Đinh Đăng Lượng
KÝ ỨC VÙNG HỒ SÔNG ĐÀ
Vừa qua tôi có dịp trở lại vùng hồ sông Đà. Đi hết con đường mang tên Tây Tiến thuộc địa phận thành phố Hoà Bình là tỉnh lộ 435 thuộc xã Bình Thanh huyện Cao Phong. Được biết mấy năm qua tỉnh lộ 435 đã được tỉnh Hoà Bình đầu tư kéo dài từ xã Bình Thanh đến xóm Ngòi, xã Suối Hoa, huyện Tân Lạc nhằm đáp ứng cho qui hoạch: du lịch quốc gia Vùng hồ sông Đà thuộc địa phận tỉnh Hoà Bình, với chiều dài hai bẩy cây số, vì thế tôi rất háo hức muốn trở lại thăm.
Nhớ lại năm 1962, tôi mới 15 tuổi đang học lớp 7, lần đầu đi trên con đường này, qua bến phà Bưởi sang phía tả ngạn sông Đà, ngược lên xóm Trê, xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc. Đoàn có bốn người, đi xe đạp, đưa lễ ăn hỏi vợ cho ông cậu. Cậu tôi ở xóm Pheo, vợ chưa cưới của ông ở xóm Trê nên sau đó tôi có làm bài thơ “Tình nghĩa Trê - Pheo”. Bên này nhà vợ ông cậu nhìn qua bên kia suối, tôi thấy một người con gái rất xinh đang tập thể dục, sau này tôi mới biết đó là chị Đinh Thị Mến, diễn viên múa đoàn Văn công Hoà Bình và là vợ của cố nhạc sĩ Lê Tuế - người mà sau này tôi quen biết. Đó cũng là lần đầu tôi mục sở thị thác Bờ. Là mùa khô nên không có tiếng thác réo, chỉ thấy nhấp nhô đá to, đá nhỏ đang trầm tư ngồi ngẫm ngợi.
Lần này, trước mắt tôi là đoạn đường mới 435 như một dải lụa đang phơi trước nắng sớm, giữa một thảm thực vật xanh mướt mát của xã Thung Nai. Đây đó là nơi toạ lạc lâm trường Thung Nai xưa mà hồi nhỏ tôi đã lên thăm và ngủ lại một đêm cùng ông anh là công nhân lâm trường. Một đêm thức giấc nghe tiếng suối reo và tiếng con hoẵng tác gọi bạn tình, đến giờ vẫn còn văng vẳng bên tai. Đoạn kéo dài tỉnh lộ 435 đã mở ra một không gian đầy tiềm năng cuốn hút các nhà đầu tư vào các dự án du lịch phía hữu ngạn của hồ sông Đà, Hoà Bình. Vịnh Ngòi Hoa như một góc của Vịnh Hạ Long. “Con tàu trắng, biếc hồ sâu/ Phà xưa, bến cũ biết đâu mà dò” (Thơ Đinh Đăng Lượng “Người quê sông Rậm, bến Bờ”).

Tôi theo học ngành công nghiệp nhẹ chuyên về sản xuất Xenlulô - giấy thuộc đại học Bách Khoa, Hà Nội. Năm 1971 tốt nghiệp ra trường cũng là lúc nhà máy giấy Hoà Bình vừa đi vào sản xuất. Nguyên liệu cho nhà máy là loại cây thân thảo có sợi Xellulô như tre, nứa, vần, lành hanh… Do đó vùng nguyên liệu cho nhà máy chủ yếu là vùng ven sông Đà thuộc hai tỉnh Hoà Bình và Sơn La. Những năm 1970, nhà máy thu mua nứa, giang, lành hanh… thuộc các huyện Đà Bắc, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu. Để có đủ nguyên liệu cho nhà máy, Nhà nước có chính sách hỗ trợ bán đối ứng gạo cho người bán nứa theo qui định. Một lần, đầu năm 1986, với trách nhiệm là phó giám đốc nhà máy tôi lên chúc tết lãnh đạo và bà con xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc-địa phương cung cấp nhiều nứa nhất cho nhà máy. Tại trụ sở UBND xã bà con đang tổ chức họp mặt khai xuân thì tôi cùng với một cán bộ vật tư, lái xe đến. Lãnh đạo xã gồm ông Xa Xiểng - Chủ tịch, ông Đinh Văn Bì - Bí thư Đảng uỷ (anh trai ông Đinh Quang Phòng - nguyên bí thư huyện Đà Bắc, nguyên chủ tịch UBMT Tổ quốc Việt Nam tỉnh), ông Lê - thường trực Đảng uỷ, cho dừng họp để tiếp chúng tôi. Ông Xa Xiểng nói: “Thưa bà con xã nhà, xin giới thiệu với bà con hôm nay đồng chí Đinh Đăng Lượng - Phó giám đốc nhà máy giấy tỉnh đã bớt chút thời gian lên thăm và chúc tết xã nhà - Vỗ tay”. Tiếp đó, lãnh đạo xã phân công người thịt lợn, đồ xôi để tiếp chúng tôi. Sau đó ba ngày tôi có đến chúc tết “người chú khác họ” tại một xã bên kia sông Đà, phía hạ du. Trong bữa cơm, ông chú tôi giới thiệu với mấy ông bạn láng giềng đến dự bữa cơm: “Thằng cháu tôi đấy! phó giám đốc giấy Cánh Chành”. Thực tế nhà máy chúng tôi toạ lạc bên cạnh địa canh Cánh Chành (một cái ghềnh bên bờ sông Đà).
Cuối những năm 1980, vùng nguyên liệu thuộc địa phận tỉnh Hoà Bình cạn kiệt dần, chúng tôi phải vươn lên phía địa phận tỉnh Sơn La, dọc hai bên bờ sông Đà. Từ Song Khủa, Vạn Yên thuộc lâm trường Mộc Hạ huyện Mộc Châu ngược lên lâm trường Bắc Yên - huyện Bắc Yên, lâm trường Ít Ong, huyện Mường La. Vùng sâu hơn là các lâm trường Phù Yên huyện Phù Yên, lâm trường Sông Mã, huyện Sông Mã. Nguyên liêu sản xuất địa phận tỉnh Sơn La chủ yếu là tre tiếu. Tre tiếu mọc chủ yếu ven sông Đà nên phải khai thác sớm, tránh bị nước sông Đà dâng sẽ nhấn chìm.
Những bến phà Vạn Yên, Tạ Khoa, Ta Bú là nơi chúng tôi thường qua lại. Những đèo Cón (Phú Thọ qua Phù Yên, Sơn La), đèo Chẹn, Chiềng Hặc… cheo leo, hiểm trở đã đưa chúng tôi đến với các lâm trường ven sông Đà. Có lần lên với lâm trường Bắc Yên, xe bị sự cố chúng tôi phải ngủ lại trong xe trên đỉnh đèo Chẹn trong đêm đông gió rét - nơi đó cách ngã ba Cò Nòi hơn mười cây số. Lâm trường Bắc Yên toạ lạc ở bản Pe, bên bờ sông Đà, từ đó phải vượt con dốc gần mười cây số mới tới xã Phiêng Ban - nơi thị trấn huyện Bắc Yên toạ lạc. Đây là quê hương của nhà văn người Thái, Sa Phong Ba, với những tập truyện: “Những bông Ban tím”, “Vùng đồi gió quẩn”, “Truyện ở chân núi Hồng Ngài”. Người vợ đầu có với ông hai đứa con, rồi chia tay nhau, sau đó ông tục huyền với một cô gái người Mường cùng quê, sinh cho ông một đứa con trai rồi lâm trọng bệnh rồi mất. Đứa con trai lấy vợ có một cháu trai và cũng chia tay nhau. Con trai ông đang làm ở đài phát thanh và truyền hình tỉnh. Thế là ba bố con, ông cháu sống với nhau. Năm 1983, hội nghị những người viết văn trẻ - Hội Nhà Văn Việt Nam lần thứ hai, tại Cung Văn hoá Hữu Nghị Hà Nội, ban tổ chức mời Sa Phong Ba lên ngồi chủ tịch đoàn, gọi đến ba lần không thấy ông xuất hiện, nhà thơ Hữu Thỉnh - trưởng ban Văn học trẻ Hội nhà văn đã mời tôi lên thay. Gần đây Sa Phong Ba cho biết ông đã bỏ rượu và viết trở lại, gia đình đã làm nhà lui vào một khe suối, xa trung tâm thành phố Sơn La hơn.
Tại lâm trường Phù Yên tôi đã làm việc ông Giai - Giám đốc, sau đó ông chuyển sang làm Phó chủ tịch huyện Phù Yên. Ngày đó tôi đã vào thăm nhà thơ Đinh Lằm, tác giả của những bài thơ nổi tiếng: Ruộng bậc thang, Pí Rạ Đinh Lằm đã chiêu đãi tôi món Nậm Pịa và rượu gạo Mường Tấc. Phù Yên cũng là quê hương của nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Đinh Ân với những tác phẩm Đang Vân Va, Đẻ đất Đẻ nước…Sau này một lần duy nhất tôi gặp ông tại nhà riêng ở thành phố Sơn La. Cả hai ông Đinh Lằm và Đinh Ân đã về với tổ tiên, chỉ còn lại những tác phẩm của mình trên giá sách người đọc!
Trở lại với nguyên liệu tre tiếu. Sau khi nhận tre từ các lâm trường, chúng tôi thuê các ông nguyên là công nhân thuộc Công ty Lâm sản Hoà Bình - Tây Bắc ghép thành bè, xuôi sông Đà về nhà máy. Số tre tiếu từ Sơn La không những đủ cho nhà máy giấy Hoà Bình sản xuất mà còn hỗ trợ một phần cho Công ty giấy Bãi Bằng, thuộc cùng Tổng Công ty Giấy - Gỗ - Diêm Việt Nam. Giai đoạn chuẩn bị chặn dòng sông Đà, các bè tre tiếu phải đi qua kênh bờ phải nên đôi lần bị vỡ bè, nhà máy phải cho người vớt từng cây tre gom vào bờ phía hạ lưu đập thuỷ điện Hoà Bình.
Những năm 1980-1990 sản phẩm giấy Cráp, dùng làm bao bì hòm hộp đựng hàng của nhà máy chúng tôi có chất lượng đứng đầu cả nước do có nguyên liệu, công nghệ sản xuất tốt, cho nên thường dùng làm bao bì hàng xuất khẩu. Giai đoạn này nhà máy giấy Hoà Bình còn sản xuất mặt hàng từ dịch thải sau nấu bột, làm phụ gia bê tông KDT2, đó là kết quả nghiên cứu từ Viện vật liệu xây dựng bộ xây dựng và cán bộ kỹ thuật nhà máy. Bê tông khối lớn của nhà máy thuỷ điện Hoà Bình sử dụng 100% loại phụ gia này. Trộn một tỷ lệ nhất định phụ gia vào bê tông sẽ giúp cho bê tông chậm đông kết, sau mỗi lần đổ không bị phân lớp, tăng độ chống thấm, tăng cường độ chịu lực cho bê tông.
Kể từ lần đầu tôi đến với thác Bờ cũng như tiến hành khai thác các loại lâm sản làm giàu cho đất nước đã trên nửa thế kỷ. Từ một con sông hung dữ “Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh”, hai bờ bạt ngàn tre nứa, như hai vạt áo khép-mở theo hai mùa đầy-vơi thì ngày nay sông Đà như một Vịnh Hạ Long thu nhỏ giữa vùng trời Tây Bắc Tổ quốc. Các thung lũng, cửa ngòi trở thành những vịnh nước xanh ngắt soi bóng bao ngọn núi như những bức tranh thuỷ mặc. Những bàn nhỏ như xóm Trê, xã Hào Tráng đã chuyển lên cao từ lâu, đến với xã Tu Lý để thành xã Hào Lý người đông đúc và giàu có như ngày nay. Các cây tre nứa…qua công nghệ sản xuất của nhà máy giấy một phần đã vĩnh viễn ở lại với bê tông Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình. Những lâm trường, nhà máy đã sáp nhập, phá sản, giải thể, chắc nó làm tròn vai trò lịch sử của mình?
Để ứng xử công bằng, có trước có sau, có vay có trả với vùng hồ sông Đà, con người đã và đang làm nhiều việc. Qui hoạch vùng hồ thành trung tâm du lịch quốc gia, nối dài đường 435, mở đường cao tốc Hoà Bình - Sơn La, đi qua các xã vùng tả ngạn sông Đà thuộc huyện Đà Bắc. Một vùng “biển hồ trên núi” sau nửa thế kỷ thưa vắng sẽ tấp nập tàu thuyền và con người trở lại đông đúc hơn trước để làm giàu trên một vùng đất - nước hào phóng thơ mộng và rất nhiều trầm tích văn hoá của Tổ quốc.
Hoà Bình ngày 3/11/2021
Đ.Đ.L