Đoàn Trung Hiếu
GIÓ ĐẤT ĐÃ LÊN – MÂY TRỜI ĐÃ MỎNG
TRĂNG QUẦNG ĐÃ TAN
Đọc Trường Ca: TRĂNG QUẦNG của Đỗ Hàn
Ngôn ngữ thơ trong Trường Ca TRĂNG QUẦNG vượt lên trên, vượt ra ngoài khuôn mẫu của ngôn ngữ thông thường nhưng vẫn không thoát ly cuộc sống. Mỗi chương là một tổ hợp các con chữ (7 chương). Số tổ hợp đó có sự gắn bó máu thịt giữa thơ và triết, triết và thơ. Thơ biểu hiện quan điểm của triết học, triết học thẩm thấu vào hình tượng thơ, ẩn tàng trong hình tượng ấy:
Một đêm trăng quầng
gió rờn mát triền sông…
Làng Đô Hoàng thức trắng
như đợi điều kỳ lạ
Trăng lẻ treo trên đỉnh núi Bô
úa màu sỏi đá
Một bóng người tất tả
Trên bãi đất nâu tên gọi Sao Sa …
Trong quá trình giao thoa của ý thức, tiềm thức, dưới sự điều khiển của ý thức, Trường Ca của Đỗ Hàn đã tạo hình cho cả làn gió, tạo hình cho cả sắc màu (úa màu sỏi đá), tạo hình cho cả địa danh (làng Đô Hoàng thức trắng) – (trăng lẻ treo trên đỉnh núi Bô). Không thấy hình thì ghi lại bóng, không bắt được bóng thì ghi lại âm vang
Người nằm trong ánh chớp
Người nằm giữa trang thơ
Hai linh hồn yêu nước
Mà vỗ ở hai bờ
Đây là bốn câu thơ Đỗ Hàn viết về Nguyễn Thái Học và Hoàng Nhượng Tống. Hai nhà yêu nước nhưng lại hành động theo hai hướng khác nhau. Thời gian đã phân định để Hoàng Nhượng Tống tự nói ra
Anh Học ơi
Anh là mặt trời
rực lửa
Cháy một lần cho cả bầu trời rạng sáng
Tôi là ánh trăng
lẻ loi
trôi chậm giữa đêm,
không đủ sức đánh thức một miền bóng tối
Đấy là tiếng lòng Nhượng Tống tự phán xét mình. Ông Đỗ Hàn – Giám đốc Trung tâm quyền tác giả Văn Học Việt Nam nghe được tiếng lòng ấy nên càng thương một chí sĩ yêu nước, một dịch giả, một nhà văn tài năng nhưng mờ trong trời đất… ?
Viết Trường Ca TRĂNG QUẦNG, Đỗ Hàn đã để cho Hoàng Nhượng Tống hóa thân vào vầng trăng : Trăng lẻ (trăng đơn độc), trăng khuất (không thấy trăng), trăng lu (nhiều sương mù che lấp), trăng mờ (hư ảo), trăng quầng (đại hạn thiếu nước) trăng tỏa (phải gắng gỏi lắm mới tỏa ra được vầng sáng yếu ớt), vì vậy Đỗ Hàn mới không gọi là trăng sáng. Nhượng Tống được đất khai vận nhưng trời lại chẳng hiển linh.
Trường Ca TRĂNG QUẦNG của Đỗ Hàn viết về Hoàng Nhượng Tống có rất nhiều hình ảnh, Đỗ Hàn phải chọn hình ảnh đắt nhất trong hàng nghìn từ, Đỗ Hàn phải chọn những từ thần diệu nhất để biểu đạt minh triết những điều Đỗ Hàn muốn nói mà người nghe cũng muốn nghe, thích nghe. Đây là cả một quá trình chuyển hóa nội dung vào hình thức nghệ thuật. Câu thơ đã báo hiệu
Một bên là tiếng súng/ Một bên là lời thơ
Một bên là giông bão/ Một bên là sương mờ
Và : Người hô vang trận tuyến/ Người ngồi viết nhân quyền
Người tin vào máu lửa/ Người tin vào lòng dân
Sứ mệnh của nghệ thuật thơ luôn luôn khai mở cảm xúc, trí tuệ tiềm ẩn trong con người. Người nào biết đọc những câu thơ ấy thì lập tức gọi dậy được những câu thơ của mình còn nằm sâu trong ký ức. Đỗ Hàn đã làm được điều đó khi viết về Hoàng Nhượng Tống.
Ba anh em ruột : Hoàng Nhượng Tống là anh cả, Đỗ Hàn đã viết có thủy có chung (tức là có trước có sau). Nhưng bạn đọc chưa biết gia đình ấy ở Nam Định đã để lại nhiều tiếng thơm. Hoàng Trọng Huống anh thứ hai là kỹ sư canh nông tỉnh Vĩnh Phúc, vừa là thầy dạy, vừa là thư ký riêng cho ông Kim Ngọc – Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc, người sáng tạo ra Khoán hộ nổi tiếng trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Hoàng Trung Tích là em út. Lúc thiếu thời Hoàng Trung Tích học ở khu học xá Trung Quốc. Hoàng Trung Tích văn võ song toàn, là Trưởng ty giáo dục tỉnh Nam Định. Ông là Trưởng ty giáo dục tài năng và đức độ, cả nước không thể tìm được Trưởng ty giáo dục thứ hai giỏi như ông. Bộ trưởng Bộ giáo dục rất trọng dụng ông. Cả ba anh em đều thông minh hơn người và có rất nhiều tài năng. Cả ba anh em đều mang theo lời dặn của cha - Ông Hoàng Hồ : « Thiếu gì thì thiếu nhưng nhất thiết không được thiếu ĐỨC » (tôi xin phép chữ ĐỨC hoa in). Cả ba anh em đều là con nhà nòi của đạo nho uyên bác. Hoàng Nhượng Tống giỏi pháp văn, hán văn. Nhượng Tống dịch Liêu trai chí dị còn tài hoa hơn cả nguyên tác của Bồ Tùng Linh.
Nhượng Tống là anh cả nhưng lại không thành đạt bằng hai em. Vì sao ? Hành động tư duy là đặc quyền tối cao của mỗi người trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đã không đổi mới tư duy lại còn ôm giữ mãi tổ chức Quốc dân đảng. Ngày 03/02/1930 khi Bác Hồ sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam thì cách mạng Việt Nam chỉ duy nhất có một chính đảng đó là Đảng cộng sản, mọi Đảng phái khác đều mờ đi hoặc phải tự xóa tên, giải thể.
Tráng chí nửa đời, hồn thiêng muôn dặm. Rộng cửa càn khôn nhưng lại chưa thông nguồn tạo hóa nên đoản mệnh - Đó là Hoàng Phạm Trân, tức Nhượng Tống.
Đỗ Hàn ngẩng nhìn trời, thấy một vầng Trăng Quầng- thật chí lý lắm thay…
Nam Định tháng 12/2025
H.T.H