, chẳng phải thiếu đói gì, nhưng cũng có khớ tiền. Mũi bè sáu mươi đạy, về đến cảng tao có sáu trăm nghìn. Nếu phải nằm lại trông bè mỗi ngày ba mươi nghìn nữa. Tao chỉ cho mụ vợ một nửa còn để giải quyết khoản sướng. Đố mày nhé: “ Con gì ăn ít nói nhiều. Mau già lâu chết miệng kêu chiền chiền”? Không biết à? Là con mụ vợ già khú đế nhà tao đấy. Lắm điều như quạ, chưa thấy mặt đã thấy hỏi tiền đâu, tiền đâu? Chỉ giỏi cơm nước quét nhà chứ cái khoản kia thì tịt lâu rồi. Đi bè vất vả nhưng cũng sướng mày ạ. Dọc các bến sông, chỗ nào chẳng có vài con đàn bà sẵn lòng lên bè ngủ với mình. Có thì cho nó năm mười nghìn, không thì cây gỗ, bó nứa cũng xong. Cứ bảo đàn ông 60 tuổi đầu gối cắt không còn hạt máu, không trèo lên nổi bụng đàn bà. Láo toét! Tao 70 rồi, vẫn còn khoẻ như vâm thế này. Da bánh mật này, bắp tay, bắp chân săn như chão này. Mày bảo chịu thế đếch nào được. Tao nói thật, cái khoản gái chúng mày còn theo khướt. Càng già càng dẻo, nhát nào ra nhát ấy, chứ như mấy thằng thanh niên, chưa trèo lên tới nơi đã phụt ra hết, mất công chị em cởi quần. Con Đức ở cảng An Đại, nổi tiếng vì một lúc tiếp mười ba thằng. Vì sao? Vì nó quá điêu luyện. Thằng nào lên, nó quặp chặt lấy, vừa khép đùi, vừa “ sàng gạo”, chưa đầy nửa phút là xong. Lần gặp tao giở đủ ngón ra mà không hạ nổi, tao nện cho gần tiếng đồng hồ, sướng quá chả rú như chó rồ. Caí nhà cô Mận góa chồng hơn chục năm rồi mà không lấy ai. Béo phây ra thế, có cải thiện ở đâu không để thế phí của giời. Nói thật là tao vừa thương, vừa nể nên đi bè cho hai năm nay, chứ nó kiệt bỏ mẹ, chi li với tao từng cái lạt nứa. Chỉ được cái sòng phẳng, bè về mũi nào là móc tiền thanh toán ngay, lại còn cho năm bảy chục đi “ cải thiện”. Đêm qua mày nhát quá. Con bé ở bến Chè ấy, mới hai mươi tuổi thôi, nhà nó nghèo lắm, mẹ già bị mù, nên lảng vảng xuống bè kiếm thêm. Tao cho nó ba chục và cây mỡ cặp thêm cạnh bè. Mày cứ hỏi buộc hờ cạnh bè làm gì? Bây giờ hiểu chưa? Hừm! Thanh niên con trai gì, hơn hai chục tuổi chưa biết mùi đàn bà. Tưởng bọn thanh niên trong rừng ngứa cựa sớm lắm kia mà? Nghe tao, tối nay về cảng gọi con Đức xuống, cứ thử một nhát xem, xong lại chả nghiện ngay ấy mà. Tiền nong không phải lo. “ Quân tử phòng thân-Tiểu nhân phòng gậy”, mày thấy những bó đũa, xâu rế bắc nồi kia không? Nhà tao có hai mống, dùng đến sang cát không hết. Đấy là tao rỗi rãi cứ vót, cứ đan sẵn đấy, con nào lên ngủ bè, cho nó. Cũng là trả công đúng không? Hừm! Chỉ thương nhà cô Mận. Béo nần nẫn. Của ấy chỉ để sờ là thích. Nói thật với mày, mỗi lần đứng gần cô Mận, tao toàn phải ngó lơ chỗ khác, không giám nhìn vào thân thể cô ấy, sợ cái thằng mất dạy của tao nó bật lên thì ngượng mặt.
Bố sư mày! Có cái xác trẻ con mà sợ vã mồ hôi ra. Đã thế từ nay có cái xác nào tấp vào bè, ông cho mày ra dọn. Hả? chôn làm phúc á? Mày nói dở như con c… Đang ngồi trên bè thế này làm phúc kiểu gì? Cứ lấy sào mà đẩy nó ra. Dưới Vĩnh Hưng có cái vụng sông, xác nào cá chưa rỉa hết thịt thì rồi cũng trôi về đây. Chả thế những nhà có người chết trôi thường về đón ở dưới ấy. Vạn bất đắc dĩ, dân làng cũng chôn cất làm phúc. Bố sư mày! Có thế mà cũng nôn mật xanh, mật vàng ra. Nhớ lấy. Đêm ngủ trên bè sáng ra phải để ý, thấy có mùi lạ phải kiểm tra đầu bè, thế nào cũng có xác động vật, hay xác người trên thượng nguồn trôi về. Mãi khắc quen. To xác mà dái teo lại bằng quả xoan. Tao ngày nhỏ còn nằm cạnh người chết cơ. Bố mày lại thèm nói phét à! Năm tao mười bốn tuổi thằng “Trương trê” bạn tao bị ốm nặng. Hả? Thì cũng như tao thêm dấu sắc gọi là Pháo ấy. Thằng Trương rất giỏi câu cá trê. Nó chịu bẩn nặn mồi câu bằng phân người. Đầm, ao nào có cá trê, nó câu bằng tiệt. Bọn tao mới đặt tên cho nó là “Trương trê”. Bố nó đi dân công Điện Biên, bị sốt rét ngã nước chết ở Sơn La. Mẹ nó mấy năm sau đi cấy giữa trưa tháng sáu, bị cảm nắng chết nốt. Nhà còn có hai anh em. Anh Cự mười tá, khoẻ như vâm, Trương trê lẻo khoẻo như hình nhân, nhưng chẳng ốm đau bao giờ. Nó phải đi chăn bò thuê lấy tiền đi học. Một buổi chiều anh Cự làm đồng về, vừa mở cánh cửa treo lên thì trong nhà có tiếng đập bịch vào cửa, không cho mở. Mấy lần như vậy, anh Cự nghi có trộm, bèn cầm đòn gánh ống cố đẩy cửa, nhưng chẳng có ma nào, chỉ có con rắn trắng mốc to bằng cổ chân nằm khoanh tròn trên chiếc phản gỗ sau cánh cửa. Con rắn nằm khoanh tròn một khúc bằng cái miệng thúng giang. Cứ nghe tiếng động, nó lại ngóc đầu lên, thụt thò cái lưỡi chẻ hai, quăng mình vào cánh cửa liếp. Không có đường lui anh Cự xông vào quần nhau với con rắn, mấy lần suýt bị nó mổ trúng người. Người và rắn rình rập, đuổi nhau quanh hai gian nhà chật, sau con rắn bị kẹt vào giữa khe tường và chiếc hòm đựng thóc, chưa thoát ra kịp liền bị đòn ống của anh Cự đánh chết. Anh Cự ném con rắn ra sân, nó lại nằm khoanh tròn như bánh xe cút kít. Lúc anh Cự châm điếu cày, rít thuốc lào sòng sọc, thì con rắn bỗng lật nghiêng, cứ như bánh xe lăn tròn ra cổng. Thằng Trương đi thả bò về trông thấy cái bánh xe rắn vội kêu toáng lên, nhổ cọc rào đập, anh Cự cầm đòn gánh chạy ra vụt vô kì trận vào con rắn, đến lúc chết hẳn. Con rắn bị lột da băm viên rán, hai anh em chén ba ngày không hết. Mấy hôm sau Trương trê bị ốm. Nó nằm liệt không ăn được gì, chỉ húp nước cháo. Tưởng ốm xoàng ai ngờ nó nằm mấy tháng, thối cả thịt. Nghe nó ốm nặng ba thằng bạn học chúng tao góp tiền mua được nải chuối tiêu và ba chiếc bánh đa vừng đen đến thăm. Vào nhà, thấy anh Cự đang vừa khóc vừa lau rửa cho Trương. Anh mếu máo:
- Chúng mày ơi! Thằng Trương chết rồi.
Dân làng kéo đến giúp anh Cự khâm liệm. Nhà nghèo quá chẳng có vải bó, đành mặc cho thằng Trương bộ quần áo lành lặn nhất. Quan tài thì xẻ từ bộ phản gỗ, ghép lại. Nải chuối và ba chiếc bánh đa của bọn tao biến thành đồ thắp hương cho “Trương trê”. Dân làng định chôn cất nó ngay hôm ấy. Nhưng quan tài chưa ra khỏi nhà thì trời đổ mưa tầm tã cho đến tối. Việc chôn cất đành hoãn đến mai. Đêm ấy ba thằng học trò ở lại canh thi hài người chết cùng anh Cự. Mưa suốt đêm, lúc ràn rạt, lúc tí tách. Quanh nhà nỉ non tiếng dế khóc. Lại nghe kèn kẹt tiếng cá trê kêu sau nhà. Lại có tiếng “Trương trê” khóc thút thít. Ba thằng sợ run nhong nhóc. Gần sáng, trong quan tài thằng Trương có tiếng lục cục. Hình như có con mèo hay con chuột nào chui vào. Chúng tao ngồi cả dậy. Thằng Thi đái ra quần. Tao nghiến răng trẹo cả quai hàm. Bọn tao tưởng tượng ra đằng sau thằng Trương bị loét lở vì nằm quá lâu, mấy con chuột đang rúc rích chén món thịt thối của nó. Anh Cự đốt thêm chiếc đèn dầu, soi dọc quan tài. Không thấy bóng con mèo, chuột nào, mà lục cục phía trong quan tài, tiếng thở phì như rắn phun. Anh Cự hô bọn tạo soi đèn, rồi tháo tung nắp quan tài. Mọi người trợn tròn mắt, còn tao ngã ngồi xuống đất. Chẳng biết người hay ma? Trương trê đang khua tay, nhai nhóp nhép mấy hạt gạo ban chiều anh Cự thả vào miệng lúc khâm liệm. “Trương trê” được khiêng ra khỏi quan tài, nó ngồi dựa lưng vào tường, kêu như mèo hen:
- Đó …ói…q…ú…a!
Anh Cự vội bóc một quả chuôí tiêu đưa vào miệng Trương, nó tóp tép ăn hết, đưa mắt ra hiệu đòi ăn nữa. Lạ quá! Nó chén sạch nải chuối haivà một chiếc bánh đa vừng. Nó không chết mà hai tháng sau mới khoẻ hẳn, bỏ học đi chăn bò. Bố sư mày! Tao lại thèm nói khoác. Hôm nào về Dộc Cạn với tao, hỏi cả làng xem. “Trương trê” đi bộ đội, mãi năm Mậu Thân mới chết thật. Nó là liệt sĩ duy nhất của xóm tao thời chống Mỹ đấy.
***
Hai mái lều cánh tiên lợp lá cọ, phành phạch gió, mát rượi. Bụi nước bắn lên tận lều, tanh mùi rong rêu, bùn và mùi cá chết. Chiếc chiếu hoa ẩm mốc, chữ Hạnh Phúc in bằng mực đỏ nhoè nhoẹt. Lão Pháo có vẻ sung sướng thế nhỉ? Trông lão có vẻ thư thái. Lão sung sướng vì có cái tên Phao thêm dấu sắc thành Pháo? Tên tôi là Học, nếu cũng thay dấu sắc như lão thì thành Hóc, nghe không được xuôi tai. Mới vào nghề chưa đầy tháng, lão phải biết tôi đã gặp xác chết trôi bao giờ? Một lần trong tù, tôi có nhìn thấy xác chết. Không hiểu tại sao thằng điên đó lại tự tử. Y như con lửng chết trong rừng, chẳng ai biết đến, chẳng thành cỗ thành tiệc cho ai. Tôi ở tổ tự giác, khi đắp chiếc vỏ chăn nhàu nhĩ lên mặt thằng tự tử, tôi thấy con mắt hắn he hé, cái miệng méo xệch. Bấy nhiêu cũng đủ làm tôi mất ngủ cả tuần. Ở bản Gió, chưa thấy ai chết trôi như thằng bé sáng nay. Chỉ nghe nhà họ Triệu có người leo cây lấy mật ong, bị ngã chết. Người nhà họ Cấn đi săn thú ban đêm bắn nhằm vào mặt nhau chết, nhưng tôi không được nhìn. Thằng bé sáng nay trần như nhộng, cặp mông căng tròn như quả bóng chổng lên trời. Nó nổi lập lờ ở đầu bè, ném vào mũi hai kẻ còn sống mùi rắm thối khẳm, buồn nôn.
- Sợ gì cơ chứ? Lấy sào mảng mà đẩy nó ra giữa dòng ấy.
Lão Pháo quát tháo làm tôi sợ cuống. Một tay bịt mũi, một tay cầm sào chọc vào cái xác. Chiếc sào trượt đi như chọc vào chiếc săm ô tô bơm căng. Cái xác làm mình làm mẩy, lăn qua lăn lại đùa giỡn, mãi mới chịu lừ lừ bơi ra khỏi đầu bè, xuôi dòng theo kiểu bơi ếch. Tôi cũng trượt chân tụt xuống giữa khe hai đạy gỗ, hốt hoảng vì bị con rắn nước ướt rượt cuốn vào cổ. Tôi vội túm lấy con rắn vứt bừa lên bè. Thì ra bụi rau muống. Những gốc rau muống chúng tôi vứt đi sau khi hái ngọn luộc ăn từ hồi mới đóng bè trên bến Quân, giờ đã mọc thành bụi, sống nhởn nhơ giữa khe gỗ, theo dòng sông chu du từ đầu nguồn sông Đà tới giữa khúc sông Lô.
Chị Mận bảo tôi hãy cố mà học thành nghề. Nghề gì cũng được, miễn là kiếm ăn chân chính. Muốn thế phải nghe lời lão Pháo. Lão là thợ đi bè nổi tiếng dọc sông Hồng. Khi cánh cổng trại giam khép lại sau lưng, tôi bàng hoàng chưa tin mình là người tự do. Ba năm tròn vo như viên bi đá vôi xoáy bằng vỏ ốc biêu. Dù tích cực cải tạo nhưng tôi không được giảm án ngày nào vì hay đánh nhau trong tù. Bọn tù cũ hay bắt nạt tù mới. Vào trại là bị chúng làm luật ngay. Tôi không chịu. Tao mang tội vì chống người nhà nước, sợ gì mấy thằng tù. Với lại mấy thằng đầu gấu trong tù huyênh hoang “ rung cây doạ khỉ”, chứ bị nhốt lâu ngày, bấy bớt thế kia, một thằng trai núi như tôi, khoẻ hơn gấu, sợ gì chúng. Buồn chán! Mới hai mươi ba mùa hoa Hồng trà mà tương lai như đỉnh núi bị mây mù che kín. Cả bản, cả động nhìn tôi như nhìn con khỉ chột mắt hay bẻ trộm ngô. Hầy dà! Có phải thằng Học đi tù về không? Mày đi tù mà béo trắng như con lợn cạo thế a? Chi đoàn thanh niên không cho đi họp chung. Xin đi bộ đội, xã bảo thành phần “ chống người thi hành công vụ” không đi được. Con Mây bên động Chóc đi học nội trú về, bảo tôi : “Anh Học à! Muốn làm dân bản tin mình, chính quyền tin mình, hãy tìm việc gì tốt mà làm. Con lũ qua, lại lội suối được thôi…”.
Tôi nghe con Mây ra bến Quân, cách bản hai ngày đường để xin vác gỗ thuê cho ông cai thầu gỗ. Cái ngày may mắn ấy mới cách đây một tháng. Đang vác gỗ thì có một bà mặc quần áo đen, béo núc ních tìm đến. Nghe ra, đây mới là bà chủ thật sự, tay thầu gỗ kia chỉ là một trong bốn kẻ đi thu gom cho bà ta. Đó chính là chị Mận. Dựng chiếc xe máy đỏ chót trên đê, chị xắn quần đến bẹn, đi chân đất ra tận bãi gỗ.
- Có vất vả lắm không các em? Cầm mấy bao thuốc hút cho vui. Xếp từng loại riêng cho chị nhé. À! Có cậu nào tên là Học, người bản Gió làm ở đây không?
Tôi vứt mạnh cây gỗ trên vai xuống, gườm mắt nhìn dò xét. Lại có chuỵên gì liên quan đến mình nữa đây? Tôi bảo, tôi là Học đây, nhưng mấy tháng nay toàn vác gỗ trong rừng ra bến, không gây gổ với ai cả. Chị Mận cười như bắt được của. Cậu Học đây à! Đẹp trai thế này cơ à? Chị tìm cậu định nhờ chút việc. Kéo tôi lên đê, chị nói luôn là đang rất cần một người khoẻ mạnh đi theo trông bè. Nếu em đi được, mỗi tháng chị trả lương ba trăm, cơm ba bữa. Tôi lại rơi vào trạng thái bàng hoàng như hôm mới ra tù. Sao tự dưng có người tốt với tôi thế. Tìm cho việc làm lại có lương hàng tháng. Tôi có thể ngẩng mặt lên với bố, mế và dân bản rồi. Tôi nhận lời ngay. Cậu có biết bơi không? Biết! Nhưng ít thôi. Thế thì được. Mai xuống bãi gỗ nhận việc. Mãi sau này tôi mới biết mình được chị Mận tin tưởng là vì thành tích mới ở tù ra. Tôi không có thời gian để suy xét xem chị Mận là người thế nào, chỉ biết chị đã giúp tôi vượt khỏi cảnh khốn khổ. Đã trốn được những con mắt khó chịu của dân bản, lại được tự do, thoải mái rong chơi sông nước. Lão Pháo bảo dọc bờ sông, nhan nhản lũ thanh niên vô công rồi nghề, cứ thấy bè trôi qua là bơi ra xin đểu. Từ ngày biết trên bè lâm sản có thằng tù mới ra, không đứa nào quấy rầy nữa. Tôi mới biết được tiếng tăm của mình có uy lực thế nào lúc bè gỗ qua Ghềnh. Lão Pháo hí húi thả neo, kéo neo đưa bè qua khúc sông ngoặt. Trong bè chỉ có mình tôi bó gối nhìn sông nước. Bên bờ trái, một mố cầu đang được xây lên. Chiếc cầu phao dưới kia chắc chỉ còn tồn tại được mấy tháng nữa. Lão Pháo dặn tôi qua khúc này cẩn thận trông nom bè, không bọn xin đểu hay bơi ra phá phách. Bè qua Ghềnh, rất chậm vì thi thoảng còn phải thả neo. Lái bè trôi vào lạch sâu. Nước vỗ róc rách. Gió thổi lồng lộng. Chẳng thấy chiếc thuyền nào bơi ra cả, chỉ thấy mạn phải cầu phao, những công nhân phà đang hò hét nhau đẩy những chiếc phao bằng sắt vào sát bờ. Bỗng hai vệt nước tung trắng xoá cạnh bè. Hai cái đầu tóc dài cợp nhô lên, lắc lắc giũ nước như con vịt vừa lặn ao. Hai cái miệng phun phèo phèo. Hai thằng thanh niên cởi trần lóp ngóp trèo lên bè, khật khưỡng đi về phía lều.
- Chào ông anh! Bè bến Quân về hả?
Chúng nhệch miệng cười, tôi lãnh đạm không nói gì. Hai thằng nhìn nhau, rồi lại nhìn tôi.
- Mẹ kiếp! Chẳng bè bến Quân thì bè nào. Vẫn lão đầu bạc, da nâu kia thả neo. Nhìn gỗ cũng biết từ Quân về mà. Xin điếu thuốc!
- Tao không hút thuốc!
Tôi bực mình luồn tay vào trong quần lót, có con kiến vàng chui vào bẹn từ lúc nào, thừa lúc tôi duỗi chân, đốt cho một phát buốt nhói.
- Chúng mày ra đây làm gì?
- Nói thật là mày chưa đi qua đây lần nào. Đúng không? Hai thằng tao vừa đi tù về, đói lắm, bơi ra xin ăn đây.
- Đi tù về bao giờ? Trại nào ra đấy?
Hai thằng tức giận, nhảy cỡn lên, tí nữa thì tụt chân xuống khe gỗ.
- Trại Tam Hoàng! Mày biết đéo gì trại với kho mà hỏi.
- Sao không biết! Tao ở trại Tam Hoàng ba năm mới ra, lính K5 đây.
Thằng cao hơn có hình săm con đàn bà cởi truồng trên bả vai bỗng ngồi bệt xuống bè.
- Chết! Thế ông anh cũng mới trong kho ra à? Bọn em không biết, ông anh tha lỗi. Có… có chén rượu nào bọn em xin chén…
Tôi với tay ra phía sau, lấy chai rượu còn một nửa của lão Pháo đưa cho chúng.
- Uống đi! Rồi liệu mà lên bờ. Tao cũng đang chán đời đây.
Nghe giọng tôi trùng xuống, hai thằng vội ngửa cổ tu một hơi rồi chùi mép, chắp tay vái.
- Đại ca thông cảm, tụi em ngược đây.
Hai thân hình còm cõi lao ùm xuống sông, lặn mất tăm.
***Học ở trong ngôi nhà nhỏ ngay cạnh bến sông. Đây là quán bán hàng cũ khi bến đò sang lối này. Từ ngày bến chuyển xuống phía dưới nửa cây số, chủ quán cũng chuyển theo. Chị Mận thuê lại căn nhà này làm nơi ăn nghỉ, trông coi bãi gỗ. Chẳng có cửa ngõ gì. Phòng trong có chiếc giường kê bằng tre. Phòng ngoài ngổn ngang dây chão, cát, lạt còn xông khói đen nhẻm. Thùng phi đựng nước sông nổi váng vàng khè. Lổng chổng nồi xoong, bát đĩa, ấm chén…
Tay nhân viên của trạm nông sản được chị Mận cử lên thu mua gỗ ít khi về ăn cơm với Học, suốt ngày rong ruổi trên chiếc xe Mô kích màu lá mạ chạy từ Động Hào về bến Quân. Chỉ khi nào gỗ bắt đầu ra bãi mới thấy hắn phi xe về, người nồng nặc hơi rượu. Những con trâu đực đen trũi xếp hàng kéo gỗ ra bến. Những cây gỗ dài thượt, kẹp đôi kéo sau đít trâu, vừa lăn vào nhau vừa cãi nhau lộp cộp. Quy cách có sẵn, ra đến bến chủ trâu đo đủ bốn mét rồi chặt đôi, chặt ba cây gỗ. Dưới sông bì bõm mấy mảng gỗ nhỏ bơi ra từ phía hai con ngòi phía trên bến.
Mọi việc mua nhận gỗ do tay kia đảm nhiệm. Việc của Học là trông coi hàng đừng để mất mát. Khi nào bãi gỗ và bến sông đầy ngập gỗ thì chuẩn bị đóng bè.
Học đang vo gạo chuẩn bị thổi cơm thì chiếc xe Mô kích màu lá mạ lao xuống bến. Tay nhân viên trạm mặc xe đổ kềnh ra bãi, chạy vội vào nhà:
- Học! Chú Học! Ra đỡ anh với.
Trên đê, một thanh niên cởi trần, mặt tím bầm vác dao chạy xuống.
- Đ…mẹ thằng cán bộ nhá, thịt lợn bố mày còn kiêng, mày lại bảo bố mày ăn máu luồn nhá. Bố chém chết mày. Mày cậy là người nhà nước mày ép bố mày bán giẻ à?
Tay nhân viên mặt tái mét.
- Anh với nó vừa cãi nhau. Nó cứ đòi đo gỗ bằng thước sắt. Chỉ tại cái bà Mận. Anh đo bằng thước gỗ nó không nghe, thế là chửi nhau.
Học dựng chiếc xe lên, bước ra ngăn thằng cầm dao lại. Có lẽ nó là người Mường.
- Tỷ roọng à? ( Đi chơi à?)
Nghe Học hỏi bằng tiếng trong, thằng kia dừng lại.
- Mí e ẹ nó chứ! Tao lại có thì giờ đi chơi. Nó lại mua tranh bán cướp ngay ở đất bố nó à. Nó có biết bố nó vừa đi học võ về không? Bố mày học võ Tia côn đô mày biết không?
Thằng thanh niên xô Học ra, xông tới. Sẵn cây sào nứa, Học vụt ngang chân thằng mặt đỏ, nó ngã sấp. Tay nhân viên vác khúc gỗ hai mét chèn ngang cổ nó. Mày biết chưa? Mày biết chưa? Học gạt cây gỗ ra bảo:
- Võ ở đâu thì võ, ra bến phá phách tao cắt dái.
Té ra thằng mặt đỏ chỉ “ võ mồm”. Nó đứng dậy lủi thủi quay lên còn giơ dao doạ.
- Lần sau vào mua gỗ bố chém chết!
Lão Pháo vào bến Quân, bắt đầu đóng cốn. Nghe kể chuyện đánh nhau của Học, lão khen. Thằng này khá. Theo nghề sông nước được. Lão sai Học đóng mấy chiếc cọc, cách nhau ba mét dưới ven sông, rồi lao gỗ từ trên bãi xuống. Lão già nhưng khéo léo như diễn viên xiếc. Từng bó chục cây gỗ xoay xoay dưới nước, lão vòng mấy vòng lạt nứa, đạp chân mấy cái là bó xong một đọn. Thằng kia, nhìn đây! Gỗ nhỏ thì mười đến mười hai cây một đọn. Lớn thì năm, sáu cây. To hơn nữa thì ba cây. Cây to ở dưới, cây nhỏ hơn ở trên. Lấy cuộn lạt đã ngâm nước kia kìa. Luồn lạt qua đọn, gài ba, bốn mối, giữ chắc hai đầu vừa đạp, vừa thít vào thế là được một đọn. Mười đọn một đạy, năm trên, năm dưới. Trên, dưới đạy lao hai dầm ngang, lấy lạt nín chặt vào. Lấy dây song mật hay cáp thép nín dọc thân bè. Hàng ngang ba đạy, để đạy giữa buộc cáp cho cân. Mỗi bè từ sáu mươi đến một trăm đạy, tuỳ theo con nước mà thả.
Ba ngày học việc, Học tương đối thành thạo việc đóng cốn. Lúc đầu lão Pháo hay nhăn nhó, sau thấy học trò nhanh nhẹn, khéo léo nên cũng dễ dãi hơn. Thằng trâu núi. Nó làm việc nặng cứ như đi chơi. Lão mắng:
- Bố sư mày! Từ từ thôi, không thọt cà lên cổ mất lấy vợ đấy.
Chiếc xe máy CD màu đỏ như đốm lửa rơi xuống chân đê. Cô Mận hùng hục đi tới, quần xắn tới bẹn, hai bắp đùi trắng nhễ nhại, to như cây chuối hột. Cô oang oác.
- Thầy trò nhà ông làm tới đâu rồi? Khẩn trương để ngày mười hai xuôi bè nhé. Tôi xem ngày rồi. Bác Pháo cầm mấy chục tìm mua còn gà thắp hương, nhớ mua gà trống chân vàng, mào cờ nhé. Cậu Học thạo việc chưa?
Lão Pháo dán mắt vào hai cây chuối hột, lủng bủng:
- Khá rồi! Thằng này tạm được, còn hơn thằng Huy mếu ngày trước, làm thì chậm chỉ đòi ăn suốt ngày.
Học im lặng nhìn ra sông. Nước dềnh lên màu hồng nhạt, bọt nước từng đám nổi lên như mặt chiếc bánh đa khổng lồ. Bờ bên kia có một hàng cây xà cừ lớn trông như lão gù đội nón. Một bè nứa nhỏ trôi qua bến. Dưới lùm cây che nắng cắm trên bè, một thằng đàn ông cởi trần, giơ tay vẫy vào bờ:
- Ê…ê…ê…! Có ngứa… không em ơi?
Chắc nó nhìn thấy cặp đùi chuối hột của cô Mận.
- Cha tiên nhân thằng giời đánh. Mày vào đây bà chẳng kẹp cho vỡ đầu. Cô Mận lẩm bẩm chửi. Bỗng Học nhảy nhoáng nhoàng lên bờ, chân trượt cây gỗ ướt, ngã oạch. Lão Pháo rời mắt khỏi cặp đùi trắng, gắt gỏng.
- Làm gì như trông thấy ma thế?
Học thở hổn hển, chỉ tay xuống mép nước. Một xác người đang dập dềnh trôi qua cạnh bè gỗ, hai tay giơ lên trời như muốn ôm lấy ai. Thân hình nằm ngửa, trương phềnh như con bò thui dở, chỉ có độc chiếc si líp trên người. Đó là xác một phụ nữ.
- Bố sư… có gì mà sợ. Người này chắc tắm sông sảy chân chết đuối. Đã nổi lên trôi về đến đây, có lẽ chết từ trên Ô Lâu. Cứ chặt rừng mãi, lũ xuống chỉ thiệt mạng trẻ con với đàn bà.
Cô Mận mím môi cố ghìm để không nhổ nước bọt.
- Không chặt cây ông lấy gì mà thả bè? Mà tại sao nó cứ lõ mắt nhìn tôi thế? Chuyến này không kịp xuôi ngày mười hai, ông đi luôn làm cho ai thì làm.
Lão Pháo há hốc miệng. Người đâu mà đồng bóng thế. Mới cười xong lại cáu ngay được. Lão không biết nỗi bực dọc của cô Mận. Sáng nay ở cảng nguyên liệu, cô đem biếu thằng Khiêm thủ kho hộp bia Halida kèm phong bì hai trăm. Thằng răng vổ ấy cũng nhìn chòng chọc vào cổ áo trễ của cô, miệng hềnh hệch.
- Chị gái cứ giơ mãi hai quả đào tiên ra làm em chóng cả mặt.
Nó lại còn chớt nhả đưa tay nắn nắn thử.
Cô Mận giật ra, giận tím ruột nhưng miệng vẫn phải cười:
- Chuyến nay bè về, chú ưu tiên cho vào bãi sớm hộ chị với. Chị không dám quên đâu.
- Tất nhiên! Chị quên thì… thôi ! Chị em ta cùng vào cho nhanh, nhỉ?
Các người ăn đấu làm khoán biết thế nào nỗi khổ của ta. Mang tiếng là trạm trưởng thu mua lâm sản, nhưng chỗ nào cũng phải sắn quần lội vào. Ba thằng nhân viên thì hai thằng nát rượu, cứ tin tụi nó thì có ngày ngồi tù. Cái đồ dê già kia chỉ biết nghỉ ở đâu là bổ đi tìm gái. Già rồi còn hư thân, mất nết. Tại lão nổi tiếng dọc mấy con sông về tài đi bè, ta mới chiều chuộng thế, đừng có tưởng bở.
Tay Khả ở Uỷ ban huyện là thằng ăn bẩn. Xin đuợc cái giấy hợp đồng thu mua lâm sản trên địa bàn huyện mà nó ăn tiền cả của ta, cả của tay Giám đốc lâm trường. Mua được bè gỗ có dễ đâu. Nào thuế cửa rừng, lại phải cho đám cán bộ xã tý chút, rồi còn làm luật dọc đường, đối phó với lũ cùn đời, xin đểu. Trời quang mây tạnh còn may, chứ mưa bão liên miên, có lần bè trôi, dân ven sông cướp gần hết, chẳng chết được phải chịu. Thuê ca nô kéo bè ngược cảng mất bao nhiêu tiền. Lên đến cảng còn ăn đợi nằm chờ, chạy ngược, chạy xuôi, dúi chỗ này chiếc phong bì, dúi chỗ kia hộp bia mới nhập xong hàng. Đến con nhân viên kiểm hàng mặt cũng vênh vênh, không dúi vào túi nó mấy chục là gỗ mười nó cũng kẹp thành gỗ tám. Mang tiếng là người của nhà nước, nhưng làm ăn theo mức khoán rồi, thế nên trạm nào có thân trạm ấy lo, thành ra đi buôn lậu hết.
Có người đàn bà nào vất vả như ta không? Mười hai năm góa chồng, vừa lo làm ăn vừa lo đối phó với trăm điều thị phi. Vừa lo giữ yên chỗ ngồi vừa lo quan hệ tốt xấu chỗ này, chỗ kia mà kiếm ăn.
Lần này thuê được thằng Học, cũng đỡ lo bị quân xin đểu dọc đường. Chỉ có ta mới biết dùng người. Trong sách chẳng nói “ Dụng nhân như dụng mộc”. Khúc nào to ta đóng tủ, khúc nào cong ta làm vạy cày. Con người cũng thế, ai cũng làm được tốt một việc gì đó, cốt là đặt họ vào đúng chỗ. Như lão Pháo đi bè thì cả vùng trời này không ai qua mặt. Mùa nước cạn khối bè không dám đi qua Ghềnh, mà lão Pháo vừa đi neo vừa hút thuốc. Cái lão dê già. Nó cứ dán mắt vào đùi người ta. Nó đâu biết ta cũng râm ran nóng từng thớ thịt khi bọn đàn ông thiêu đốt nó bằng những ánh mắt thèm muốn. Ta cũng chẳng phải hạng “ liệt nữ”, chẳng qua việc làm ăn, đối phó chiếm hết thời gian cuộc đời, ta cũng muốn được bàn tay đàn ông vuốt ve, ôm ấp lắm chứ.
(Còn nữa)