THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

CHƯA XA (2)

Nguyễn Tham Thiện Kế

CHƯA XA MÀ ĐÃ NHỚ LAI CHÂU (Tùy bút – Kỳ 2)
Hưởng ứng Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật viết về Lai Châu
với chủ đề “Lai Châu - Mạch nguồn văn hóa, tiềm năng, động lực phát triển”
 
  1. 6. Lần này tôi trở lại, tháng 6 năm 2026. Lai Châu - thành phố đã chia phường, vắng Hà Phạm Phú, Lại Đức Thành nhưng thêm nhà thơ Lê Va - nguyên là Đại tá an ninh và Đoàn Hữu Nam - một nhà văn khởi từ công nhân giao thông thuần chất Tây Bắc. Tựu chung vẫn việc văn chương, nhưng tầm vóc và quy mô khu vực Tây Bắc của tỉnh Lai Châu, tôi sẽ kể khi có thể và khi gặp dịp.
   Ngoài hàn huyên te tua với Đỗ Thị Tấc, seminar sáng tác với các cháu năng khiếu cùng Ban lãnh đạo Hội và đội ngũ biên tập tạp chí, tôi may biết một nhân vật chung sở thích: Mê hồng trà và các loại trà cụ. Anh là một trong những cán bộ chủ chốt của Lai Châu, vừa hoàn thành chuyến đối ngoại với tỉnh Vân Nam trở về. Bên bộ đồ trà tử sa mới được khai ấm, câu chuyện trà Lai Châu khiến ánh mắt anh lánh vui và say như nói về một người tình. Cũng đỡ quê, bởi trước tôi đã được người thân gửi phong hồng trà shan Mồ Sì San nhưng vẫn cứ phải dỏng nghe không sót lời anh, trong khi không rời ngắm bàn tay thư sinh, tinh tế thao tác tráng ấm chén, đánh thức trà rồi hãm trà. Rót tiếp nước nóng từ 85°C - 90°C vào đầy ấm. Đậy nắp lại. Dường như thời gian chỉ từ 10 đến 20 giây cho tuần trà đầu tiên. Hồng trà cổ thụ có tốc độ tiết vị rất nhanh. Anh rót hết toàn bộ nước trà từ trong ấm ra chén tống rồi chia đều trà ra các chén nhỏ. Cười tươi. Mời…
   Thứ danh trà nõn búp đúng chuẩn phải canh đủ "một tôm hai lá" hoặc một tôm một lá đối với Bạch trà, hái trước khi bình minh lên. Búp trà cổ thụ Lai Châu vốn có lớp lông trắng tuyết mọc dày để kháng cự cái lạnh. Trà hái về không đem sao ngay mà được rải đều ra nong nia thoáng mát để bay bớt hơi nước vốn có. Mục đích làm cho cánh trà mềm dẻo, giảm độ tanin gắt chát và đánh thức hương thơm chân mộc tự nhiên hoang dã của đại ngàn. Khi búp hong đủ độ dẻo mềm, nghệ nhân dùng lực hai bàn tay vò trà, vật trà khéo léo trên nong nia, chú ý chỉ cần dập nhẹ gân lá để tinh dầu tiết ra bề mặt nhưng không được làm nát búp, giúp cánh trà xoắn chặt lại và giữ nguyên được lớp lông tuyết trắng. Các chất catechin trong nhựa trà tiếp xúc trực tiếp với oxy ngoài không khí, kích hoạt enzym tự nhiên để bắt đầu quá trình oxy hóa hoàn toàn.
    Khâu ủ men theo bí quyết độc đáo của người Dao và người H’mongz Lai Châu, hay còn gọi là quá trình oxy hóa là bước quan trọng nhất mang tính quyết định để biến những búp trà cổ thụ shan tuyết xanh tươi, chát dịu của vùng núi cao thành những sợi trà mang màu đỏ hổ phách, mang hương mật ong hoang dã và trái chín thơm nồng. Vò xong, trà sẽ được gom lại và rải đều lên các mẹt tre lớn hoặc khay đan chuyên dụng. Độ dày của lớp trà dao động từ 4cm đến 6cm. Nếu lỡ tay rải quá dày, trà sẽ bị bí hơi và chuyển sang mùi chua, nếu quá mỏng, nhiệt độ tích tụ không đủ khiến quá trình lên men bị chậm hoặc không đều. Một bí quyết các nghệ nhân thường phủ một tấm khăn vải cotton sạch, ẩm lên các mẹt trà để duy trì độ ẩm ổn định, ngăn chặn cánh trà bị khô se lại khi chưa kịp lên men. Và một bí quyết nằm lòng cần phải kiểm soát, chi phối: Nhiệt độ - Độ ẩm - Thời gian, đó là những điểm lõi của nghệ thuật ủ trà. Với nhiệt độ giữ tối ưu từ 24°C đến 28°C. Khí hậu mát mẻ tự nhiên quanh năm của vùng núi cao Lai Châu là lợi thế hoàn hảo cho quá trình này. Để các phản ứng hóa sinh thuận lợi nhất, độ ẩm không khí cần duy trì ở mức ổn định từ 90% đến 95%. Thời gian ủ bảo đảm kéo dài từ 3 đến 5 tiếng tùy thuộc vào nhiệt độ thời tiết thời điểm, đương nhiên mùa đông sẽ ủ lâu hơn mùa hè. Trong suốt thời gian này, người thợ phải liên tục đảo nhẹ trà để oxy tiếp xúc đều và nhiệt độ giữa các tầng trà không bị chênh lệch.
    Quá trình ủ men kết thúc không dựa vào đồng hồ mà dựa vào cảm nghiệm của nghệ nhân qua hai dấu hiệu màu sắc và hương thơm. Toàn bộ cánh trà và búp trà chuyển từ màu xanh lục sang màu đỏ đồng hoặc màu nâu đỏ đồng đều. Vốc trà khô lên tay cảm quan về mùi hăng nồng của lá tươi phải bay biến, thế vào là hương thơm ngọt đậm của trái cây chín hòa quyện với mùi mật ong rừng. Ngay lúc đạt đến độ chín muồi, tức thì trà được đem đi sấy khô diệt men nhằm cố định hương vị, không để trà tiếp tục dâng men quá đà dẫn đến hỏng vị. Nghệ nhân phải đủ bản lĩnh điều khiển ngọn lửa thuần thục để trà chín đều mà không bị cháy mác. Cánh trà khô cong, có màu sắc hơi rêu mốc pha lẫn những đốm tuyết trắng muốt, mở ra ngửi thấy rõ mùi thơm bùi của nắng sương và thảo mộc…
    Nếu không có bạn văn, làm sao mỗi lần Lai Châu tôi được nới thêm không gian Lai Châu. Vâng, tôi thêm gặp một người Lai Châu đa sắc, góc cạnh, hào sảng chẳng kém gì Đỗ Thị Tấc, sở hữu một cơ ngơi trà sạch cách quảng trường đô thị Lai Châu chừng 1500 mét đường bay. Rời nhánh nhựa ven phường Tân Phong, vượt lên ngọn dốc đất hếch tầm nhìn lên trời rồi mới trườn ngang đồi chè, dấu tích của nông trường quá vãng. Tôi chạm luôn cái “gia huy” làm từ tấm gỗ pơ-mu cũ, còn nham nhở dấu răng nanh lợn đề “Vũ gia trang” treo phập phều giữa nóc cổng. Một cái cổng không khóa, mở tềnh toàng, một lời mời với cái lều lửng, quây tôn từ vách đến mái, sơn các màu ngẫu hứng, bên phải cạnh bộ bàn trà gỗ lũa bày góc sân sát bức tường cây hoa mua lá nhỏ Thái Lan. Sẵn phích nước, sẵn hộp trà, ấm chén, khách quen người lạ tiện chân ghé qua hỏi thăm đường thỏa mái tự nhiên pha trà, giải xong cơn khát có thể rời đi hoặc có thể mở cửa lều vào nghỉ…
   Ngôi nhà nhỏ bên trái bạch phếch cả mái lợp lẫn tường vách kiến trúc mở, tận dụng mọi vật liệu tái chế, nhưng vẫn đạt hiệu quả thẩm mĩ. Khoảng sân đất trông ra hồ nước nhỏ bên lối nương rào lưới thép thưa thoáng qua vườn chè canh tác tiêu chuẩn bio, hàng lối ngay ngắn, lá xanh thẫm, cứng dày bởi được chăm bón toàn phân hữu cơ. Vừa mới xong đợt hái búp, đã kịp chớm nõn tơ non đuôi tôm. Với những bậc bước đổ beton vào lốp xe máy cũ, bước ngắn thì hụt, bước dài thì thừa, khiến người ta phải chú ý vào mỗi nhịp chuyển động. Lối ra võ đường ngoài trời của các môn sinh phái Nhất Nam, theo học võ sư Vũ Công. Nhất Nam - võ phái cổ truyền thuần Việt, có lịch sử lâu đời từ Châu Hoan, Châu Ái. Môn võ thuần nhất của người Việt. Nhất Nam dùng nhỏ đánh lớn, dùng yếu thắng mạnh, dùng nhu thắng cương, dùng ít địch nhiều. Bản chất đòn thế dựa trên việc né tránh linh hoạt, phản công nhanh và điểm trúng các vị trí hiểm yếu của đối phương.
   Vũ Công ngồi đó, trên chiếc ghễ lũa, gương mặt đặc sắc phảng nét người Đông Á, nụ cười hiền, mắt sáng, nhanh, nhưng luôn nhìn thẳng, vẫn không quên chăm sóc ấm hồng trà chế từ vườn nhà rót mời khách. Vị hương hồng trà phố thị cứ gợi nhớ đến vị hương trà shan Mồ Sì San…
   Học kỹ thuật, trở thành công nhân điện lực, yêu mảnh đất sinh ra mình, muốn tụ do khám phá, Công rời ngành điện. Nhu cầu tự sinh, Công mày mò trên mạng, mua máy ảnh, tập chụp, có nhiều ảnh đẹp trở thành Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh chuyên ngành nhiếp ảnh lúc nào không hay.
    Tham gia các giải leo núi, Công giữ vai hướng dẫn và chụp ảnh cho mình, cho các vận động viên. Cuộc sống tiêu dao, việc nọ gọi việc kia. Mở các lớp dạy võ, cờ vua, cờ tướng, kỹ năng sống cho học sinh, cổng nhà nhà Công không khóa bởi không ngớt khách vãng lai từ các nơi đến để trải nghiệm nhặt trứng gà dưới gốc chè, hái chè, thưởng chè, trồng hoa…
    Dù có bận thế nào Công vẫn giữ tự do, thích trải nghiệm, thích lối sống thuận theo tự nhiên, thường đi chụp ảnh ở các bản xa, vượt các đỉnh núi. Công đam mê những đồ vật người ta bỏ đi, về chế tác thành những vật dụng hữu duyên.
Năm covid, bị cấm túc, Công bàn với vợ muốn tự làm nhà theo kiểu tự cung tự cấp, lỡ ra có xảy ra dịch bệnh nữa thì có thể chủ động. Thừa hường từ bố mẹ cho một đồi chè, thế là vợ chồng bắt tay tự làm một ngồi nhà ngay giữa đồi chè với với gà, lợn, ngan ngỗng, vườn hoa cây cảnh, chè sạch…
 thienkelaichau
  1. 7. Tôi ngỡ ngàng giữa Lai Châu quy hoạch đô thị xanh, thông minh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, là hạt nhân phát triển kinh tế - xã hội vùng biên Tây Bắc. Xây dựng mới những năm 2000, sở hữu hạ tầng đồng bộ và không gian mở. Sau Đà Lạt, Lai Châu là đô thị có độ cao lớn nhất với cao độ trung bình gần 1.000m. Nằm trọn trong thung lũng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, giữa hai dãy núi Hoàng Liên Sơn ở phía Đông và Pusamcap ở phía Tây.
    Khách du giờ đây có thể check-in quảng trường ngay trung tâm đô thị tỉnh. Pusamcap, kỳ quan hang động huyền bí phía ngoại ô. Chợ phiên San Thàng, nơi hội tụ và giao thoa nét văn hóa, ẩm thực đa sắc của đa sắc tộc thiểu số. Hoặc Tam Đường Tea là một không gian trà kết hợp café , ẩm thực nướng BBQ, trên núi Long Tỷ Phùng cao 1.200m. Một điểm check-in và săn mây "gây bão" đối với giới trẻ cũng như du khách ghé thăm phố núi.
    Nhưng với tôi, con người non nước “trấn Gia Hưng[1]” “gây bão” cách riêng, thêm một lần đến là một lần sâu sắc những đau nhớ cách xa, đêm tưởng muốn ôm ghì nét sông dáng núi Lai Châu cận lòng. Từ những li ti phấn hoa đỗ quyên kết với nhau bằng các sợi tơ mỏng thành từng dây dính, phát tán theo chân ong cánh bướm đến hút mật. Phấn của một vài loại đỗ quyên rừng chứa độc tố Grayanotoxin, nếu ong hút mang về tổ làm mật, thì sắc mật như nắng thu thấu quang đó có thể gây ngộ độc cho người, mà dân gian gọi là hiện tượng "mật ong điên". May sao, thứ hoa đỗ quyên gớm ác kia chỉ hiện diện vùng tuyết sơn Himalaya. Mật ong rừng Lai Châu ủ sâm Mường Tè tiếp thêm mạnh gân cốt chàng trai canh cột mốc và dầm chanh đào, ngâm gừng nương trục cảm hàn, dứt cơn ho sớm mai mẹ già, sương giăng chập tối xé phổi bé em…
    Không nồng như hoa hồng, hoa nhài, hương đỗ quyên phảng phất, dịu ngọt   thoảng lên sự thanh lịch. Một biệt hương muốn thưởng, người bình thường phải mất công một hai ngày với trợ giúp của “mountain guide” mới chạm mũi vào bông hoa hoặc đứng giữa rừng đỗ quyên đỏ thắm lửa, đồ quyên hồng mộng mị, đỗ quyên vàng kiêu kỳ, đỗ quyên trắng xa cách mà tinh khôi nở rộ vào ngày lặng gió trên PuTaLeng hay Tả Liên Sơn mới cảm ra mùi thơm chân mộc của nó.
   Trong rừng mưa nguyên sinh Hoàng Liên Sơn ngàn xưa giữa sắc đỗ quyên cổ thụ là những cây bạch trà xùm xòa rêu ông lão trầm mặc với sương mù. Sơ bộ thống kê Lai Châu sở hữu khoảng 16.509 cây chè cổ, nhưng chưa thể đánh số định danh từng cây, bởi sự phân bố không tập trung mà rải rác nhiều vị trí và bình độ khác nhau của từng gốc trên địa hình hiểm trở, hoặc thảm thực vật rừng già ken sít, và cũng để tránh tác động tiêu cực đến vỏ rêu phong tự nhiên của vưu vật sống soi bóng sóng Đà Giang. Nhìn lên bản đồ lâm phần, nguồn tài nguyên trà cổ được chuyên viên kiểm lâm và chức trách địa phương định lượng, khoanh vùng bảo vệ, và kế hoạch khai thác bền vững trên dải độ cao tự nhiên từ 1.200m đến hơn 2.900m so với mực nước biển. Từ 1.400m - 1.600m, bản Tả Lèng Lao Chải nổi tiếng hai giống Bạch trà và Hồng trà. Trên 1.700m, với vùng trà cổ thụ trăm tuổi Sà Dề Phìn, nơi có khí hậu lạnh giá, mùa đông thường xuyên dưới 5°C. Trên 2.000m, vùng trà Shan tuyết cổ thụ xã Mồ Sì San và một số khu rừng thâm nghiêm Mường Tè. Từ 2.600m - 2.900m, những cây trà cổ thụ hoang dã nằm sâu trong rừng già, giáp khu vực đỉnh núi Tả Liên Sơn.
 Bạch trà Lai Châu là dòng trà trắng thượng hạng từ búp chè shan tuyết cổ thụ vùng núi cao Tam Đường, Phong Thổ. Sinh trưởng tự nhiên trong mây mù ở độ cao trên 1.400m, búp trà có lớp lông tơ trắng muốt như tuyết. Nhờ quy trình chế biến tối giản chỉ làm héo và sấy khô, trà giữ trọn dưỡng chất tinh khiết nhất. Sản phẩm đạt chất lượng đỉnh cao với cánh trà đều, xốp nhẹ. Khi pha, nước trà màu trắng trong tựa nước suối ngàn, mang hương hoa rừng tao nhã và vị ngọt thanh, hậu vị sâu lắng, hoàn toàn không chát đắng. Búp bạch trà Lai Châu thẩm lậu qua đường mòn lối mở sang bên kia biên giới, được chế tác theo công thức của họ có giá lên tới ba bốn ngàn đô.
Sản lượng chè shan tuyết ở Mồ Sì San hay Tả Lèng, tận thu mỗi năm gom vén xấp xỉ 1.5 tấn búp khô. Người H’mongz thu hái trèo vo lên những thân cây cổ thụ cao tới một hai chục mét, rêu mốc giữa sương giá trơn trượt, không phương tiện bảo hộ, để hái những búp đạt chuẩn đều phải dựa vào kinh nghiệm và sự khéo léo dùng cù nèo kéo từng nhành uốn cong vào phía mình nhẫn nại bấm mỗi búp non, hoặc tỉa đốn. Để làm ra bạch trà thượng hạng, người ta chỉ hái duy nhất một búp non chưa mở - 1 tôm, phủ đầy lông tơ sắc tuyết trắng. Cần tới hàng vạn búp non như vậy mới cho ra đời 1kg trà thành phẩm.
    Bên dưới sắc hoa đỗ quyên và nõn tuyết bạch trà cổ, đất rừng nguyên sinh Lai Châu còn sinh dưỡng nguồn tài nguyên quý hơn vàng sa khoáng Mường Tè, đất hiếm Đông Pao, Nậm Xe, Thèn Thầu, là thứ cây bội quý hơn: Sâm Lai Châu (Panax lai-chauensis). Dẫu có là kim cương khai thác sẽ vơi cạn theo năm tháng, nhưng Sâm Lai Châu càng trải thời gian lại càng bội trị giá bởi đặc hữu địa lý. Đây là dược liệu đặc hữu, cực quý hiếm, được xếp vào nhóm "Quốc bảo" của Việt Nam. Sâm Lai Châu phân bố hẹp ở phổ núi từ 1.500m – 3.000m so với mực nước biển, dưới tán rừng nguyên sinh ẩm ướt thuộc các huyện Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ, Tam Đường. Sâm chứa trên 70 loại saponin, sở hữu hoạt chất chống ung thư Majonoside-R2 (MR2) chiếm tỷ lệ lớn. Mọi bộ phận của cây đều làm được thuốc giúp bồi bổ sức khỏe nền tảng, giảm căng thẳng, điều hòa huyết áp, bảo vệ tim mạch và chống lão hóa. Riêng hợp chất đặc trưng silphioside E chỉ có ở sâm Lai Châu còn giúp chống đông máu hiệu quả.
    Lẫn với thảm thực bì rừng mưa đậm cây bụi, Sâm Lai Châu mảnh như cỏ dại, vươn cao chừng hai gang tay nhưng là “con chíp” chứa nguồn năng lượng thần bí của linh khí Hoàng Liên Sơn. Những chiếc lá kép hình chân vịt xòe rộng, khắc viền răng cưa mềm như đang đón từng giọt sương mai rớt rơi từ tầng tán cổ thụ. Thân rễ mọc bò ngang, tựa rễ trúc kiên cường bám đá, kết tinh thành từng đốt củ vàng nâu đanh vững, khù khoèo, triết gom dưỡng chất từ địa tầng. Thêm mỗi một đốt, củ lại tăng thêm giá tiền triệu. Để rồi khi nhấp nhứ lưỡi dao mèo cắt ngang thăm phiến củ, sắc ánh tím hoặc hươm vàng, nhón nhấm một mảy hay đặt lên phiến lưỡi đã dội lên hương thơm nồng, đắng dịu, ấm qua từng hơi thở, lập tức mọi giác quan bừng tỉnh, sảng khoái.
Nếu bạn tham gia một giải leo núi, trầy trợt vượt qua dốc đá, rừng cây đỗ quyên bên khe nước rủ rỉ, nghỉ dưỡng sức bên gốc cây trà cổ, quờ tay sang lùm xanh phía bên đụng vào rực rỡ vào một quả chín. Những chùm quả hình thận đỏ mọng, điểm xuyết chấm đen thần bí trên đỉnh, thắp sáng cả một góc rừng hoang sơ… thì có nghĩa là bạn đã trúng một vé độc đắc.
     Sâm Lai Châu tự nhiên từng bị thu hái dẫn đến nguy cơ cạn kiệt. Hiện, phương thức khai thác đã chuyển dịch sang hướng bền vững: Thu hái hạt giống để ươm trồng và kết hợp khai thác lá định kỳ làm trà, củ sâm được thu hoạch theo quy trình 7 bước đạt chuẩn GACP-WHO từ các vùng trồng hữu cơ dưới tán rừng
    Dưới chân núi mây tứ bề suối khe dồi dào thủy lực cho sông Đà, nhưng mẹ thiên nhiên hào phóng ban tặng Lai Châu thêm 18 điểm nước khoáng, nước nóng tự nhiên. Nguồn ôn tuyền phân bố rộng khắp từ Vàng Pó - Phong Thổ, cho đến cụm mạch ngầm Phiêng Phát - Tân Uyên. Hấp lực suối khoáng Lai Châu sở hữu tới 7 nguồn nước nhiệt cao trên 50 độ C và sự đa dạng nhiệt độ và giá trị trị liệu vượt trội, dải nhiệt lý tưởng dao động từ 40 độ C đến 70 độ C tùy theo mùa. Giữa cái lạnh se sắt sương mờ đỉnh núi, ngửa mặt lên bầu trời Tây Bắc xanh sâu thả mình ngâm trong làn khói nước, ngắm cánh đồng Mường Than hay đồi chè uốn lượn bản Nà Ún quả là đã nhận ân sủng của tạo hóa.
    Sự kỳ diệu trong giọt nước phun trào nơi địa phủ, kết hàm lượng lưu huỳnh, canxi, sunfua và magiê. Lượng khoáng phong nhiêu tựa như liều thuốc bổ nuôi dưỡng cơ thể, xoa dịu chứng đau nhức cơ, hỗ trợ điều trị viêm khớp mãn tính, đả thông kinh mạch và chữa lành các chứng viêm da, vảy nến.
   Dòng nước còn là một phần hồn của bản làng, nơi lưu diễn Lễ hội Then Kin Pang, Áp Hô Pang bên những cánh đồng cao ngô lúa.
    Nhìn lên bản đồ địa hình, chỉ dấu mạng lưới sông ngòi tại Lai Châu ngoằn ngoèo đan xen dày đặc như những mạch máu xanh với khoảng 110 sông suối lớn nhỏ chiều dài từ 10km trở lên đều có tên riêng bắt đầu bằng chữ Nậm-đặc trưng ngôn ngữ của người Thái ưu trội ở địa phương. Hệ thống sông nhỏ tại Lai Châu được chia làm 3 chi lưu cấp 1.
     Hệ thống chi lưu Sông Nậm Na - Khu vực phía Bắc và phía Tây. Hệ thống chi lưu Sông Nậm Mu - Khu vực phía Đông và Đông Nam- Hệ thống chi lưu Sông Nậm Mạ và các suối đầu nguồn Sông Đà -Khu vực phía Tây và Mường Tè.
 Nhờ thế mà Lai Châu sở hữu nguồn năng lượng tái tạo chỉ sau Sơn La, hiện khoảng hơn 70 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đang phát điện thương mại, với tổng công suất khoảng 1.195 MW vào hệ thống lưới điện quốc gia. Bài toán suất đầu tư thấp, nhưng đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, chính trị bền vững vào lĩnh vực thủy điện  nhỏ ở Lai Châu đang thu được trái ngọt, từ những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu. Những cái tên ấn tượng, tiêu biểu đã được xướng lên: Thủy điện Chu Va 2, Chu Va 12, Mường Mít, Nậm Na…
     Nhờ cuộc gặp với Vũ Công, anh chàng lập dị trên đồi chè, từng đi kéo dây truyền tải điện mách, người chủ đầu tư nhà máy Thủy điện Chu Va 2 là đồng hương Phú Thọ với tôi. Hỏi ra sau này tôi mới hay nhân vật ấy sinh ở làng Thượng Nung, bạn “sống chết” cô em đồng nghiệp. Cùng ra lò trường cấp III Tam Nông. Đã đành. Một người khó tính. Hễ thấy nhà báo là lảng. Lại còn cùng quê với danh tướng Nguyễn Chuông - về hưu lập bàn thờ vong lính, mà một thời tôi được ông “sai phái” vài chuyện văn chương.
   Với Chu Va 2 công suất lắp máy là 12 MW, góp sản lượng bình quân hằng năm khoảng 43,23 triệu kWh vào hệ thống lưới điện quốc gia. Và nộp vào ngân sách Lai Châu cùng hệ thống các nhà máy thủy điện nhỏ một con số không nhỏ: 790 tỷ đồng tạo nguồn lực để Lai Châu thăng hoa, phát triển. Ờ thì người Phú Thọ hiện diện ở Lai Châu đâu có xoàng. Chẳng phải tự hào cho quê hương tôi khi nhắc tên Chu Va sao?
    Suốt lịch sử Việt xưa đến hiện tại, thượng nguồn sông Đà luôn thuộc trung tâm chú ý của chính quyền Trung ương bởi nhạy cảm địa chính trị và sắc tộc. Bốn triều đại phong kiến đã liên tục chinh phạt các tù trưởng làm phản. Mở đầu là triều Lý vào năm 1037, Vua Lý Thái Tông cầm quân, phối hợp Thái tử Lý Nhật Tôn - sau là Vua Lý Thánh Tông - tiến đánh, dẹp tan cuộc quấy nhiễu của người man đạo Lâm Tây. Đến triều Trần - năm 1334 - 1335, Thượng hoàng Trần Minh Tông ngự giá Tây chinh, bình định cuộc nổi loạn của tù trưởng xứ Ngưu Hống quấy đảo vùng thượng lưu. Sang triều Lê Sơ - giai đoạn 1431 - 1432, Vua Lê Thái Tổ - Lê Lợi - dù trọng tuổi sức mạt vẫn ngự thuyền chỉ huy đại quân ngược dòng sông Đà, tiễu trừ lực lượng phản nghịch Đèo Cát Hãn chiếm cứ châu Ninh Viễn. Lê Lợi đã cho khắc 132 chữ Hán, trên vách núi Pú Huổi Chỏ năm 1431, bài minh răn đe thế lực phản loạn và khẳng định miền Tây Bắc thuộc về Đại Việt, được coi là "áng hùng văn vách đá" và “tuyên ngôn chủ quyền bằng đá” bất hủ. Sáu thế kỷ vèo vèo tên bay, ùng oàng hỏa pháo đắng giọng quân reo cộng hưởng ghềnh thác cuộn xoáy xác giặc hóa bùn dưới đáy hồ thủy điện chưa dứt dư ba…
    Xây Nhà máy Thủy điện năm 2012, bài thơ khắc đá được khoan cắt, đưa lên cao 500m, ngự trong khuôn viên đền thờ mới trên đỉnh đồi phong quang view rộng hướng sông Đà uốn dòng. Chẳng những thế nơi phố thị phường Đoàn Kết hiện diện thêm một đền thờ vua Lê Lợi, thêm điểm đến của cư dân Lai Châu và khách du dâng hương, cầu an vào các dịp lễ Tết.
    Triều Lê sơ tiếp tục được Vua Lê Thánh Tông củng cố chủ quyền bằng chiến dịch trừng tảo Lan Xang can thiệp cấu kết cùng tù trưởng Cầm Công với quy mô tổng tiến công 5 mũi vào tháng 8 năm 1479. Cuối cùng, dưới triều Nguyễn - giai đoạn 1831 - 1835, Vua Minh Mạng đẩy mạnh chính sách "Cải thổ quy lưu", phái đại quân tiễu phạt triệt để các thổ ti chống đối ở thượng nguồn sông Đà, chính thức đặt vùng đất vào bản đồ Đại Việt.
    Lịch sử đã hào hùng, nhưng sông núi Lai Châu, ẩn tàng linh khí huyền hoặc. Nằm giữa đại ngàn Pa Thắng mây mù Thu Lũm, Hòn Đá Trắng trồi hiện như một linh tượng của vùng đất. Khối thạch anh nguyên khối đứng cô độc giữa rừng già thâm u, chỉ cách lằn ranh biên giới Việt - Trung chưa đầy một nhảng chân. Người Hà Nhì gọi đá là "A pó-ủ phú" - Ông già đá trắng. Từ thuở lập bản, họ đã thấy tảng đá phơi mình cùng sương gió dáng một vị thủ lĩnh già tóc bạc, trầm mặc hướng về phương Nam bảo vệ đàn con cháu. Trong tâm thức người Lai Châu, đá không vô tri mà mang linh hồn của vị "Thánh thạch trấn biên". Nơi hoang vu địa đầu, sự tôn kính của lòng dân kết tinh thành nghi lễ thiêng mỗi tháng Chạp. Quện hương rượu men lá và gió ngàn, làn khói thuốc lào vờn xoáy quanh đá trắng bay lên như lời thưa tôn kính tới vị thần canh giữ bờ cõi. Trong muôn trùng núi cao vực sâu, "A pó-ủ phú" đã hóa thành một "cột mốc lòng dân" canh giữ bình yên cho dải đất biên thùy.
 
  1. 8. Cái nhớ không nằm ở sự hùng vĩ đến ngợp thở của đỉnh PuTaLeng, cũng chẳng phải nét hoang dại của ba mươi cây số đèo Ô Quy Hồ gió thốc hay cả một miền mây trắng Sìn Hồ. Day dứt vì tôi đã nhớ những con người. Tôi nhớ bóng dáng gầy của người mẹ H’mongz gùi bé sau lưng, nhớ đôi bàn tay thô ráp đẫm xanh sắc chàm gieo hoa trên váy áo, và nhớ làn khói bếp thơm mùi pa pỉnh tộp the the nụ cười hiền thiếu phụ Thái trong một chiều mờ sương Than Uyên...
   Tôi nhớ HOA VẪN NỞ TRÊN PUTALENG, được bạn đọc và cộng đồng mạng chào đón, được giải thưởng “Tấm gương thanh niên sống đẹp” của Trung ương Đoàn, được in nối bản đôi lần, nhận nhuận bút, Hà Mạnh Phong ngỏ ý với tôi muốn gửi số tiền ấy vào quỹ từ thiện. Nhưng tôi bảo nhỏ, Phong hãy giữ số tiến ấy chăm lo sức khỏe cho bản thân, và phần nào có thể thì san sẻ với những anh em bè bạn Lai Châu còn cơ cực xung quanh...
Nhớ Vũ Công, chàng trai chọn một lối riêng cởi tấm lòng với mọi du khách. Lúc rời trang trại trà sạch và trải nghiệm tôi hỏi em một bâng quơ:
- Nếu lần tới anh lên, lỡ em không ở nhà mà lang thang đi chụp ảnh tầm đồ tít mù trên bản thì biết làm sao?
- Cổng nhà em có khóa đâu, chỉ sợ anh chẳng muốn, nếu thích thì cứ ở nhà em có sao.
Tôi “chê” bạn văn “anh Tấc” hay vắng ở Lai Châu do lang thang các vùng miền khắp nước theo các lời mời dự trại viết. Lên Lai Châu mà không đụng độ “anh Tấc” nghe nõ điếu thuốc lào đon đót thì làm sao ngọt giọng hồng trà bạch trà và ngất ngư rượu Thu Lũm cho đành. Y thị cười tưởng vỡ loa điện thoại:
- Lo hão, cứ đến Hội Văn nghệ, Báo Đài… nhỡ chẳng gặp ai… thì ù sang ban này ban kia… bẩu là bạn của Tấc… làm sao mà nhạt giọng được.
   Vượt đèo rồi xuôi đèo Ô Quy Hồ, lòng tôi bỗng thắt. Hóa ra, người ta chỉ thực sự biết mình yêu một mảnh đất là khi bắt đầu đếm ngược những phút giây phải rời xa nó. Sắp thôi, hầm xuyên Hoàng Liên tính phút. Expessway thẳng tiến Ma Lù Thàng. Về Lai Châu, ngược Lai Châu, đến Lai Châu phương ngả nào cũng thuận.  Anh bộ đội biên phòng họ Bùi quê Phủ Lý. Người thầy cắm bản gốc Thái Bình họ Lê. Và em nữa, cô nhà báo mang họ Nguyễn gái Sơn Nam Hạ theo chồng sơn cước. Hay anh công nhân làng đồi trung châu Phú Thọ họ Đinh vận hành thủy điện. Muôn gương mặt họ Giàng, họ Tẩn, họ Quàng, họ Vương, họ Tống… họ Chu, họ Pờ trên PuTaLeng đến Mường Tè Thu Lũm tựu ngời đa sắc một diện mạo Lai Châu.
   Nước sông Đà mãi chảy sáng nguồn, những chiếc váy chàm vẫn sẽ tiếp tục bung tròn bên nương cải hoa vàng sắc đá mờ sương, và những bàn tay đốt lửa sẽ sưởi ấm mùa đông chưa tới. Xin gửi lại nơi cổng trời ngôi sao nhỏ, một mảnh hồn tôi để lại những bản làng viễn biên nơi dấu chân xưa đã đặt. Chưa xa mà đã nhớ - Lai Châu! Hẹn ngày trở lại, để lại được ngồi bên bếp lửa giữa những bức tường đất nơi thượng nguồn, nâng bát rượu men lá và được thấy những bông hoa trên đá lại nở giữa lòng người...
                                                                                Tháng 6 năm 2026
                                                                                 N.T.T.K
 
* Những dữ liệu trong bài viết được khai thác từ: https://laichau.gov.vn.
[1] Tên địa danh Lai Châu thời Nhà Lê.
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 11
Trong ngày: 130
Trong tuần: 1089
Lượt truy cập: 157794
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388
- Ban Biên tập: (Email: vanphutho25@gmail.com)
- Phó trưởng Ban: Nhà văn ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG - 0912 383 207
- Nhà văn, nhà báo: NGUYỄN XUÂN HÙNG - 0912 184 021  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
 
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ NGUYỄN NGỌC TUNG - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- QĐ thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24/9/2025.
- QĐ lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11/10/2025.