Lê Quốc Khánh
SẮC PHONG QUÝ TẠI ĐÌNH LIÊU - HUYỆN YÊN THỦY
Đình Liêu tọa lạc tại xóm Liêu, xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Theo các bản sắc phong còn lưu được, đình Liêu thờ. Nguyễn Minh Khổng Lộ Giác Hải Cao sơn, Tôn thần Đoan túc Dực bảo Trung Hưng Bảo Liêu Quốc công, Tràng Ngọ Linh ứng Đại vương, Thuỷ tề Long vương.
Căn cứ vào những dấu vết hiện còn của nền móng, qua lời kể của các cụ cao tuổi trong xóm cho biết: Đình Liêu xưa là do dân đóng góp xây dựng lên bằng loại cây gỗ tốt tạo thành một ngôi đình lớn, khang trang vào bậc nhất của xã Ngọc Lương. Đình Liêu tọa lạc trên một khu đất rộng, bằng phẳng tại xóm Liêu, xã Ngọc Lương. Mặt đình quay về hướng chính nam. Kiến trúc gồm 2 hạng mục chính nhà đại đình và hậu cung hình chữ Đinh (J). Tường rào bao quanh khuôn viên của đình được dựng bằng những viên đá xanh hình khối gọt đẽo công phu dài 110cm, rộng 40 x 40cm. Phía trước đình là khoảng sân rộng được lát gạch đỏ.
Nhà đại đình
Nhà đại đình rộng 12m, dài 25m cũng được lát gạch đỏ, bao gồm ba gian, hai chái với 6 vì kèo và 6 hàng chân cột.
Hệ thống vì kèo và hệ thống cột của đình được làm bằng gỗ lim. Kết cấu của vì kèo theo kiến trúc kiểu chồng rường giá chiêng, bào trơn đóng bén.
Cột cái có đường kính khoảng 45cm, cột quân có đường kính khoảng 35cm. Các cột cái cao 4,5m, cột quân cao 4m, chân cột được kê bằng đá hình vuông.
Nhà có bốn mái xòa ra bốn phía, góc mái khớp lại uốn lên thành hoa đao, rìa mái là đường thẳng chạy ra hai đầu cong vênh thật nhẹ nhàng.
Gắn với mái là các bờ nóc, bờ giải, đầu kìm, con xô và đao. Bờ nóc và bờ giải đều đắp cao thành đường gân cứng cáp.
Về điêu khắc: kiến trúc nhà đại đình được trang trí theo lối chạm trổ bong kênh, rồng phượng, hoa lá mang phong cách thời Lê rất rõ nét. Hai đầu hồi được chạm hai đầu hổ phù ngậm chữ thọ, nét chạm trổ tinh tế, điêu luyện.
Nhà hậu cung
Được thiết kế với 6 hàng chân cột, 6 bộ vì với kết cấu theo kiểu chồng rường giá chiêng.
Nhà hậu cung được thiết kế theo kiểu bốn mái lợp gianh, gian cuối của hậu cung là hương án đặt ngai thờ cùng các đồ tế tự khác.
Đến năm 1951, đình bị bắn cháy hoàn toàn, chỉ còn lại 12 sắc phong, 3 bát hương, 2 con nghê, một trống con (trống tiêu cổ) và một số đồ thờ tự khác.
Căn cứ vào nội dung sắc phong sớm nhất của đình còn giữ được có ghi: “Cảnh Hưng tứ thập tứ niên thất nguyệt nhị thập lục nhật”, tức là ngày 26 tháng 7 niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783), thì đình Liêu được xây dựng muộn nhất vào năm 1783 (tức vào thời Lê).
Sắc thứ nhất
Phiên âm
Sắc Tràng Ngò Linh ứng Đại vương Hùng tài Dũng lược Thành tín Ứng cảm Linh thông Tập chúng Tán nữ, Phô dũng Dương uy Hộ Quốc Quảng đức Phổ huệ Trợ thắng Tuy chúng An dân Hác đạt Chương thiện Chiêu Nghi Đại vương. Nam thiên chính khí, Tây thổ phúc thần. Tí thử phương ngung hựu sinh dân nhân thọ, tích thời thuần hỗ diễn quốc mạch Thái bàn doãn phù trị nhĩ chi trưng. Cái cứ biên vu chi điển. Vi tự Vương tiến phong Vương vị, lâm cư chính phủ, lễ hữu đăng trật. Ứng gia phong mĩ tự khả gia phong: Tràng Ngò Linh ứng Đại vương Hùng tài Dũng lược Thành tín ứng cảm Linh thông Tập chúng Tán nữ, Phô dũng, Dương uy hộ quốc Quảng đức Phổ huệ Trợ thắng Tuy chúng An dân Hác đạt Chương thiện Chiêu nghi Đại độ Hồng dung Đại vương. Cố sắc.
Cảnh Hưng tứ thập tứ niên thất nguyệt nhị thập lục nhật.
Dịch nghĩa
Sắc chỉ cho Chàng Ngò Linh ứng Đại vương: Hùng tài Dũng lược Thành tín Ứng cảm Linh thông Tập chúng Tán nữ, Phô dũng Dương uy Hộ Quốc Quảng đức Phổ huệ Trợ thắng Tuy chúng An dân Hác đạt Chương thiện Chiêu Nghi Đại vương. Thần là chính khí của Nam thiên là Phúc thần Tây thổ. Thần đã phù giúp cho dân sinh trong cõi được trẻ trung trường thọ; Luôn giúp cho vận nước lâu dài như Thái Sơn, Bàn Thạch. Thần đã để lại sự tốt đẹp trong lòng dân. Há lại không có điển lễ thờ cúng khắp nơi? Là vị Vương nối dõi được tiến phong ngôi vua, sắp tham dự vào triều chính nên có mở lễ nâng bậc. Thần được xứng đáng gia phong mĩ tự: Chàng Ngò Linh ứng Đại Vương hùng tài Dũng lược Thành tín Ứng cảm Linh thông Tập chúng Tán nữ, Phô dũng Dương uy Hộ quốc Quảng đức Phổ huệ Trợ thắng Tuy chúng An dân Hác đạt Chương thiện Chiêu nghi Đại độ Hồng dung Đại vương. Cho nên ban cấp sắc phong.
Ngày 26 tháng 7 niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783).
Sắc thứ hai
Phiên âm
Sắc Nguyễn Minh Khổng Lộ Giác Hải Cao sơn Hiển ứng Hộ Quốc Tế thế An dân Tuy lộc Phổ hóa Tuyên triết Phong công Vĩ tích Kính thiên Pháp tổ Diễm phúc Tuy lộc Hoằng hưu Tích phúc Phù vận Trạch dương Diệu cảm Tá tích Quảng dụ Đốc hựu Diệu uy Dũng vũ Trợ chính Tá thánh Hùng tài Vĩ lược Nhân minh Anh quả Cương chính Hồng mô Triệu bình Khang quốc Tá trị Thuỳ hưu Tá tích Uy hùng Khoan hòa Chính trực Minh mô Khoa đoán Anh duệ Thông nghị Hác đạt Đại đô Chiếu hưu Phổ duệ Dụ trạch Đại vương. Phù du dựng tú, khuông trung linh ứng, thử phúc phương ngung khang dân sinh vũ xuân thọ, tích thời thuần hỗ, diễn quốc vũ mạch khang bàn doãn phù nhĩ chi trưng. Cái cử biên vu chi điển. Vi tự viên tiến phong Vương vị, lâm cư chính phủ, lễ hữu đăng trật. Ứng gia phong mĩ tự, khả gia phong: Nguyễn Minh Khổng Lộ Giác Hải Cao Sơn Hiển ứng Hộ quốc Tế thế An dân Tuy lộc Phổ hoá, Tuyên triết Phong công Vĩ tích Kính thiên Pháp tổ Diễn phúc Tuy lộc Hoằng hưu Tích phúc Phù vận Vận trạch Dương Diệu cảm Tá tích quảng dụ Đốc hựu Diệu uy Dũng vũ Trợ chính Tá thánh Hùng tài Vĩ lược Nhân minh Anh quả Cương chính Hồng mô Triệu bình Khang quốc Tá trị Thùy hưu tá tích Uy hùng Khoan hòa Chính trực Minh mô Khoa đoán Anh duệ Thông nghị Hác đạc Đại đô Chiếu hưu Phổ huệ Dụ trạch Ứng thông Bác hậu Địch triết Đại vương cố sắc.
Cảnh Hưng tứ thập tứ niên thất nguyệt nhị thập, lục nhật.
Dịch nghĩa
Sắc chỉ ban cho Nguyễn Minh Khổng Lộ Giác Hải Cao Sơn Hiển ứng Hộ quốc Tế thế An dân Tuy lộc Phổ hóa Tuyên triết Phong công Vĩ tích Kính thiên Pháp tổ Diễn phúc Tuy lộc Hoằng hưu Tích phúc Phù vận Trạch dương Diệu cảm Tá tích Quảng dụ Đốc hựu Diệu uy Dũng vũ Trợ Chính Tá thánh Hung tài Vĩ lược Nhân minh Anh quả cương chính Hồng mô Triệu bình Khang quốc, Tá trị Thuỳ hưu, Tá tích Uy hùng Khoan hòa Chính trực Minh mô Khoa đoán Anh duệ Thông nghị Hác đạt Đại đô Chiếu hưu Phổ duệ Dụ trạch Đại vương. Thần đã phù giúp cho cơ đồ tốt đẹp, phù giúp sự chung đúc linh thiêng, phù giúp cho dân sinh trong cõi được trẻ trung trường thọ. Luôn giúp cho vận nước được kéo dài như Thái Sơn, bàn thạch. Thần đã để lại sự tốt đẹp trong lòng dân há lại không có điển lễ thờ cúng khắp nơi? Là vị Vương nối dõi được tiến phong ngôi vua sắp tham dự vào triều chính nên có mở lễ nâng bậc, gia phong mĩ tự. Xứng đáng gia phong là: Nguyễn Minh Khổng Lộ Giác Hải Cao Sơn Hiển ứng Hộ quốc Tế thế An dân Tuy lộc Phổ hoá, Tuyên triết Phong công, Vĩ tích Kính thiên Pháp tổ Diễn phúc Tuy lộc Hoằng hưu Tích phúc Phù vận Trạch dương Diệu cảm Tá tích Quảng dụ Đốc hựu Diệu uy Dũng vũ Trợ chính Tá thánh Hùng tài Vĩ lược Nhân minh Anh quả Cương chính Hồng mô Triệu bình Khang quốc Tá trị Thùy hưu Tá tích Uy hùng Khoan hòa Chính trực Minh mô Khoa đoán Anh duệ Thông nghị Hác đạt Đại độ Chiếu hưu Phổ huệ Dụ trạch Ứng thông Bác hậu Địch triết Đại vương. Cho nên ban cấp sắc phong.
Ngày 26 tháng 7 niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783).
Sắc thứ ba
Phiên âm
Sắc Ninh Bình tỉnh, Nho Quan Phủ, Ngọc Ủng xã, Liêu thôn tòng tiền phụng sự. Nguyên tặng Đoan túc Dực bảo Trung hưng Bảo Liêu Quốc công tôn thần. Hộ quốc tý dân nẫm trứ linh ứng , tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trực Trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Trứ gia tặng: Quang Ý Trung đẳng thần. Đặc chuẩn phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!
Khải Định cửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.
Dịch nghĩa
Sắc chỉ ban cho thôn Liêu, xã Ngọc Ủng, phủ Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, theo như trước đây thờ phụng: Vị Tôn thần Đoan túc Dực bảo Trung hưng, Bảo Liêu Quốc Công. Thần đã bảo vệ đất nước, che chở cho dân rất là linh ứng, nên đã được các triều đại ban cấp sắc phong; Chuẩn định cho phép [dân thôn] thờ phụng. Nay, đúng dịp lễ lớn mừng Trẫm thọ 40 tuổi; Trẫm đã ban chiếu báo ân lớn, long trọng mở lễ nâng bậc. Truyền cho được gia tặng Quang Ý Trung đẳng thần. Đặc biệt chuẩn định cho phép [dân thôn] thờ phụng, để ghi nhớ ngày vui của đất nước mà kéo dài điển lễ thờ phụng. Kính cẩn thay!
Ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1924).
Ngoài ra còn 9 sắc phong còn lại cũng là sắc phong cho Nguyễn Minh Khổng Lộ Giác Hải Cao Sơn; Vị Tôn thần Đoan túc Dực bảo Trung hưng Bảo Liêu Quốc công, Tràng Ngọ Linh ứng Đại Vương và Thủy tề Long vương.
Sắc phong (sắc chỉ phong tước) là hành vi do nhà vua nhân danh Thiên tử tiến hành phong tặng và xếp hạng cho các vị thần được thờ cúng trong các đình làng. Sắc phong ở Hòa Bình chủ yếu là của giai đoạn triều Nguyễn, hiếm của giai đoạn triều Lê. Lời lẽ văn phong sắc phong triều Lê cũng vô cùng lãng mạn và sâu sắc. Đình Liêu giữ được 2 bản sắc triều Lê ban, thực như ngọc quý của di tích cần được gìn giữ hết sức cẩn trọng.
Năm 2020
ĐÌNH MƯỜNG HÒA BÌNH TRÊN ĐẠI NGÀN TÂY NGUYÊN
Trong lịch sử, người Mường ở Hòa Bình chưa có tiền lệ di cư tập thể như các cuộc thiên di của các dân tộc khác, từ gia đình nhỏ đến mường lớn đều định cư. Người Mường Hòa Bình di cư vào Tây Nguyên do nhiều nguyên cớ nhưng một điều chắc chắn là khi phải bỏ nơi “chôn nhau, cắt rốn”, đất đai của tổ tiên họ không khỏi lưu luyến. Trong hành trang đi tới đất mới, thứ quý giá nhất của đồng bào Mường chính là hai tiếng thiêng liêng: "Đình làng".
Khu vực Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, tỉnh nào cũng có người Mường Hòa Bình sinh sống. Tuy nhiên, trong đó chỉ có xã Hòa Thắng, Tp. Buôn Ma Thuột là có đình làng của người Mường Hòa Bình. Các khu vực khác như Ia Lâu, Ia Mơ, Ia Piơr thuộc huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, xã Hòa Nam, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và nhiều xã khác trên đất Tây nguyên có người Mường ở Hòa Bình sinh sống nhưng không thấy có đình làng.
Xã Hòa Thắng có người Mường ở 3 thôn 1, 2, 3, chiếm khoảng 25% dân số toàn xã, cộng đồng người Mường ở xã Hòa Thắng vào đất Tây Nguyên từ những năm giữa của thế kỷ XX. Mỗi xóm Mường ở Hòa Bình về đây thành một mường (nằm chủ yếu ở các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong, Kim Bôi, Kỳ Sơn, Tp. Hòa Bình. Người Mường ở xã Hòa Thắng được gọi theo từng địa danh nơi họ xuất xứ ra đi gồm các địa danh mường lớn ở Hòa Bình: Mường Pi Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động. Ngoài ra còn ở các mường nhỏ trong khối các mường lớn: Mường Vó (Lạc Sơn), Mường Khang, Mường Khến, Mường Rậm, Mường Khụ, Mường Đà, Mường Chùa, Mường Hạ, Mường Mạc, Mường Dâm, Mường Giác, Mường Côốc, Mường Vát, Mường Ót, Mường Khuộn, Mường Thịnh Lang, Mường Cắt, Mường Cỏ… Những mường có điều kiện và có số người đông hơn thì lập ra riêng cho mường mình một ngôi đình.
Hiện nay, tại xã Hòa Thắng có 7 ngôi đình: Thịnh Lang 1, Thịnh Lang 2, đình Lạc Sơn 1, đình Lạc Sơn 2, đình Mường Pi, đình Cao Phong, đình Thạch Yên. Đình Thịnh Lang gồm 2 đình. Đình 1 tọa lạc tại thôn 3, đình do người Mường ở Thịnh Lang, thành phố Hòa Bình (hiện nay) xây dựng. Năm 1956, người Mường ở Hòa Thắng chưa ở đất này, họ vào Hoàng Ân (cách Tp. Pleiku hơn 30km) làm nghề hái chè thuê cho một đồn điền của Pháp (nay là Công ty TNHH MTV Chè Bàu Cạn, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai) lập làng và dựng đình tại đây.
Tuy nhiên ở đây được khoảng ít thời gian, thấy không hợp thổ nhưỡng, điều kiện canh tác dài lâu nên chức sắc làng mới cho dân di cư về xã Hòa Thắng ngày nay. Họ lập làng và dựng lên những ngôi đình đầu tiên, đình đầu tiên được xây dựng là đình Thịnh Lang. Ban đầu đình được dựng bằng tranh tre, nứa lá đơn giản, sắc phong, thần phả và nhiều tài liệu chữ Hán khác ghi chép về Thịnh Lang mang theo từ Hòa Bình để tại đình. Không may, hơn 1 năm sau, đình bị cháy và thiêu rụi toàn bộ “hồn cốt” của ngôi đình. Năm 1970, đình được tu bổ lại như ngày nay nhưng địa điểm mới cách địa điểm bị cháy trước kia khoảng 100m. Đình tọa lạc tại thôn 3, xã Hòa Thắng rộng khoảng 100m2. Đình gồm 3 gian, 1 hậu cung, cột, kèo được làm bằng gỗ thông, các cột đều được sơn màu đỏ. Ba phía để trống (không tường), hậu cung được xây bằng gạch, mái lợp tôn giả ngói. Đình thờ Thành hoàng là Tản Viên Sơn Thánh và tam vị quận công.
Năm 1967, Đình Thịnh Lang 2 được tách ra từ đình Thịnh Lang 1. Đình được tách ra vì dân Mường Thịnh Lang tại thôn 1 đi lên đình quá xa, đường đi có nhiều thú dữ rất nguy hiểm, hơn nữa ở thôn 3 dân Mường Thịnh Lang lại quá đông nên xin xây mới một ngôi đình tương tự cách 2km về phía đông nam. Đình tọa lạc tại Thôn 1, ban đầu làm bằng tranh tre nứa lá đơn giản. Cấu tạo đình, nội dung thờ tự cũng tương tự như đình Thịnh Lang 1. Những năm gần đây đình được tu bổ lại rất khang trang, 3 phía được xây bịt kín, sân rộng trên 300m2 rất bề thế.
Nằm tại thôn 3, đình Cao Phong được xây vào năm 1957, tuy không phải là ngôi đình to, bề thế, xong hai cây thông cổ thụ trước cửa đình và 9 cây hoa đại lớn lại là điểm nhấn cho sự thâm nghiêm, cổ quý của ngôi đình. Ban đầu, đình làm bằng tranh tre, nứa lá đơn sơ, mộc mạc. Đến năm 2000 - 2003, đình mới được phục dựng, xây lại khang trang, gồm nhà hậu cung, nhà tiền tế, mái đình lợp tôn không trang trí. Đình thờ Tản Viên Sơn Thánh.
Cũng nằm trên thôn 3, đình Thạch Yên (của cộng đồng người Mường tại Yên Thượng, Yên Lập, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình) được xây dựng vào những năm giữa của thế kỷ XX và được tu sửa lại vào năm 2003 - 2004. Đình được xây dựng đơn giản là ngôi nhà để thông 2 phía rộng trên 50m2 trên 1 mảnh đất rộng và bằng phẳng. Đình thờ Tản Viên Sơn Thánh và 2 vị thành hoàng của Mường Úi (thuộc huyện Tân Lạc), Mường Đau (thuộc huyện Lạc Sơn).
Tương tự như đình Thịnh Lang, đình Lạc Sơn cũng được chia làm hai. Đình Lạc Sơn 1 tọa lạc tại thôn 2. Đình được xây năm 1959 và được tu sửa năm 1999. Đình rộng gần 50m2, xung quanh xây bịt kín. Đình Lạc Sơn 1 thờ Quốc mẫu Hoàng Bà, Tản Viên Sơn Thánh - hai vị Thành hoàng đất nước. Đình Lạc Sơn 2 được tách ra từ Đình Lạc Sơn 1 khoảng năm 1963 - 1964, nằm cách đình Lạc Sơn 1 khoảng 1km về phía đông, đình nhỏ khoảng 24 - 25m2 nhưng lại tọa lạc trên mảnh đất khá rộng trên 1000m2. Sự chia tách cũng do nguyên nhân số dân Mường Lạc Sơn ngày càng đông lên. Năm 1973, đình bị cháy, đến năm 2003 đình mới được phục dựng lại và tồn tại cho đến ngày nay. Đình Lạc Sơn 2 cũng thờ thành hoàng tương tự như đình 1, các ngày việc của đình cũng giống nhau.
Nổi tiếng linh thiêng phải nói đến đình Mường Pi, Đình tọa lạc tại thôn 3 của xã Hòa Thắng. Đình trông cổ kính và thâm nghiêm vì khuôn viên đình có cây đa cổ thụ gốc, rễ sù sì... Được xây dựng từ năm 1963, ban đầu cũng bằng tranh tre, nứa lá đơn giản nhưng kết cấu kiến trúc thì vẫn đầy đủ, gồm nhà hậu cung, nhà tiền tế. Sau này đình mới được xây dựng lại bằng nhà xây bán kiên cố, mái lợp tôn. Thủ nhang đình Mường Pi cho chúng tôi biết, không rõ thành hoàng thờ tại đình là ai, lý do được đưa ra là không dám gọi tên húy của các ngài, rồi qua nhiều thế hệ nhân dân quên mất tên của thành hoàng. Chỉ biết rằng khi khấn thì gọi tên: “Hai anh em nhà Hoàng Khang Quang đại lệnh” là thành hoàng tại xã Phú Cường, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình ngày nay.
Không có nơi nào trong một xã lại có nhiều ngôi đình như ở xã Hòa Thắng. Có đến bảy ngôi đình chưa kể 1 - 2 ngôi đền khác. Mỗi đình một vẻ nhưng đều xây dựng tương đối giống nhau về mặt kiến trúc, đơn giản và gần gũi, lấy màu đỏ làm màu chủ đạo. Đình không được chạm trổ cầu kỳ như các đình của người Kinh, nhưng chắc chắn bề thế hơn các đình Mường tại tỉnh Hòa Bình. Thành hoàng thường thờ là Thánh Tản Viên. Họ tôn kính coi Thánh Tản Viên như vua Mường (Vua Pa ví) và tôn vinh mẹ của Đức Thánh Tản là Quốc Mẫu Hoàng Bà. Sự tôn kính thờ phụng này cũng giống như người Mường ở quê nhà Hòa Bình (trong 82 di tích đình của tỉnh Hòa Bình có tới 37 đình thờ Tản Viên Sơn Thánh. Một số đình lớn khác thờ mẹ của ngài như: đình Miếu xóm Lũy, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, đình Cổi, xã Bình Chân, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình…).
Ở làng người Việt (có thể có nhiều xóm) hoặc làng của người Mường ở Hòa Bình mỗi làng chỉ có một ngôi đình, có khi vài làng mới có một đình. Đình ở Hòa Thắng mọc lên dày đặc, 3 xóm của người Mường ở Hòa Thắng chiếm 25% dân số của xã mà có đến 7 ngôi đình và vài ba ngôi đền là một điều lạ, đã vượt qua nhận thức truyền thống. Đơn giản vì người Hòa Thắng đến đây từ nhiều mường khác nhau, mỗi mường tập trung thành một cụm. Mỗi ngôi đình đại diện cho một vùng Mường chứ không dừng lại là điểm tập trung tín ngưỡng như lý thuyết thông thường chúng ta đang hiểu trong các ngôi đình phổ biến hiện nay. Họ làm đình với ý niệm tâm linh ngưỡng vọng về quê cha, đất mẹ.
Từ những mảng văn hóa truyền thống còn được gìn giữ lại cho đến ngày nay, từ những ngôi đình ngưỡng vọng mà lễ hội dân gian được thực hành trong trí nhớ nhưng vẫn giữ được tính "nguyên bản" hầu hết không có sự biến đổi nào từ 50 năm qua cho thấy sự bảo tồn di sản của những nguời xa xứ dường như tốt hơn nơi quê gốc. Chứng kiến lễ hội và những hoạt động văn hóa tín ngưỡng của các ngôi đình Mường ở nơi này mới cảm nhận được cái gốc cổ Mường chưa bị văn hóa hiện đại can thiệp thô thiển vào di sản, đúng là phải “Đi xa để tìm gần”.
Năm 2018
NHÀ SÀN MƯỜNG Ở TÂY NGUYÊN
Tây Nguyên xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Tỉnh nào cũng có Người Mường ở Hòa Bình sinh sống. Tuy nhiên tập trung nhiều nhất là các xã Hòa Thắng, Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; xã Ia Lâu, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai, xã Ia Mơr và Ia Piơr, đều thuộc huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai, huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng; thôn Bắc Phong, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum và xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum…
Nhà sàn ở Tây Nguyên có rất nhiều loại và của nhiều dân tộc khác nhau. Nhà sàn dạng kiên cố thường là nhà của tộc người Xơ Đăng, ÊĐê, Gia Rai. Nhà sàn dạng bán kiên cố là nhà sàn của người Cơ Tu, Xơ Đăng, Ba Na. Nhà sàn dạng tạm bợ là những nhà sàn của người dân tộc phía nam như Giẻ Triêng, Mnông... Nhà sàn phía bắc di cư vào được coi là có những nhà bề thế của các dân tộc Thái, Mường, Tày…
Mỗi dân tộc có cách khác nhau để giải thích sự tích tạo nên kiến trúc ngôi nhà sàn của mình. Nhà sàn của người Mường (truyền thống) được tạo nên theo cách dạy của Rùa: nhà có 4 mái, độ dốc thấp, vươn dài ra tạo độ rộng cho ngôi nhà. Nhà to thì 3, 4, 5 gian 2 chái, nhà nhỏ hơn thì 2, 1 gian 2 chái nên dù đứng giữa rất nhiều ngôi nhà sàn của các dân tộc khác thì vẫn dễ dàng nhận ra nhà sàn Mường bởi sự nổi bật, cầu kỳ, bề thế.
Người Mường ở Hòa Bình về Tây Nguyên sinh sống do nhiều căn nguyên khác nhau. Khi đi họ mang theo những “biểu tượng di sản”, quan trọng nhất là ngôn ngữ, trang phục và ngôi nhà sàn. Tuy nhiên tùy từng địa hình và điều kiện (gỗ, lạt…) khác nhau mà nơi này, nơi kia số lượng nhà sàn cũng khác nhau.
Ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum có 2 thôn nhiều người Mường nhất là Bắc Phong (được lấy từ chữ Bắc của Đà Bắc ghép với chữ Phong của xã Tiền Phong huyện Đà Bắc) và xã Sa Loong (người Mường di cư vào đây nhường đất cho thủy điện Hòa Bình) chỉ còn sót lại một ngôi nhà sàn của bố anh Sa Văn Khương - Bí thư thôn Bắc Phong. Chúng tôi hỏi nguyên nhân làm sao nguời Mường Hòa Bình vào đây lại không ở nhà sàn truyền thống của mình? Anh Sa Văn Khoa lý giải: “Khi vào đây (năm 1992) nhân dân đã được Nhà nước xây sẵn khu tái định cư, lúc đó điều kiện còn vô cùng khó khăn nên nhân dân cứ có sao ở vậy, chỉ quan tâm đến miếng ăn trước mắt mà chưa nghĩ gì đến nhà sàn truyền thống, bây giờ có của ăn của để, nhớ nhà sàn truyền thống thì gỗ lại hiếm…”.
Xã Hòa Thắng, Tp. Buôn Ma Thuột được coi là một Hòa Bình thu nhỏ với gần như đầy đủ dân Mường của các vùng Mường lớn (Pi/Bi Vang, Thàng, Động), ngoài ra còn có người Mường ở Phú Thọ. Người Mường ở xã Hòa Thắng di cư vào đây từ những năm 1956 và rải rác sau này. Khi mới đến đất này, người Mường hầu hết làm nhà sàn để ở. Ngay từ những ngày đó, đã có những ngôi nhà sàn của những gia đình quyền thế được dựng lên rất bề thế, rộng hơn trăm mét vuông. Cho đến khoảng những năm 1980 - 1990, lứa nhà sàn đầu tiên bắt đầu xuống cấp, gỗ lạt thì vắng bóng dần. Nhân dân nơi đây đã phải dỡ nhà sàn chuyển đổi thành nhà xây cho tiện. Đến năm2018, toàn xã Hòa Thắng còn không quá 10 ngôi nhà sàn của người Mường.
Người Mường Hòa Bình ở Gia Lai tập trung tại 3 xã Ia Lâu (thuộc huyện Chư Pàh), Ia Mơr và Ia Piơr (thuộc huyện Chư Prông). Người Mường di cư vào đây chủ yếu từ các xã của huyện Tân Lạc, huyện Đà Bắc của tỉnh Hòa Bình, do phải nhường lại đất cho nhà máy thủy điện Hòa Bình từ những năm cuối cùng của thế kỷ XX. Những con người xa xứ khi quần tụ về đây đã không quên đem theo lối kiến trúc nhà ở truyền thống của dân tộc mình, dù điều kiện sống, sinh hoạt và sản xuất ít nhiều đổi khác so với vùng quê gốc. Trong 3 xã thì xã Ia Lâu có nhiều người Mường Hòa Bình nhất, tập trung tại các thôn 1, 2, 3, 4, 7, Lũng Vân. Tại đây còn hàng trăm nhà sàn của người Mường xen lẫn các ngôi nhà sàn của các dân tộc khác. Ở vùng Ia Lâu, nhắc đến nhà đẹp, bài bản và đúng kiểu người Mường phải kể đến nhà sàn của gia đình ông Đinh Quốc Toàn ở thôn 8. Nhìn từ bên ngoài, ngôi nhà dường như chưa phô vẽ sự bề thế và sắc vóc của một ngôi nhà xứng đáng liệt vào hạng “đình đám” miền sơn cước này. Tuy nhiên, chỉ cần đặt chân lên bậc cầu thang, qua khỏi 9 bậc, chúng ta sẽ ngạc nhiên trước kiến trúc hoành tráng và cầu kỳ của ngôi nhà. Nhà anh Bùi Văn Thung vợ là Bùi Thị Liên (thôn Lũng Vân) là ngôi nhà sàn đúng chất Mường, chưa hoàn thiện mà đã chi tốn gần 2 tỷ đồng. “Dự kiến hoàn thành trên 2 tỷ” như lời anh chị bộc bạch, rồi nhà anh Bùi Văn Tin… Còn rất nhiều các ngôi nhà sàn bề thế khác nữa mà chúng tôi chưa thể phản ánh hết.
Xa quê hương nhưng lòng vẫn hướng về quê ấy là tâm lý chung của những người Mường ở Hòa Bình trên đất Tây Nguyên. Ngoài nhà sàn, họ vẫn giữ được nhiều nét văn hóa đặc sắc của dân tộc được coi là “biểu tượng di sản” của dân tộc mình như trang phục và ngôn ngữ. Về trang phục, có những nơi còn giữ lại những bộ váy Mường cổ hoàn chỉnh, cạp váy được thêu rất tinh xảo, đường nét tinh tế, có niên đại trên 100 năm cách ngày nay (tại xã Hòa Thắng). Về ngôn ngữ, hàng ngày người Mường Hòa Bình trên đất Tây Nguyên vẫn nói chuyện với nhau theo ngôn ngữ của dân tộc mình “như ở nhà”.
Trước họ, tôi thoáng buồn... Tại nhiều vùng Mường “ở quê nhà” thì “những biểu tượng” của di sản văn hóa dân tộc giờ chỉ còn trong ký ức.
Năm 2018
THÔNG ĐIỆP LỊCH SỬ HÉ MỞ TRONG TRUYỆN THƠ ĐINH CÔNG TRINH
"Truyện thơ Đinh Công Trinh" được tác giả Lê Va sưu tầm và giới thiệu từ gia phả dòng họ Đinh gốc ở Vĩnh Đồng huyện Kim Bôi. Cuốn gia phả bằng chữ Hán được ghi từ năm thứ 13 niên hiệu vua Minh Mạng (1832) năm 1885 được cụ Đinh Công Thái sao lục lại nguyên bản. Khoảng những năm 60 - 80 của thế kỷ XX, cuốn Gia phả đã được nhà nho nổi tiếng vùng Xuân Dương là Nguyễn Văn Áng dịch phần thơ từ chữ Nôm ra chữ Việt. Phần truyện thơ dài 358 câu mô tả gần như toàn bộ quãng đời cụ Đinh Công Trinh - một danh tướng tuyệt đối trung thành với nhà Lê, cũng đã từng đụng độ và hợp tác với Tây Sơn và cũng đã sống dưới triều Nguyễn Ánh, cụ đã được nhà vua phong tước "Quận công tuyên úy sứ".
Sau nhiều năm sưu tầm, trăn trở, ấp ủ, năm 2015, tác giả Lê Va tuyển chọn lại và cho in thành sách để giới thiệu rộng rãi đến bạn đọc, lấy tên "Truyện thơ Đinh Công Trinh - một văn bản văn học quý của người Mường ở Hòa Bình".
Tuy nhiên, đứng ở góc độ nghiên cứu lịch sử, chúng tôi lại nhìn nhận tác phẩm Truyện thơ Đinh Công Trinh hé lộ rất nhiều thông điệp lịch sử mà chúng tôi đang còn mù mờ trong thời kỳ cuối nhà Lê đầu nhà Nguyễn tại Hòa Bình (thế kỷ XVIII - XIX).
Từ câu 135 - 138 tả việc "Khi nhà Lê thất thế, ông Trinh đã nuôi vua Lê và chúa Án đô vương Trịnh Bồng, chiêu mộ binh mã, cùng mưu khôi phục. Đinh Công Trinh cùng quan Thái Quận chiêu dụ các châu, quân tướng đã có trên 1 vạn người) việc đón 2 vua Lê Đạt, Lê Cán không thấy nói cụ thể tụ nghĩa ở đâu. Tuy nhiên có tình tiết: tổ chức Đại hội họp tại Ngọc Lâu (vùng cao huyện Lạc Sơn) để chuẩn bị kéo quân về Thăng Long khôi phục nhà Lê. Như vậy, rất có thể xã Ngọc Lâu ngày nay đã từng có thời gian là thủ phủ để mưu đồ việc lớn - khôi phục nhà Lê.
Ngọc Lâu là xã vùng cao nằm ở phía tây của huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Theo bản văn trên bia mộ, Quan Thượng tướng quân Quách Phúc Thiêm vào thế kỉ XVII tên Ngọc Lâu đã có là tên gọi chính thức khi đó, bao gồm địa bàn của 3 xã vùng cao gồm: Ngọc Sơn, Ngọc Lâu và Tự Do hiện nay, thuộc phủ Phụng Hóa.
Là xã vùng cao độ cao, bình quân hơn 600m so với mực nước biển, lên với Ngọc Lâu cách đây 15 - 20 năm trước là vô cùng khó khăn thì khó có thể tưởng tượng được cách đây trên dưới 300 năm, đường lên Ngọc Lâu khó khăn đến mức nào.
Trong kho hiện vật của Bảo tàng tỉnh Hòa Bình hiện nay, đang còn lưu khá nhiều hiện vật của xã Ngọc Lâu như trống đồng Ngọc Lâu, khá nhiều xanh đồng 4 quai loại lớn, các hiện vật gốm (bình, chậu, chén, đĩa), đồ trang sức bằng đồng (vòng tay, vòng cổ...).
Theo các cụ cao niên trong làng cho biết, đình Băng xưa được khởi dựng vào khoảng thế kỉ XVIII, là một ngôi nhà sàn rộng chừng 7m, dài khoảng 10m. Toàn bộ hệ thống cột làm bằng gỗ dổi. Đình thờ Quốc Mẫu Hoàng Bà và Tản Viên Sơn Thánh.
Theo các cụ cao niên cho biết, đình Băng có rất nhiều đồ thờ tự cổ đẹp, các bức trang trí đục chạm thủng, trang trí nhiều đề tài, nét chạm trổ tinh vi. Năm 1960, đình bị phá. Hiện vật bị phiêu tán. Năm 1982, một số người dân lập lại một ngôi nhà nhỏ trên nền cũ của đình xưa, sưu tầm một số hiện vật vẫn đang lưu lạc trong dân để thờ tự và tồn tại cho đến nay. Khi chúng tôi đến khảo sát, đình không còn dáng hình của đình Băng xưa. Tuy nhiên những gì còn để lại của di tích đình Băng như: hệ thống bát hương thời Lê, một số bức chạm trổ tinh vi chứng tỏ đây là một ngôi đình lớn, kiến trúc cầu kỳ khó có thể nhân dân vùng như Ngọc Lâu cách đây trên dưới 300 năm làm được ngôi đình này. Câu hỏi cứ theo chúng tôi mãi: ai là chủ nhân chính của ngôi đình này? Những vật dụng như xanh đồng, các hiện vật như trống đồng và nhiều hiện vật đồng quý khác được tìm thấy ở quanh khu vực này phục vụ cho ai trong khi hiện vật còn lại chủ yếu của thời Lê.
Đọc "Truyện thơ Đinh Công Trinh - một văn bản văn học quý của người Mường ở Hòa Bình" của tác giả Lê Va sưu tầm và giới thiệu làm chúng tôi liên tưởng đến cội nguồn của đình Băng. Những gì đã thấy và đang còn ở đình Băng rất có thể đình Băng được hình thành và phát triển trong thời gian này và những vật dụng kia rất có thể đã có thời kỳ giúp vua Lê và trực tiếp là cụ Đinh Công Trinh làm việc lớn. Nếu đúng như vậy, đình Băng sẽ là di tích rất có giá trị về lịch sử, chính trị, xã hội, nó là chứng nhân chứng kiến những ngày tàn cuối cùng của nhà Hậu Lê để kế tiếp thời kỳ vàng son chói lọi nhưng ngắn ngủi trong thời Tây Sơn của lịch sử Việt Nam.
Thành cổ tại xã Cao Thắng huyện Lương Sơn hiện nay vẫn là một ẩn số vì chưa xác định được ai là chủ nhân của tòa thành? Thành xây lên với mục đích gì? Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đã có rất nhiều các bài báo phản ánh, đã có nhiều ý kiến của các chuyên gia và mới đây nhất trong khuôn khổ đề tài khoa học cấp tỉnh, Bảo tàng tỉnh Hòa Bình đã tiến hành phối hợp với Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á cùng thực hiện nghiên cứu để trả lời 3 câu hỏi chính: Ai là chủ nhân của thành cổ? Tòa thành được xây vào thời kỳ nào? Sứ mệnh lịch sử của tòa thành như thế nào? Trong nội dung nghiên cứu, đoàn đã tiến hành đào thám sát nhiều hố trong và ngoài thành, kết quả nghiên cứu vẫn chưa thể trả lời được các câu hỏi trên.
Nhân dân trong khu vực gọi tòa thành cổ này là Thành Nhà Mạc. GS.TS. Phan Đăng Nhật - Giám đốc Trung tâm bảo trợ văn hóa, kiến trúc truyền thống thuộc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cùng cố gắng sưu tầm và đưa ra những bằng chứng để khẳng định tòa thành cổ là tòa thành Nhà Mạc do 1 vị tướng vùng Nghệ An - Hà Tĩnh được Nhà Mạc cử về trấn giữ. Tuy nhiên các bằng chứng giáo sư đưa ra cũng không đủ sức thuyết phục để khẳng định thành cổ này là thành Nhà Mạc.
Gom nhặt những thông tin trong cuốn "Truyện thơ Đinh Công Trinh - một văn bản văn học quý của người Mường ở Hòa Bình" của tác giả Lê Va sưu tầm và giới thiệu, tôi mơ hồ và đặt giả thuyết rằng rất có thể Thành cổ Cao Thắng ở xã Cao Thắng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình được xây vào thời kỳ cụ Đinh Công Trinh giúp dòng dõi nhà Lê khôi phục lại triều Lê. Cụ xây thành này làm bàn đạp để chuẩn bị đánh ra Thăng Long như trong truyện thơ đã miêu tả.
"Truyện thơ Đinh Công Trinh - một văn bản văn học quý của người Mường ở Hòa Bình" của tác giả Lê Va sưu tầm và giới thiệu là một tác phẩm rất có giá trị về văn học, ngôn ngữ học, xã hội học. Tác phẩm còn là một đoạn phim mô tả về một giai đoạn lịch sử diễn ra trên mảnh đất Hòa Bình nhưng lại là giai đoạn quan trọng chứng kiến cảnh suy tàn của nhà Lê ở Việt Nam. Nếu có nhiều hơn nữa các tác phẩm chữ Hán đang còn đâu đó trong nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình, trong kho hiện vật của Bảo tàng tỉnh Hòa Bình, nếu được dịch ra thì có lẽ chúng ta sẽ rõ hơn các sự kiện lịch sử trên mảnh đất Hòa Bình ngày nay trong thời kỳ phong kiến Việt Nam, ít nhất từ thời kỳ tự chủ (từ thế kỷ X). Như vậy, lịch sử tên gọi tỉnh Hòa Bình chỉ có 130 năm, nhưng lịch sử mảnh đất Hòa Bình này đã có hàng vạn hàng triệu năm tuổi.
Năm 2017
L.Q.K