THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

DI SẢN VĂN HÓA HÒA BÌNH

 Lê Quốc Khánh

NÚI CỐT CA VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁC THUNG LŨNG LỚN CỦA HÒA BÌNH, TIỀN ĐỀ ĐỂ CƯ DÂN NGUYÊN THỦY SINH SỐNG TRÊN ĐẤT HÒA BÌNH
 

    Đồi Thung thuộc sơn khối Viên Nam, có tuổi hơn 200 - 300 triệu năm. Khối Viên Nam bao gồm một vệt núi dài sâu nhất là Đồng Lư, huyện Quốc Oai, Tp. Hà Nội sau đó ôm tất cả dãy Ba Vì, chạy dọc khu vực Lương Sơn (gọi là khu vực Viên Nam) chạy dọc khu vực sông Đà, sau đó trườn sang Cao Phong, chạy tiếp giáp với khu Kim Bôi, Lạc Sơn. Tất cả đá trong sơn khối Viên Nam đều là đá bazan thuộc toàn bộ hệ thống núi lửa (Pácma).

   Cách đây 200 - 300 triệu năm đó, trong quá trình tiến tạo sơn khối có một sự cọ sát với một khối đá hoa cương (granits) nằm sâu hơn khối bazan nền tạo khổng lồ. Khi trồi lên khối hoa cương cọ sát với khối bazan nền tạo. Phần dìa của 2 dãy cọ sát đó nóng lên như nướng đó tạo ra một loại đá sừng, tạo ra một hệ đá cứng hơn với đá bazan bình thường khác của thành tạo Viên Nam (đá cuội). Lõi chồi đó là của khối hoa cương chính là núi Cốt Ca (tiếng Mường có nghĩa là đầu gà). Trong quá trình chồi lên Cốt Ca tạo ra các khe nứt quanh nó, tạo thành dòng chảy dung nham, kèm đá sừng từ trên cao xuống chảy sang các phía và tạo ra các thung lũng xung quanh (chính là 4 vùng Mường: Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động sau này). Đi qua xóm Dọi của Quý Hòa tạo ra thung lũng Mường Vang, chia thêm rãnh chảy xuống Miền Đồi. Ở Mường Vang, cuội tiếp tục chảy qua Vó, ra đến sông Bưởi, dòng sông Bưởi tiếp đưa xuống chạy men theo Cúc Phương và chính nó tạo ra Văn hóa Đa Bút (cách ngày nay 5.000 - 6.000 năm); Nửa trên, chảy qua quốc lộ 6 bây giờ sinh ra các dãy hang động của Cao phong, Tân Lạc; dòng chảy ra vùng Kim Bôi gặp sơn khối đá vôi của Kim Bôi tạo thành chiếc thành tự nhiên chắn dòng chảy lại tạo nên thung lũng Mường Động.

Có thể nói quá trình kiến tạo núi Cốt Ca tạo nên các thung lũng hệ thống sơn khối đá vôi dầy đặc có nhiều hang động mái đá, hệ thống sông suối nhiều nhuyễn thể. Môi trường khí hậu tốt là tiền đề tạo điều kiện để người nguyên thủy đến đây sinh sống.

Hệ thống sông suối đã tạo ra các thung lũng khác

Hòa Bình có mạng lưới sông suối phân bổ tương đối dày và đều khắp ở các huyện. Sông Ðà là sông lớn nhất chảy qua tỉnh, qua các huyện Mai Châu, Ðà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình với tổng chiều dài là 151km.

Sông Bưởi bắt nguồn từ xã Phú Cường, huyện Tân Lạc, dài 130km;
Sông Bôi có 2 nhánh: nhánh tả bắt nguồn từ xã Độc Lập (phía đông thành phố Hòa Bình); nhánh hữu bắt nguồn từ nhiều dòng nối vùng Núi Hang (thuộc xã Hợp Tiến, huyện Kim Bôi), dài 127km;
Sông Bùi bắt nguồn từ xã Lâm Sơn huyện Lương Sơn, dài 91km;
Sông Lạng bắt nguồn từ 2 hệ thống nhánh chính ở 2 xã Lạc Dương và Đa Phúc hợp lưu trong địa phận xã Bảo Hiệu huyện Yên Thủy, dài 65km.
Các con sông này đều là những dòng sông cổ, trong quá trình đưa nước từ thượng nguồn đổ ra các sông lớn, quá trình bồi tụ đã tạo ra các thung lũng ven núi, đồi thấp tạo điều kiện về môi trường và khí hậu, thức ăn cho người nguyên thủy sinh sôi và phát triển.
                                                                                          Năm 2024


SUY TƯỞNG VỀ SỰ TỒN TẠI CỦA NGƯỜI NGUYÊN THỦY TRÊN ĐẤT HÒA BÌNH
biatruoc

  Người nguyên thủy từ đâu di cư đến đất này, tại sao họ có mặt trên đất này? Các nhà khoa học về cổ sinh, khảo cổ chưa nhận thức được đầy đủ. Các bằng chứng khảo cổ học cho biết, cách ngày nay tầm trên 30.000 năm trên mảnh đất Hòa Bình đã có người nguyên thủy sinh sống tương ứng với giai đoạn văn hóa khảo cổ “Văn hóa Sơn Vi” (giai đoạn Đá Cũ) kế tiếp là Văn hóa Hòa Bình giai đoạn Đá Giữa hay còn gọi là giai đoạn trung chuyển giữa Đá Cũ và Đá Mới (niên đại từ trên 30.000 năm đến 7500 năm cách ngày nay) và thời kỳ Văn hóa Bắc Sơn (giai đoạn Đá Mới) niên đại từ trên 11.000 đến khoảng trên dưới 7.500 năm cách ngày nay.

  Như vậy, có thể khẳng định người nguyên thủy ở trên đất tỉnh Hòa Bình khá sớm. Quá trình nghiên cứu về người nguyên thủy trên đất Hòa Bình từ thời Pháp thuộc đến ngày nay đã đưa ra được bản đồ sự tồn tại của người nguyên thủy trên khắp toàn tỉnh nhưng dày đặc nhất ở các huyện Lạc Sơn, Kim Bôi, Lương Sơn, Tân Lạc, Mai Châu, các huyện còn lại thưa và không có.

   Vùng núi đá vôi Hòa Bình, tập trung cao các di tích Văn hóa Hòa Bình  Xuất phát từ địa lý cảnh quan Hòa Bình có địa lý ổn định và thống nhất, là khu đệm giữa 3 vùng địa lý, tự nhiên phía bắc, phía tây, phía nam. Với tính chất là khu đệm nên điều kiện tự nhiên Hòa Bình đa dạng và phức tạp, sinh vật nơi đây hết sức phong phú, hội tụ đủ các giống loài từ Bắc xuống hay từ Nam lên, nên rất phong phú về lương thực. Ở giai đoạn Văn hóa Hòa Bình, người nguyên thủy phân bố thành từng nhóm hay cụm, mỗi nhóm/cụm có từ 3 đến hàng chục địa điểm phân bố liền khoảnh, chiếm cứ một vùng thung lũng, quanh nơi ở có lối đi xuyên nhau và thường gần một dòng suối nào đó. Trong mỗi cụm dân cư đó sẽ có một di chỉ lớn (có tầng văn hóa dầy hơn và có niên đại cổ hơn so với các di tích khác gần đó). Như vậy di chỉ đó sẽ là địa điểm đầu tiên mà nhiều nghìn năm trước đã có các thế hệ người nguyên thủy các lớp đến ở, các di chỉ có niên đại muộn hơn là đến sau, hoặc được tách ra từ di chỉ lớn để tạo thành cụm. Điều này đã có một số nhà khoa học cho rằng  phải chăng là một thứ “làng xã” cổ sơ của Văn hóa Hòa Bình.
   Trong những thung lũng có người nguyên thủy giai đoạn Văn hóa Hòa Bình sinh sống, thường có nhiều suối nhỏ đổ vào suối cái hoặc sông nhỏ. Sông suối thường uốn lượn trong lòng thung lũng, nước chảy xuyên thung giúp cho người nguyên thủy nguồn nước uống, nguồn thức ăn từ động vật thủy sinh và nguồn đá cuội để làm công cụ. Bãi bồi chân núi là rừng cây bụi, tranh, nứa… là nơi trú ngụ của các loài thú nhỏ, tầng trên cây cối um tùm rậm rạp là nơi sinh sống của động vật lớn nhiệt đới. Đó là hệ sinh thái phồn tạp có thể phục vụ cho việc săn bắt, hái lượm theo phổ rộng của người nguyên thủy Văn hóa Hòa Bình.
  Trong hầu hết các địa điểm khảo cổ học thuộc Văn hóa Hòa Bình trên đất Hòa Bình đã được phát hiện khai quật hoặc thám sát. Cùng với những sưu tập công cụ, trong tầng văn hóa luôn tìm thấy các di tích động vật, đó là những chứng tích thể hiện mối quan hệ của con người đương thời với thế giới động vật và môi trường tự nhiên nói chung. Những di tích về động vật cũng phản ánh hoàn cảnh thiên nhiên, môi trường sống và khai thác của người nguyên thủy Hòa Bình trên đất Hòa Bình cách ngày nay khoảng 20.000 năm.
Nhóm động vật không có xương gồm ốc (10 loại) trong đó ốc vặn (5 loại), ốc núi (5 loại); trai (15 loại) ngoài ra còn tìm thấy rải rác các mảnh càng, vỏ cua biển, một số loại ốc biển. Động vật có xương: đười ươi, vượn, khỉ (4 loại); dím (2 loại); sóc, chuột, voi (2 loại); tê giác, lợn (3 loại); hươu (4 loại); nai, hoẵng, hươu, cheo cheo); trâu bò (3 loại: bò rừng, trâu rừng, dê núi); gấu (2 loại: gấu tre, gấu ngựa); chó, chồn, lửng, vòi hương, hổ, mèo… Trong số đó có một số loài động vật gần như không còn trong thiên nhiên của Việt Nam như: voi cổ1, tê giác, đười ươi, gấu tre, lợn lùn. Một số không còn trong tỉnh Hòa Bình mà chỉ còn lác đác ở một số tỉnh Tây Nguyên như voi, bò rừng, trâu ừng…
 Không gian cư trú của người Hòa Bình ở mỗi di tích có khác nhau. Độ cao trung bình 15 - 20m so với mặt thung lũng. Có hang chỉ rộng 10m2, có hang rộng tới hàng nghìn mét vuông; những hang động, mái đá có diện tích 50 - 150m2 chiếm đa số. Các hang động, mái đá này luôn tiếp nhận được ánh sáng và nhiệt của mặt trời vào buổi sáng, có đến trên 90% số hang động, mái đá tránh được gió lạnh thổi theo hướng đông bắc tới.
Từ các tư liệu để lại, chúng ta mường tượng một bức tranh về các cư dân Văn hóa Hòa Bình. Họ chọn các hang động/mái đá dưới chân dãy núi đá vôi, chọn những khu vực có nhiều hang tạo thành cụm để cùng nhau sinh sống. Nơi ở thường có hướng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, nếu cửa hang quay hướng đông bắc. Nếu ở hướng bắc thì thường trước cửa hang sẽ có các tảng đá lớn, cây lớn che chắn gió lùa. Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng đánh giá rất cao vị trí cư trú của cư dân Văn hóa Hòa Bình, những nơi chiếm cư của người thuộc Văn hóa Hòa Bình là nơi tiền đề nảy sinh nông nghiệp , cái nôi của cách mạng mới, là bàn đạp để tiến xuống đồng bằng xây dựng văn minh.
  Theo TS. Nguyễn Văn Việt - Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, chuyên gia nghiên cứu về Văn hóa Hòa Bình, ông cho rằng,  mỗi di chỉ có khoảng 5 đến 20 người sinh sống. Như vậy, một nhóm người ở một khu vực có thể lên đến vài chục hoặc hàng trăm người nguyên thủy.
   Dựa vào tư liệu khảo cổ học săn bắn, hái lượm là phương thức tìm kiếm thức ăn chủ đạo của các tập đoàn người Văn hóa Hòa Bình. Những hoạt động săn bắn, hái lượm chủ yếu diễn ra trong các thung lũng, những dấu tích săn bắn hái lượm hiện còn lưu giữ lại trong tầng văn hóa các di chỉ. Thống kê từ các cuộc thám sát, khai quật cho thấy cư dân thời này săn bắt, hái lượm rất nhiều loài động vật và quả. Động vật phổ biến là vượn, các loài khỉ, nhím, sóc, chuột, tê giác, các loài lợn, nai, hoẵng, hươu, cheo cheo, trâu rừng, bò rừng, dê núi, gấu, chó, chồn lửng, hổ, mèo…
   Tại các di tích về Văn hóa Hòa Bình đã được khai quật trừ một số động vật nhỏ như nhím, dơi, các loài chuột... hiện chưa gặp di cốt đầy đủ của các loài động vật lớn nào. Dấu hỏi lớn được đặt ra, phải chăng người nguyên thủy giai đoạn Văn hóa Hòa Bình đã ăn hết số thịt của động vật lớn từ ngoài hang động, ngay tại nơi hạ sát con mồi hay họ đã biết phân phối sản phẩm do săn bắt đem lại bằng cách phân chia số thịt động vật lớn cho “hàng xóm” tụ cư ở các hang động/mái đá khác? Và người thợ săn chỉ đem về nơi cư trú của mình một phần nào đó cho các thân nhân của mình. Có thể có giả thiết khác khi tiến hành săn một con thú lớn có sức phản kháng mạnh như tê giác, hổ, gấu, trâu bò rừng… cần phải huy động nhiều người khỏe ở các hang khác nhau. Khi đã săn được thì họ chia nhau và những người được chia đó đem phần của mình về cho người thân.

Một hoạt động không kém phần quan trọng cho sự tồn tại của cá nhân và cộng đồng là hoạt động hái lượm của cư dân Văn hóa Hòa Bình, đối tượng hái lượm khá phong phú bao gồm các loài động vật nhỏ, trứng các loài, nấm, hoa quả, rau củ, đặc biệt là động vật thân mềm. Trong các hang động Văn hóa Hòa Bình thường thấy chất đầy vỏ các loài trai ốc các loại (ốc vặn dài, ốc núi, ốc núi miệng tròn, ốc núi miệng hẹp, ốc núi thân dài). Bên cạnh đó còn gặp tàn tích của các loài khác như cua, xương cá, mai rùa, ba ba… Đó là tàn tích sau bữa ăn bỏ lại của người nguyên thủy ở giai đoạn này.

Một loại thức ăn nữa cho người nguyên thủy Văn hóa Hòa Bình bên cạnh hoa quả tự nhiên, nhiều loài cây có bột như cây búng báng, củ mài, các loại củ khác, rau rất sẵn trong vùng núi nước ta, chắc chắn đây cũng là một nguồn lương thực, mà người Hòa Bình thường xuyên thu hái về ăn hàng ngày.

Về công cụ lao động, người Văn hóa Hòa Bình sử dụng gậy gộc là gỗ, tre trong tự nhiên và đá cuội làm công cụ chính trong săn bắt, hái lượm. Khi chọn lựa các địa điểm để sinh sống, ngoài việc có đủ các điều kiện tự nhiên như nơi ở, sông suối…, người Văn hóa Hòa Bình đặc biệt chú ý đến nơi có nguồn nguyên liệu đá cuội, đá vôi để chế tác công cụ. Công cụ lao động Văn hóa Hòa Bình phát triển qua nhiều giai đoạn. Ở giai đoạn sớm mang tính tự nhiên, người nguyên thủy nhặt được viên đá cuội nào trong tự nhiên phù hợp với công năng sử dụng là họ cứ thế dùng; giai đoạn sau họ biết ghè, đập, cưa, chặt đá để tạo cạnh, lưỡi sắc hơn, năng suất lao động cao hơn; giai đoạn hậu kỳ công cụ đã biết sử dụng kỹ thuật mài, khoan, cưa, bổ đá... Về kỹ thuật mài, ban đầu là mài lưỡi đến mài toàn thân.

 Người chế tác công cụ không chỉ là đàn ông, kết quả của khảo cổ học đã chứng minh người phụ nữ là lao động chính để chế tác các công cụ, đàn ông lo việc săn bắt nên ít có thời gian để làm việc này. Người phụ nữ ngoài việc săn bắt thú nhỏ, động vật thân mềm, rau, củ, quả, việc203 tuy đơn giản nhẹ nhàng hơn nam giới nhưng hiệu quả kinh tế lại rất cao, ngoài ra họ còn phải lo đủ thứ khác, sinh đẻ, nuôi con, giữ lửa, chế biến đồ ăn chế tác công cụ, tích trữ lương thực, phân phối lương thực… Vai trò của phụ nữ dần trở nên quan trọng không thể thiếu được trong mỗi hang động của tập đoàn người nguyên thủy. Nhiều nghiên cứu cho thấy người nguyên thủy trong giai đoạn Văn hóa Hòa Bình theo chế độ mẫu quyền, trong mỗi nhóm, người người phụ nữ giữ vai trò phân phối nên giữ vai trò làm chủ trong một nhóm/cụm.

Phát hiện nghệ thuật trong Văn hóa Hòa Bình chưa nhiều, xuất hiện một số khắc vạch trên một số công cụ xương, những đồ trang sức đơn giản bằng cách gia công thêm chút ít vào các mảnh xương, răng thú, hay những con ốc tạo lỗ để xâu dây, dùng để đeo cổ hay đeo tay. Qua phát hiện thổ hoàng trong các di chỉ, các nhà khảo cổ học cho rằng: người nguyên thủy ngoài việc dùng thổ hoàng (đất son - BT) để ăn tăng khoáng chất cho cơ thể, họ còn dùng thổ hoàng bôi lên mặt, lên tóc trong các buổi hóa trang tế lễ.

Khắc họa trong hang động ở Hòa Bình ít nhưng hình trên hang Đồng Nội, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình rất bổ ích, góp phần không nhỏ vào việc nghiên cứu nghệ thuật thời tiền sử ở nước ta. Hình khắc một con thú không được rõ lắm, nhưng phần miệng, mũi có thể cho thấy đây là động vật ăn cỏ, ba mặt người hình khắc khá rõ, nét khắc 3 mặt người trên đầu đều có chữ Y, xem ra đây là ý đồ của tác giả muốn thể hiện những cặp sừng. Rõ ràng hình người có sừng là hiện tượng phi hiện thực - nghệ thuật.

Trên đây là một vài nét phác thảo bức tranh về người nguyên thủy trên đất Hòa Bình giai đoạn Văn hóa Hòa Bình qua các di chỉ và tài liệu khảo cổ học để lại. Tất cả khẳng định Hòa Bình cách ngày nay khoảng 20.000 năm đã có sự tồn tại của người nguyên thủy họ đã có đời sống xã hội sơ khai dạng tiền bộ lạc, thị tộc.

                                                                                         Năm 2024
 
1 Voi cổ: như các loài voi ma mút, voi răng mấu, voi Nam Cực, Stegodon (BT).
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 6
Trong ngày: 124
Trong tuần: 788
Lượt truy cập: 36406
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.