THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

CHẠM VÀO DI SẢN

Lê Quốc Khánh
 
CHẠM VÀO DI SẢN
 
ĐÁ KỂ

    Đồi Thung là tên gọi chung cho hai thôn: Thung 1 và Thung 2 nằm chon von trên núi thuộc xã Quý Hòa, tỉnh Hòa Bình, huyện Lạc Sơn. Từ Ủy ban nhân dân xã lên Đồi Thung khoảng 8km, đường đi đã được đổ bê tông vững chắc nhưng vẫn thấy ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, nguy hiểm, trước đây, chưa có đường bê tông lên Đồi Thung thì không tưởng tượng sẽ như nào. Trưởng thôn 1 cho tôi biết, trước năm 1997, người dân dường như vẫn sống biệt lập với phương thức tự cung tự cấp vì đường sá đi lại khó khăn vô cùng, dốc núi cao, đất đá lổn nhổn, gặp trời mưa thì ô tô, xe máy loại nào cũng chịu, không bò đi được nhiều người vẫn gọi là xóm bốn không: Không đường, không điện, không chợ, không trạm y tế, giờ thì khác rồi, là địa bàn sinh sống của 85 hộ, 413 khẩu, chủ yếu người dân tộc Mường nằm bên sườn Đông Nam của đỉnh Cốt Ca là bồn địa khá bằng phẳng với màu xanh bạt ngàn của rừng già.

    Đỉnh núi Cốt Ca hùng vĩ với độ cao 1.071m quanh năm mây phủ. Đồi Thung dưới đỉnh Cốt Ca khoảng trên dưới 200m so với mặt nước biển, Đồi Thung có độ cao trên dưới 800m, ở độ cao như vậy nên gió ở đây hầu như lúc nào cùng ràn rạt thổi trong nắng vàng rực rỡ khiến không khí dịu mát như cao nguyên Đà Lạt. Nói về gió ở Đồi Thung, Nhà văn Phan Mai Hương trong ký sự “Sương gió Đồi Thung” đăng trên Báo Văn nghệ Hòa Bình đã viết: “Có thể nói gió chính là đặc sản của Đồi Thung. Bạn chỉ cần bước ra cửa thôi là gặp, gió ào ạt, gió rộn rã, gió tinh quái, gió lồng lộn xung quanh bạn”… nhưng tôi nghĩ ở đồi Thung có một đặc sản nữa đó là "đá".
   Ở đồi Thung đi đến đâu cũng thấy đá, có chỗ đá co cụm với nhau thành các mảng khối lớn rộng hàng nghìn mét vuông, có nơi đá cô đơn ở đó một mình làm bạn giữa đồng lúa mênh mông, đá len lỏi ở với con người, đá ở bên đường đi, đá chồng lên nhau tạo dáng tạo hình tựa hòn trống, mái ở Hạ Long có chiếc thuyền câu e ấp nép mình bên dưới, có khối như chiếc bánh mì khổng lồ ai đó để quên nhiều triệu năm, có khối to hàng chục nghìn tấn nhân dân trong vùng đặt cho hòn Cái, hòn Cha… Đâu đâu cũng thấy đá, có những khối đá trườn dài tạo thành những chiếc chiếu khổng lồ vài chục người có thể đứng trên đó.
    Các cụ cao niên kể cho chúng tôi nghe rất nhiều chuyện về  đồi Thung, chuyện lập làng lập xóm. Các cụ cho biết xóm mới được khai hoang vào năm 1906, người thì nói là do quá trình chạy loạn giặc một nhóm khoảng 30 người do cụ Bạch Công Trịnh và cụ Bùi Văn Bềnh dẫn đầu đoàn người kéo nhau vào rừng, cứ đi mà chẳng biết đi đâu. Sau đến một vùng đất ở trên núi có thể trồng cây lúa được, họ quyết định ở lại lấy gỗ làm nhà, lập nên xóm Thung. Có cụ bảo đất này do Lang Chiềng Vang mua lại của Lang Chiềng Động rồi chia cho con lên đó ăn lang. Từ ngày khai đất lập làng, cuộc sống của người dân ở đây trải qua vô vàn khó khăn, nhưng họ vẫn đứng vững và đi lên. Nay cư dân Đồi Thung đã lên tới gần một ngàn nhân khẩu và đã phải chia tách thành xóm Thung 1 và xóm Thung 2... Nói về sự thay đổi của Đồi Thung, mọi người cho biết từ chỗ người dân chỉ biết trồng duy nhất một vụ lúa với phương thức canh tác lạc hậu đến nay đã cấy 2 vụ/năm, đã khoanh nuôi hàng trăm ha để trồng keo, bạch đàn, tre, luồng… Từ đó, mỗi năm có hàng trăm tấn măng hàng hóa từ Đồi Thung được đưa đi tiêu thụ khắp nơi mang về cho người dân hàng tỷ đồng.
   Chuyện những tảng đá có hình thù kỳ lạ mọc khắp Đồi Thung các cụ ở địa phương kể rằng: Thời Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, vô cùng xinh đẹp và hiền dịu. Vua Hùng muốn kén cho nàng một người chồng xứng đáng. Đến cầu hôn có hai vị thần tài giỏi ngang nhau, đều xứng làm rể Vua Hùng. Một người là Sơn Tinh - chúa vùng non cao. Một người là Thủy Tinh - chúa vùng nước thẳm. Để lựa chọn được chàng rể xứng đáng, Vua Hùng bèn đặt ra điều kiện: "Ngày mai ai mang lễ vật đến sớm sẽ được cưới Mị Nương. Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Thần hô mưa gọi gió, dâng nước sông lên cuồn cuộn làm cho thành dông bão rung chuyển cả đất trời, mọi nơi đều ngập chìm trong nước. Sơn Tinh không hề nao núng. Thần dùng phép bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, đắp thành dựng lũy, ngăn chặn dòng lũ. Hai bên đánh nhau kịch liệt. Cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải chịu thua. Từ đó, oán nặng thù sâu, hàng năm Thủy Tinh vẫn làm mưa gió, bão lụt, dâng nước đánh Sơn Tinh nhưng năm nào cũng mang thất bại trở về. Trong một trận kịch chiến giữa Sơn Tinh với Thủy Tinh, lần này Thủy Tinh huy động lực lượng thủy quái hà bá cực lớn hòng cướp lại Mị Nương. Thủy Tinh hô mưa, hoán vũ cho nước dâng ngập trời đất để bao vây, cô lập Sơn Tinh. Quân của Sơn Tinh từ trên núi lăn đá lao cây ầm ầm xuống để đánh đuổi đại quân của Thủy Tinh. Khi đá trên núi đã vãn, cây trên núi Cốt Ca cũng khó kiếm dần, các vị thần núi Cốt Ca là quân của Sơn Tinh phải vun đất nặn lên thành viên lớn làm vũ khí ném xuống đánh đuổi, ngăn chặn lực lượng của Thủy Tinh. Thủy Tinh yếu thế dần một lần nữa phải rút về vẫn mãi ôm mối hận thù nghìn năm. Nhưng sau trận đó, quân của Thủy Tinh không dám bén mảng lên trên cao đó nữa, hàng năm chỉ dám gầm gào trên các dòng sông phía dưới. Những khối đá có hình dáng như người ta nặn chính là những khối đất đá các vị thần núi cùng quần thần ở đây nặn làm vũ khí nên còn nguyên dấu tích các ngón tay lớn nhỏ.
    Để tìm hiểu kỹ ngọn nguồn khoa học của những khối đá kỳ dị ở đây tôi tìm đến TS., nhà khoa học Nguyễn Văn Việt - Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á. Ông cho biết, các nhóm nghiên cứu từ thời M. Colani, đến nhóm của GS. Trần Đức Lương cùng TS. Nguyễn Văn Việt, trong kết quả nghiên cứu đã có nhiều bài viết khẳng định quê hương của Văn hóa Hòa Bình chính là khu vực Mường Vang, là kết quả của cuộc cọ sát giữa 2 khối đá khổng lồ sự chồi lên của dãy hoa cương và dãy nền bazan dung nham theo khe nứt tạo dòng chảy tạo thành ra các hang động và thung lũng phì nhiêu (bốn thung lũng Bi, Vang, Thàng, Động và các thung nhỏ khác). Cuội được lũ suối tiếp tục cuốn đi xa hơn, là cơ sở cho người nguyên thủy trú ngụ, dùng cuội làm công cụ lao động cho đời sống săn bắt hái lượm tại các thung lũng của Hòa Bình trong hàng vạn năm.
    Đá hoa cương và đá bazan trên đồi Thung ngày nay chính là sản phẩm của quá trình chồi lên cọ sát nhau của 2 dãy núi, đá có màu sáng hơn, thớ đá thô, có màu sáng lấp lánh đó là đá hoa cương, đá có màu đen là đá bazan. Đá hoa cương có 2 loại, loại được kết cấu lỏng hơn thì mềm và dễ bị nhiệt độ, môi trường phong hóa. Khi chênh lệch nhiệt độ giữa nóng và lạnh hoặc đang nắng nóng lại mưa… đá mềm có hiện tượng nứt bóc ra, mỗi lần bóc một ít rất nhỏ mắt thường không thể quan sát được. Qua hàng trăm triệu năm rãnh đó lớn dần chảy dọc theo thân đá. Những tảng đá lớn, nhỏ chúng ta nhìn thấy trên đồi Thung có vết như bàn tay người nắm được tạo ra như vậy. Quá trình bóc tách, tan ra của đá mềm tạo ra cát thô theo suối chảy xuống phía dưới.
  1. Nguyễn Văn Việt cũng cho biết thêm, qua việc khai quật các mộ cổ tại Đồi Thung khẳng định người Dao lên Đồi Thung cư trú rất sớm vào khoảng thế kỷ thứ IX - X, đến thế kỷ XVII họ vẫn còn sinh sống tại đây, mãi sau này người Mường mới lên đây sinh sống (đầu thế kỷ XX). Các cụm đá chồng lên nhau rất đẹp, có thể được hình thành từ hai hướng, do tự nhiên (quá trình lăn) và do người sắp đặt để thực hiện các nghi lễ của nhóm người Dao ở đó.
    Có thể nói núi Cốt Ca là cơ sở tạo nên các thung lũng, tạo nên trăm mường lớn nhỏ, Đồi Thung là “đứa con” sinh ra trước nhất. Trong nhiều thế kỷ ở Đồi Thung đã có con người sinh sống, ở độ cao lý tưởng khí hậu Đồi Thung luôn mát mẻ, trong lành vậy mà nơi này đã “ngủ quên” khá lâu. Ai sẽ là người đánh thức Đồi Thung tỉnh giấc?
Năm 2020
 chamvao
 
CHÙA Ở HÒA BÌNH
 
    Qua các thời đại, đạo Phật có lúc thịnh, lúc suy. Vào thời Lý (thế kỷ thứ X) đạo Phật trở thành Quốc đạo. Thời Trần, đạo Phật vẫn tiếp tục phát triển, nhiều vị vua, quan lại khi về già cũng quy y cửa Phật. Đến thời Lê (thế kỷ XV-XVII) đạo Khổng (đạo Nho) phát triển mạnh trong tầng lớp quý tộc, quan lại nên đạo Phật ở Việt Nam có những thời điểm suy vi. Đến thời Hậu Lệ và thời Nguyễn, đạo Phật lại được chấn hưng. Cứ như vậy đạo Phật đã tồn tại và phát triển một cách rộng rãi cho tới ngày nay. Cùng với quá trình tụ cư lập làng, các ngôi chùa thờ Phật cũng được dựng lên. Nó tồn tại cùng các làng xã chứa đựng nó.
Phật giáo du nhập vào vùng đất Hòa Bình từ bao giờ thì cho đến thời điểm này chưa có tư liệu nào làm sáng tỏ. Khi vào tới tỉnh Hòa Bình, Phật giáo lan dần vào sâu các địa phương trong tỉnh. Hầu hết ở các huyện đều tìm thấy các di tích loại hình chùa tọa lạc như: chùa Khộp, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn; chùa Hang, xã Yên Trị, huyện Yên Thủy; chùa An Linh (An Linh Tự) xã Yên Bồng, huyện Lạc Thủy; chùa Quèn Ang xã Tân Phong, huyện Cao Phong; chùa Thông, xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi...
   Ở Hòa Bình chỉ có 2 dân tộc có thiết chế chùa. Điều đó được chứng minh cụ thể như sau: Qua quá trình khảo sát trên phạm vi toàn tỉnh thì cả tỉnh có 48 ngôi chùa phân bố tại các huyện cụ thể như sau: Kim Bôi; 10 chùa, Lạc Thủy: 9 chùa; Lương Sơn: 6 chùa; Yên Thủy: 6 chùa; Cao Phong 6 chùa; Tân Lạc: 5 chùa; Tp. Hòa Bình: 3 chùa; Lạc Sơn: 2 chùa; Kỳ Sơn: 1 chùa. Chỉ có khu vực, địa vực người Kinh và người Mường ở mới có thiết chế chùa, các dân tộc còn lại ở Hòa Bình (Dao, Thái, Tày, Mông) không tìm thấy chùa.
Thực tế ở Hòa Bình có thể chia ra làm 2 dạng chùa: Chùa trong hang  và chùa có thiết chế cụ thể.
+ Chùa ở trong hang: Có thể kể đến các chùa Hang xã Yên Trị, huyện Yên Thủy; chùa Khộp, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn; chùa xóm Trại, xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn; chùa Hang, thị trấn Mãn Đức, huyện Tân Lạc. Chùa trong hang khởi nguyên hình thành và phát triển của nó chỉ thờ bụt mọc, các hòn đá có hình dáng người từ tự nhiên gắn với hang hoặc mang từ nơi khác về thờ… chứ không có tượng. Một số sau này mang tượng đục đẽo vào chùa trong Hang để thờ thì điều đó cũng dễ lý giải trong điều kiện ngày nay.
   Có thể nói rằng, đá là chất liệu đầu tiên, gắn với bước chân chập chững của con người từ xã hội nguyên thủy sang xã hội văn minh. Thời đại Đá trải dài nhất trong lịch sử loài người (khoảng vài triệu đến tám vạn năm trước công nguyên). Với một khoảng thời gian lớn như thế, thì ấn tượng về đá trong con người chắc hẳn phải rất sâu sắc. Trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại, con người từ khi sinh ra đến khi chết đi đều gắn với hang (đá), đá tạo nên công cụ sản xuất, đá tạo ra lửa… Nói chung, đá tham gia vào mọi hoạt động sinh hoạt, lao động của con người.
Mặt khác, đá lại là đặc trưng cơ bản của núi (núi đá), mà núi là chốn linh thiêng, là nơi thông linh giữa trời và đất. Cho nên, đá có thể là phương tiện để truyền đạt mong muốn của con người với các thế lực siêu nhiên khác.
    Con đường lưu truyền của Phật giáo sang Việt Nam rất hòa bình và chung sống với tín ngưỡng dân gian bản địa trong sự hòa hợp hiếm thấy. Người Việt đón nhận triết lí về nhân quả - luân hồi, về con đường giải thoát khổ đau… với một tinh thần cởi mở và gần gũi. Họ như được sống trong bầu không khí của những triết lí dân gian mà giờ đây đã được nâng lên thành nhân sinh quan, thành giáo lí. Bởi thế, hầu hết các hiện tượng tín ngưỡng dân gian đều mang màu sắc Phật giáo, được bao phủ bởi những huyền thoại của nhà Phật. Các hình thức tín ngưỡng dân gian dễ bị Phật hóa, mang màu sắc Phật giáo. Hiện tượng thờ Bụt trong hang đá ở Hòa Bình là một ví dụ điển hình. Các cột đá, măng đá trong hang có hình dáng giống người đều được Phật hóa thành Bụt và trở thành đối tượng được thờ.

   Dân gian thường gọi hiện tượng này là thờ “đá bụt mọc”. Trong tâm thức của người Việt - Mường, sở dĩ những tảng đá có hình thù đặc biệt như vậy là bởi chúng được các vị thần linh tạo ra để trú ngụ. Vì thế, thờ cúng những tảng đá ấy chính là thờ cúng các vị thần ẩn náu trong đó, để nhận sự bảo trợ từ họ.

Nhìn chung, tục thờ Đá có biểu hiện vô cùng phong phú. Chúng ta không thể khôi phục được diện mạo ban đầu của tục thờ Đá, do đặc trưng của tín ngưỡng dân gian luôn biến đổi và chứa đựng nhiều lớp văn hóa. Nhưng có thể thấy, tục thờ Đá luôn hiện diện trong đời sống tâm linh của người Việt Nam.

+ Chùa có kiến trúc là những công trình do con người lập ra ở Hòa Bình có những đặc điểm như sau:

Kiến trúc: Ở Hòa Bình chùa có kiến trúc đơn giản (Không kể những ngôi chùa mới xây dựng hiện nay) kiến trúc chung nhất là một ngôi nhà ngang 1 gian hoặc 3 gian rất đơn giản, không có các công trình phụ trợ vì không có sư, sãi trụ trì, do nhân dân địa phương tự quản lý. Mấy năm trở lại đây có 2 ngôi chùa được Nhà nước đầu tư tu bổ gần như là xây mới (chùa Khánh, xã Yên Thượng, huyện Cao Phong), xây mới (chùa Phật Quang Hòa Bình nằm bên bờ trái, gần chân đập Thủy điện Hòa Bình, thuộc khu vực đồi Ba Vành, phường Tân Thịnh, Tp. Hòa Bình).

   Hiện nay, tại tỉnh Hòa Bình có một số ngôi chùa có dấu tích của niên đại khá sớm. Đó là chùa Thông ở xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi có niên đại thời Trần thế kỷ XIII- XIV.
Niên đại của các ngôi chùa trong hang theo các nhà nghiên cứu cho rằng nó một dạng Phật giáo nguyên thủy của khối cư dân Việt - Mường. Niên đại cụ thể đến hiện nay chưa ai khẳng định, tuy nhiên chắc chắn rằng nó sẽ có niên đại sớm hơn những ngôi chùa có thiết chế cụ thể kia.
Chùa ở Hòa Bình không nhiều. Chùa ở Hòa Bình lại có những đặc điểm rất riêng. Chính những cái riêng độc đáo ấy tạo nên đặc sản về hệ thống di sản tôn giáo, tín ngưỡng của Hòa Bình.
Năm 2009
 
ĐỀN THỜ DÂN GIAN Ở HÒA BÌNH
 

   Đền thờ là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thần hoặc một danh nhân quá cố. Nhiều đền thờ dành cho các thần thánh trong tôn giáo hoặc tín ngưỡng địa phương. Nhiều đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của một anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng lên theo truyền thuyết dân gian. Ở Việt Nam có nhiều nhân vật có thực trong lịch sử được xây dựng đền thờ ở rất nhiều nơi là Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Quốc Sư, Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành và đặc biệt là các đền thờ Trần Hưng Đạo.

Trên địa bàn toàn tỉnh Hòa Bình, theo số liệu điều tra mới nhất thì di tích đền trong toàn tỉnh là 54 điểm và được phân bố ở 11 huyện, thành phố như sau (xếp theo thứ tự từ cao đến thấp): Huyện Lạc Thủy: 28 đền; Huyện Lương Sơn: 8 đền; Tp. Hòa Bình: 5 đền; Huyện Cao Phong: 4 đền; Huyện Lạc Sơn: 4 đền; Huyện Yên Thủy: 3 đền; Huyện Mai Châu và Đà Bắc: mỗi huyện 1 đền; 3 huyện Kim Bôi, Tân Lạc, Kỳ Sơn chúng tôi chưa tìm thấy loại hình di tích là đền.

Căn cứ vào những số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy sự phân bố không đồng đều của loại hình di tích này tại các huyện. Huyện nhiều như Lương Sơn, Lạc Thủy. Huyện ít như Cao Phong, Mai Châu, có huyện không có đền nào như Kỳ Sơn, Tân Lạc. Đây là những huyện vùng sâu, vùng xa, vùng cao của tỉnh Hòa Bình. Khoảng cách về địa lý xa xôi cách trở, điều kiện kém thuận lợi về kinh tế, xã hội nên số lượng loại di tích đền hạn chế hẳn, thậm chí có huyện còn không có ngôi đền nào.
Về kiến trúc, Đền ở Hòa Bình không có quy chuẩn nào cụ thể: Kiến trúc nhà sàn (8 điểm); kiến trúc là nhà xây cấp 4 (2 điểm); rồi đền được thờ trong mái đá (1 điểm). Nhưng nhiều nhất vẫn là những ngôi đền với kiến trúc đơn giản chỉ là 1 gian nhà nhỏ được dựng tạm bằng tranh, tre, nứa, lá. Trong số 54 ngôi đền thì chỉ có một vài ngôi đền là có kiến trúc tương đối quy mô như: Đền Thượng, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn; 2 đền Thác Bờ trên lòng hồ sông Đà; Đền Mẫu, Phú Lão, Lạc Thủy những ngôi đền này mới được xây dựng, tu bổ lại trong thời gian gần đây. Trong 54 điểm đền, không điểm nào còn kiến trúc nguyên bản chỉ còn lại 1 điểm còn dấu ấn của di tích là Đền Lâm Hóa, xã Lâm Hóa, huyện Lạc Sơn còn sót lại phần hậu cung và 1 phần nhà tiền tế ghi lại niên đại của lần tu sửa này vào năm 1940. Số lượng đền chỉ còn lại nền đất trống cũng khá nhiều: 11 điểm.                                                                                    
   Về niên đại của các di tích Đền ở Hòa Bình, cho đến tận bây giờ chúng tôi vẫn chưa tìm thấy tài liệu hay công trình nào nghiên cứu về loại hình đền ở Việt Nam nói chung và tỉnh Hòa Bình nói riêng xuất hiện từ khi nào? Đối với loại hình di tích đền việc xác định niên đại qua các tiêu chí rất khó vì chúng không đồng nhất. Về kiến trúc của các ngôi đền không đồng nhất qua các thời kỳ, có đền thì được dựng bằng nhà gỗ kiên cố chạm trổ đẹp, có đền thì xây cấp 4, hoặc một gian nho nhỏ, có đền thì làm theo kiến trúc nhà sàn. Do đền là kiến trúc để thờ thần hay một danh nhân nào đó nên nó có thể ra đời khá sớm cùng với việc dựng nhà và tín ngưỡng của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Mặc dù tiêu chí để xác định niên đại cho các ngôi đền cũng gần giống như tiêu chí xác định niên đại cho những ngôi đình. Về sắc phong, rất ít ngôi đền được phong sắc. Các hiện vật trong đền sơ sài, các tư liệu thành văn khác không có (sắc phong chủ yếu chỉ sắc cho vị thần Thành hoàng được thờ trong đình). Có lẽ cũng giống như hiện trạng chung của các ngôi đền ở Việt Nam, rất khó xác định thời điểm xuất hiện loại hình này tại tỉnh Hòa Bình. Thông tin từ các cụ cao tuổi của địa phương không thể là bằng chứng xác thực cho niên đại các di tích đền vì tuổi của các cụ còn quá trẻ so với tuổi của di tích. Đền Thác Bờ cho rằng được xây dựng vào thời Lê sơ thế kỷ XV theo chúng tôi không đủ sức thuyết phục vì không có chứng lý gì. Hiện vật cổ nhất tại di tích hiện nay là một chiếc chuông có niên đại Thành Thái năm thứ 16 (1904), tuy nhiên xác định niên đại di tích cũng không hoàn toàn thô cứng là chỉ dựa vào hiện vật còn lại tại di tích vì thời gian vài trăm năm, nhiều lần dịch chuyển, hiện vật gốc xa xưa thì đơn sơ mộc mạc cho nên rất có thể đền không giữ lại được gì. Như vậy có thể ước đoán về niên đại Đền Chúa Thác Bờ manh nha hình thành từ thế kỷ XV, phát triển mạnh vào thời Nguyễn; đền Lâm Hóa, xã Lâm Hóa, huyện Lạc Sơn ghi trên thượng lương năm khởi dựng 1940 nhưng theo các cụ cao tuổi cho biết đó là niên đại của lần sửa đền, không phải niên đại khởi dựng nhưng cũng theo các cụ thì năm khởi dựng cách đó khoảng 50 hay 60 năm gì đó thì niên đại của đền Lâm Hóa cũng vào khoảng đầu thế kỷ XX. Một bằng chứng nữa, tại đền Thượng thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn có một quả chuông do nhiều người công đức có ghi Bảo đại năm thứ 14 (Bảo Đại thập tứ niên) (1939)… Những dẫn chứng nêu ra chứng tỏ những đền còn lại ở Hòa Bình có niên đại sớm nhất vào thời Lê sơ, phát triển mạnh vào thời Nguyễn ở Việt Nam (thế kỷ XIX - XX) và tồn tại cho đến tận bây giờ.
Về nhân vật thờ tại đền: Theo lý thuyết những người có công lớn với làng, xã hoặc gắn bó với một địa danh nhất định nào đó sẽ được phong Thánh và thờ ở đền. Thường hay thờ Thánh Mẫu (tứ phủ), tứ bất tử (Tứ bất tử là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng Việt Nam, đó là Tản Viên Sơn Thánh (Sơn Tinh), Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh). Các đền ở Hòa Bình ngoài thờ thánh: Tản Viên Sơn Thánh, Quốc Mẫu Hoàng Bà, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Bà Chúa Mường, Thánh Trần (Hưng Đạo Đại vương)… còn thờ thêm cả các vị thần địa phương là những người có công khai làng lập ấp (tương tự như cách thờ ở đình), có nơi thờ cả người chết đói, chết trôi như đền Đồng Bầu - xã An Bình, huyện Lạc Thủy thờ người chết trôi dạt vào.
Một đặc điểm nữa của đền ở Hòa Bình ngoài thờ chính là thờ thánh thì trong kiến trúc của mình bài trí thêm vài ban thờ Phật (tiền thánh hậu Phật), nhiều nơi do tri thức về tín ngưỡng dân gian và tôn giáo còn chưa được đầy đủ bài trí Phật, Thánh hỗn độn gây ra sự dung hòa nhưng tạp nham trong nơi thờ tự: đền Tân Thịnh, xã Lạc Thịnh, huyện Yên Thủy; đền Mẫu, phường Thịnh Lang, Tp. Hòa Bình… Nhiều đền, cá nhân, hay tổ chức quản lý đền đã cho xây dựng thêm rất nhiều các ban thờ khác thành một mớ hỗn độn các thánh, các thần, Phật và nhân vật thờ chính bị mờ nhạt đi. (2 đền Thác Bờ ở Cao Phong và Đà Bắc), đền Thượng, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn; đền Phủ Chung, xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy…
 
   Đền thờ là một thiết chế của tín ngưỡng dân gian. Ở tỉnh Hòa Bình di tích loại hình đền thờ không nhiều, nhưng khách quan đánh giá thì trong hoạt động du lịch văn hóa tín ngưỡng loại hình đền thu hút nhiều du khách nhất trong tỉnh ta phải kể đến các di tích nổi bật như 2 đền Thác Bờ trên lòng hồ sông Đà, đền Mẫu, xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, đền Thượng, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn… hàng năm đóns hàng vạn, có nơi hàng triệu lượt du khách. Theo chúng tôi loại hình di tích này không những là một thiết chế hoạt động văn hóa tín ngưỡng thông thường, nó còn là một tài nguyên để phát triển kinh tế của địa phương nếu hoạt động của nó được quản lý nhà nước một cách chặt chẽ, có hệ thống.
Năm 2009
 
ĐÌNH LÀNG Ở HÒA BÌNH
 

Đình làng - một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lâu đã in đậm trong tâm khảm mỗi con người. Theo nhiều nhà nghiên cứu khẳng định, đình làng ở nước ta xuất hiện từ thời Lê sơ (1428 - 1527) và định hình vào thời Nhà Mạc (1527 - 1592). Lúc đầu đình xuất hiện chỉ là các quán để nghỉ. Sự phát triển của Nho giáo vào cuối thế kỷ XV đã cấy dần thành hoàng vào đình làng. Sớm nhất có lẽ là đình Quảng Văn xây dựng năm 1491. Nhưng dấu vết có thờ Thành hoàng có lẽ chỉ mới gặp ở thế kỷ XVI. 

Tại tỉnh Hòa Bình theo số liệu điều tra của đợt điền dã trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh của Bảo tàng tỉnh Hòa Bình: “Thống kê, đề xuất, giải pháp bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử: đình, đền, chùa, miếu ở tỉnh Hòa Bình” vào tháng 5/2011 thì loại di tích đình có 82 điểm (chiếm 33% tổng số di tích đình, đền, chùa, miếu trong toàn tỉnh).

Qua khảo sát, ở Hòa Bình có 2 dân tộc có đình làng là người Mường và người Kinh. Các dân tộc còn lại chúng tôi chưa tìm thấy đình và dấu tích.

Hầu hết các làng, xóm cổ của người Mường đều có đình, đình thờ thành hoàng vị thánh được người Mường tôn vinh đó là người có công khai phá ruộng nương, chỉ bảo cho người dân làm ăn. Bên cạnh đó người Mường thường thờ Thánh Tản Viên, họ tôn kính coi Thánh Tản Viên là người có thể đi mây về gió, ban phúc trừ tà. Trong 82 di tích đình của tỉnh Hòa Bình có tới 37 đình thờ Tản Viên Sơn Thánh, 33 đình thờ Thành hoàng địa phương và số đình còn lại không rõ tên các vị thần được thờ (do nhiều nguyên nhân). Trong đó có  31 Thành hoàng là các thiên thần, nhân thần được các đời vua phong sắc.

Đình làng ở Hòa Bình có thể được chia ra làm 3 loại cơ bản: đình Mường; đình Kinh và đình giao thoa Kinh - Mường.

Đình  Kinh

Thường phân bố ở các huyện giáp ranh với đồng bằng như các huyện Yên Thủy, Lạc Thủy, Lương Sơn… với kiến trúc và nội dung sinh hoạt thuần chất như đình Bá Lam, xã Cao Thắng, huyện Lương Sơn; đình Đồng Sương, xã Thành Lập, huyện Lương Sơn; đình Vôi, xã Thanh Nông, huyện Lạc Thủy; đình Rị, xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy; đình Trung, xã Yên Trị, huyện Yên Thủy; đình Thượng, xã Yên Trị, huyện Yên Thủy... Các đình này có kiến trúc của đình làng truyền thống dưới xuôi (đồng bằng) thường có kiến trúc khá cầu kỳ, chạm trổ tinh vi với các đề tài tứ linh, tứ quý... Thành hoàng làng được thờ vọng là các nhân thần hào kiệt, là các vị thiên thần có công cứu nước, cứu dân được muôn phương thờ cúng.
Đình Mường
Trước đây hầu hết các làng Mường đều có đình nhưng đình của người Mường thường được làm khá đơn giản, vật liệu không bền chắc, đa phần bằng tranh tre, nứa lá nên cứ 1 - 2 năm các đình lại phải làm lại. Kiến trúc tạm bợ nên các đồ thờ tự cũng không được coi trọng, có khi chỉ là ống nứa thay bát hương, chén nước... Đặc biệt, những năm 50 - 60 của thế kỷ trước, phong trào chống mê tín dị đoan của nước ta đã làm mai một và mất dần những ngôi đình Mường vốn đã không chắc chắn gì. Đình Mường là những ngôi đình thờ nhân thần người địa phương có công với làng với xóm đó, khi họ mất được nhân dân địa phương thờ cúng. Kiến trúc theo kiểu nhà sàn truyền thống của địa phương kết cấu vì kèo đơn giản, không trang trí hoa văn cầu kỳ và thường là các ngôi nhà sàn nhỏ, mục đích để thờ cúng, không nhằm mục đích sinh hoạt hội họp như đình của người Kinh. Loại đình này xưa có rất nhiều nhưng nay đã mất gần hết. Trong rất nhiều điểm chúng tôi đi khảo sát thì hầu hết các cụ cao tuổi trong các làng đều khẳng định “xưa có đấy nhưng mất lâu rồi” hiện chỉ còn điểm ra  đình Chợ Nội, xã Tân Thành, huyện Lương Sơn thờ ông Lý Nghé, bà Lý Nghé, ông bà vỡ đất, vỡ nước, bà Bạch Cao Đẳng; đình Yên Lịch, xã Long Sơn, huyện Lương Sơn không rõ nhân vật được thờ tại đình; đình làng Bôi Cả, xã Nam Thượng, huyện Kim Bôi thờ nàng Thờm, là người địa phương khai thiên lập địa ra vùng đất này; đình Khênh, xã Vân Sơn, huyện Lạc Sơn thờ chàng Bồng Hương, nàng Bồng Thờm và thủ nhang qua các đời; đình Làng Đầm Giàn, xã Sào Báy, huyện Kim Bôi thờ ông Bạch, ông Cán, ông Cháo (là những người khai lập ra vùng đất này)…
Đình giao thoa Kinh - Mường
 Đây là dạng đình phổ biến nhất của Hòa Bình chiếm đến 80% trong hệ thống di tích đình của Hòa Bình với các đặc điểm cơ bản kiến trúc nhà kiểu đình dưới đồng bằng: bờ nóc, bờ giải được trang trí lưỡng long chầu nguyệt, các đầu dư, cốn được trang trí tỉ mỉ, hoa văn chạm thủng bong kênh, chủ đề tứ quý, tứ linh... nhân vật thờ thường là Tản Viên Sơn Thánh (được xem là vị vua tinh thần của người Mường), Quốc Mẫu Hoàng Bà, Sơn lâm Công chúa (con gái của Tản Viên Sơn Thánh và Mỵ Nương)... hoặc các vị nhân thần người địa phương có công giúp nước cứu dân Mường... Những ngôi đình này ở Hòa Bình cũng không còn nhiều nhưng dấu tích vật chất của nó thì vẫn còn tồn tại (sắc phong, thần phả, các đồ thờ tự, nghi lễ lễ hội...). Phải kể đến đình Sủ Ngòi, xã Sủ Ngòi, thành phố Hòa Bình; đình Sàm, xã Phú Lai, huyện Yên Thủy, đình Song Huỳnh, xã Cao Thắng, huyện Lương Sơn; đình Cời, xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn...

Loại hình kiến trúc đình được xuất hiện ở tỉnh Hòa Bình từ bao giờ thì cho tới nay chưa có tài liệu nào đề cập và khẳng định. Qua điều tra khảo sát, số đình còn lưu lại năm tháng được khởi dựng hầu như rất hiếm. Cả tỉnh chỉ có một vài ngôi đình có năm khởi dựng được ghi trên thượng lương. Nhưng đó cũng chỉ là năm khởi dựng lại, còn ngôi đình xa xưa có từ bao giờ thì cũng không có tài liệu nào đề cập.

Ở hầu hết các ngôi đình ở Hòa Bình các tài liệu chữ viết để khẳng định nguồn gốc, năm khởi dựng của đình cũng không hề có. Khi đi khảo sát, chúng tôi có phỏng vấn các cụ già cao tuổi tại các địa phương về niên đại của đình, nhưng hầu như đều nhận được những câu trả lời chung chung: hình như ngôi đình đã có từ rất lâu, hoặc từ bé tôi đã thấy rồi, hoặc từ thời cha ông chúng tôi kể lại là đã có đình... Các cụ mặc dù là cao tuổi nhưng so với tuổi của ngôi đình thì ít hơn rất nhiều, nên việc nhớ thời gian xây dựng đình cũng như các tư liệu khác về đình rất khó. Tất cả các cụ khi được hỏi đều trả lời là được nghe kể lại, hình như ngôi đình được xây dựng vào thời gian này, thời gian kia.

Theo nguyên tắc chung khi xác định niên đại của di tích loại hình đình làng người ta dựa vào các yếu tố như: Tài liệu chữ viết, niên đại thông qua các mảng kiến trúc, niên đại của một số đồ thờ tự và hành lễ (kiệu, bát kích, bát hương…) và đặc biệt xem niên đại trong các bản sắc phong của các triều đại vua Việt Nam phong sắc cho đình. Qua nghiên cứu 82 ngôi đình ở Hòa Bình thì hiện nay chỉ còn lại 23 ngôi đình còn sắc phong trong đó 3 đình có sắc phong có niên đại thời Hậu Lê: Sắc phong đình Cây Chim, xã Yên Trị, huyện Yên Thủy có 11 bản sắc phong trong đó sắc sớm nhất có niên đại Lê Cảnh Hưng thứ 33 (1772); đình Sàm xã Phú Lai, huyện Yên Thủy có 11 sắc phong, sắc sớm nhất niên đại Cảnh Hưng thứ 44 (1783); đình Liêu, xã Ngọc Lương cùng huyện Yên Thủy có 12 sắc phong, sắc sớm nhất niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783). Còn hầu hết các sắc phong chủ yếu là của thời Nguyễn ở Việt Nam tập trung nhiều trong giai đoạn đầu thế kỷ XIX  đến đầu thế kỷ XX).

Từ những bằng chứng đưa ra có thể khẳng định Đình làng ở Hòa Bình có tuổi sớm nhất vào thời Hậu Lê thế kỷ XVIII và phát triển mạnh mẽ ở thời Nguyễn và bị tàn phá nặng nề trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta.
Hiện nay, qua điều tra số lượng đình được khôi phục lại vẫn còn quá ít. Cả tỉnh hiện có 2 đình được đầu tư có quy mô cơ bản giống như ngôi đình xưa: đình Xàm, xã Phú Lai, huyện Yên Thủy; đình Ngòi, xã Sủ Ngòi, Tp. Hòa Bình. 12 ngôi đình được khôi phục theo kiến trúc nhà sàn. Số lượng đình chỉ còn lại nền móng đất chiếm khá nhiều.
Đình làng là một biểu trưng tinh thần của làng xã, ở đây lưu giữ tinh hoa văn hóa của nhân dân thuộc từng thời kỳ lịch sử, nhưng tiếc rằng số đình làng ở Hoà Bình còn tồn tại không nhiều. Hiện nay Đảng và Nhà nước đang tạo những điều kiện thuận lợi nhất để nhân dân khôi phục lại những ngôi đình đã bị mai một. Hy vọng rằng trong tương lai không xa, nhiều những mái đình cong vút sẽ ẩn hiện sau các lũy tre làng tại các thôn làng ở Hòa Bình để mỗi độ xuân về, đình làng lại là nơi hội tụ những người con quê hương và đón những người con xa xứ trở về.
Năm 2009
 biatruoc
ĐÌNH CỜI - NGÔI ĐÌNH QUÝ HIẾM  CỦA HÒA BÌNH LIỆU CÓ BỊ LÃNG QUÊN?
 

   Xóm Cời, xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình là một xóm Mường cổ, dưới thời phong kiến thực dân nơi đây đã từng là thủ phủ của dòng họ lang giầu có và quyền lực của tỉnh Mường dòng họ Đinh Công. Và lịch sử của Đình Cời gắn liền với một vị quan lang nổi tiếng: Đinh Công Thịnh - người có công chủ trì xây lại ngôi đình Cời bề thế vào những năm đầu thế kỷ XX, lúc đó ông đang làm Tri châu Lương Sơn.

Vì ngôi đình tọa lạc tại xóm Cời xã Tân Vinh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình nên nhân dân lấy tên của xóm để đặt tên cho di tích. Việc lấy tên địa danh để đặt tên cho di tích, đặc biệt là các di tích thuộc loại hình lịch sử văn hóa là cách gọi phổ biến không chỉ ở tỉnh Hòa Bình mà ở cả nước nói chung.

   Năm 2013, khi Bảo tàng tỉnh Hòa Bình tiến hành làm lý lịch xếp hạng di tích đình Cời, xã Tân Vinh là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, Ông Đinh Công Lạc sinh năm 1941, là cháu nội của ông Đinh Công Thịnh và các cụ cao niên của địa phương cho chúng tôi biết đình Cời có từ lâu đời, đình thờ Đức Thánh Tản viên và thờ Mẫu Thượng Ngàn. Ban đầu được dựng lên bằng vật liệu đơn giản tranh, tre, nứa, lá và cách địa điểm đình Cời ngày nay tọa lạc khoảng 400m (khu vực Giếng Vuông - là một bộ phận của xóm Cời ngày nay), nhân dân làng Cời xưa sống tập trung tại đó. Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, khu vực này xảy ra dịch bệnh triền miên nên nhân dân phải chuyển nơi ở ra ngoài bờ sông Bùi (khu vực đình ngày nay). Khi làng chuyển ra bờ sông, đình cũng được chuyển theo, vẫn được dựng bằng những vật liệu đơn giản như cũ.
Vào khoảng năm 1890 - 1891, lúc đó ông Đinh Công Thịnh đang làm Chánh tổng Cư Yên, cho đón thợ dưới đồng bằng lên xây lại đình (lúc này chưa có nhà đại bái), đình lúc đó sau này thành nhà hậu cung. Đình gồm 3 gian 2 dĩ, diện tích khoảng trên 60m2, xung quanh đình xây gạch đá ong, phía trước là tường gỗ và cửa. Cửa đóng theo lối khuôn tranh bên dưới để bức bàn như đình hay nhà cổ ở dưới xuôi. Lúc này đình vẫn chưa được xây dựng tường bao và cổng, tả vu, hữu vu.
Vào những năm 1901 - 1902, ông Đinh Công Thịnh lúc này là Tri châu Lương Sơn là đi học chữ Nho ở Đình Cấn (nay là huyện Quốc Oai, Tp. Hà Nội). Trong quá trình học ông đã có những mối quan hệ tốt với chức sắc ở đó. Biết ông có ý định xây lại ngôi đình, họ đã cử những người thợ xây có tay nghề cao từ Cấn, huyện Quốc Oai, Bụa (khu vực Gốt, huyện Chương Mỹ, Tp. Hà Nội hiện nay) về Tân Vinh làm gạch giúp ông xây đình với điều kiện người dân ở Cấn, Bụa được phép vào đây khai thác củi, gỗ tại khu vực Tân Vinh. Ông đi tham quan các nơi về quyết định tu bổ lại đình, ông Đinh Công Thịnh yêu cầu thợ làm: "Kiến trúc như Đình Chèm (nay thuộc quận Bắc Từ Liêm, Tp. Hà Nội), rộng như đình Cấn".

Sau một, hai năm làm việc vất vả, các hạng mục mới của một ngôi đình hoàn chỉnh được mọc lên. Mặt đình quay hư­­ớng đông bắc. Đình tọa lạc trên 1 mảnh đất bằng phẳng tổng diện tích đất của đình khoảng 4ha. Xung quanh đình Cời được xây tường bao bảo vệ, tường bao có 3 cửa: Cửa chính, 2 cửa phụ nhỏ được bố trí cuối tường phía phải, phía trái của tường bao và đi vào hồi trái và hồi phải của nhà hậu cung; nền nhà đình và hậu cung cao hơn nền sân khoảng 30 - 40cm. Đình đ­­ược xây theo kiểu chữ Công “nội công, ngoại quốc” gồm nhà Đại bái, hậu cung, 2 bên có tả vu, hữu vu. Đây là một ngôi đình có kiến trúc bề thế và lạ ở Hòa Bình.

Từ cổng chính đi vào khoảng 10 - 15m là vào đến nhà đại bái. Nhà đại bái, mặt trước và mặt sau để thông tuông, 2 đầu hồi xây gạch, bít đốc.

Nhà đại bái có 4 bộ vì kèo tạo thành 3 gian, xà ngang kéo dài gắn vào 2 đầu hồi tạo thành 2 dĩ. Nhà đại bái rộng khoảng 8 - 10m; gồm 3 gian 2 dĩ, mỗi gian rộng 4m, mỗi dĩ rộng 2m, hiên trước và sau rộng đến gần 2m. Như vậy, nhà đại bái rộng khoảng gần 200m2.

   Kiến trúc vì theo kiểu chồng r­­ường giá chiêng, mỗi vì có 6 hàng chân cột gồm: 2 cột cái, 2 cột quân và 2 cột hiên. Cột cái khá lớn cao 4,5m, đường kính 50cm, cột quân cao 3,5m, đường kính 40cm, các cột hiên cao 2,2m. Các cột đều được đặt trên chân tảng kê bằng đá xanh, chân tảng tạo hình hạ vuông, thượng tròn. Các cột đều bào trơn đóng bén. Đòn tay bằng gỗ xẻ dọc; dui, mè bằng gỗ, mái lợp ngói ri. Trên nóc có l­ưỡng long chầu nguyệt, 4 góc mái có 4 đầu đao cong.
Các mê ở vì đư­­ợc chạm nổi bong kênh, hai bên đốc có hai mặt hổ phù ngậm mặt trăng. Phù điêu hổ phù ở đây đư­­ợc điêu khắc với đ­­ường nét khỏe khoắn, có hai chân đỡ hai bên.
Hậu cung chính là nhà đình xây lần đầu được thiết kế kề liền phía sau nhà đại bái, cách nhà đại bái khoảng hơn 1m, được xây bịt kín, có cửa, mái lợp ngói ri rộng khoảng 6 - 7m dài khoảng 11 - 12m. Hậu cung gồm 3 gian 2 dĩ diện tích khoảng trên 60m2 tường 3 phía xây gạch đá ong, phía trước là tường gỗ và cửa. Cửa đóng theo lối khuôn tranh bên dưới để bức bàn như đình hay nhà cổ ở dưới xuôi.
Đến năm 1949, đình bị thực dân Pháp bắn cháy. Do thời gian các hạng mục kiến trúc, đồ hành lễ, những hiện vật liên quan đến sinh hoạt tín ngưỡng tại đình bị mai một dần, Hiện nay, tại đình Cời chỉ còn lại một vài hạng mục kiến trúc đơn lẻ. Dù những dấu tích đọng lại còn ít ỏi nhưng chúng cũng cho ta thấy được hình ảnh về một ngôi đình bề thế trước đây.
Do nhu cầu, nguyện vọng thiết tha của nhân dân địa phương được khôi phục lại ngôi đình xưa làm nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng. Năm 2010, chính quyền địa phương tạo điều kiện cho nhân dân hưng công xây dựng một ngôi miếu nhỏ trên một phần diện tích đình xưa để làm nơi thờ tự. Ngôi miếu nhỏ có diện tích 6m2, trong miếu có ban thờ chia thành 2 cấp thờ. Ban thờ không tượng, không ngai, chỉ có bát hương và vài đồ thờ tự (đồ mới). Năm 2013 di tích được tỉnh Hòa Bình công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Đình còn giữ đ­ược 8 sắc phong cổ, tất cả đều là sắc phong của triều Nguyễn. Sắc sớm nhất là sắc niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 (1909), sắc muộn nhất là sắc niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1924).
Số sắc phong đư­ợc dịch như­ sau:
  1. Sắc phong thứ nhất
Phiên âm: Sắc chỉ Hòa Bình tỉnh, L­­ương Sơn Châu, Kệ Sơn xã, tòng tiền phụng sự: Mậu huân long trạch Hoằng hưu Tụy Linh Hạo sảng, Tuấn tĩnh dực Bảo Trung hưng Cao Sơn Đại v­ương Thư­­ợng đẳng thần (húy Sùng) Hiệp linh phù chính Phô uy Đôn tĩnh Hùng tuấn Trác vĩ Dực trung h­­ưng Tản Viên Sơn Quốc chủ kiêm Th­­ượng đẳng thần (húy Tuấn). Cao thông Bác đạt tĩnh chính tú nghi Dực Bảo Trung h­­ưng Quý Minh Đại v­­ương Th­­ượng đẳng thần (húy Hiển) Tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kỳ phụng sự Duy Tân nguyên niên tấn quang đại lễ. Kính ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu­­ phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!

Dịch nghĩa

Duy Tân, tam niên, bát nguyệt, thập nhất. Sắc chỉ ban cho xã Kệ Sơn, châu Lư­­ơng Sơn, tỉnh Hòa Bình theo nh­­ư tr­­ước đây thờ phụng: Mậu huân Long Trạch Hoằng hưu Tụy Linh vạo sảng, tuấn tĩnh Dực Bảo Trung h­­ưng Cao Sơn Đại vư­­ơng Thượng đẳng thần (huý Sùng). Hiệp linh phù chính Phô uy Đôn tĩnh Hùng tuấn Trác vĩ Dực Bảo trung h­­ưng Tản Viên Sơn Quốc chủ kiêm Th­­ượng đẳng thần (húy Tuấn). Cao thông Bác đạt Tĩnh chính tú nghi Dực bảo Trung h­ưng Quý Minh Đại v­­ương Th­­ượng đẳng thần (húy Hiển). Các thần đã đ­­ược các triều đại ban cấp sắc phong; chuẩn định cho phép [dân xã] thờ phụng. Năm Duy Tân nguyên niên mở lễ lớn. Trẫm đã ban chiếu báu ân lớn, long trọng mở lễ nâng bậc. Đặc biệt chuẩn định cho phép [dân xã] vẫn thờ phụng như­­ cũ, để ghi nhớ ngày vui của đất n­­ước mà kéo dài điển lễ thờ phụng. Kính cẩn thay!

Ngày 11 tháng 8 niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 (1909).

  1. Sắc phong thứ hai
Phiên âm
Sắc chỉ Hòa Bình tỉnh, L­­ương Sơn châu, Kệ Sơn xã, tòng tiền phụng sự: Mậu huân long trạch Hoằng hưu Tụy Linh Hạo sảng, Tuấn tĩnh Dực Bảo Trung hưng Tản Viên sơn tam vị thượng đẳng thần Hiệp linh phù chính Phô uy Đôn tĩnh Hùng tuấn Trác vĩ Dực Bảo Trung h­­ưng Cao Sơn Thượng đẳng thần Cao thông Bác đạt Tĩnh chính tú nghi Dực Bảo Trung h­­ưng động linh chi thần tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kỳ phụng sự Duy Tân nguyên niên tấn quang đại lễ. Kính ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu­­ phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai!
Duy Tân, tâm niên, bát nguyệt, thập nhất.
Dịch nghĩa
Sắc chỉ ban cho xã Kệ Sơn, châu L­­ương Sơn, tỉnh Hòa Bình theo nh­­ư tr­­ước đây thờ phụng: Mậu huân long trạch Hoằng hưu Tụy Linh Hạo sảng, Tuấn tĩnh Dực Bảo Trung h­­ưng ba vị thần thượng đẳng núi Tản Viên. Cao Sơn Đại vư­­ơng Thượng đẳng thần (húy Sùng). Hiệp linh phù chính Phô uy Đôn tuấn Hùng tuấn Trác vĩ Dực trung h­­ưng Tản Viên Sơn Quốc chủ kiêm Thượng đẳng thần (húy Tuấn). Cao thông Bác đạt Tĩnh chính tú nghi Dực Bảo trung h­­ưng Quý Minh Đại vương Th­­ượng đẳng thần (húy Hiển). Các thần đã đ­ược các triều đại ban cấp sắc phong; chuẩn định cho phép [dân xã] thờ phụng. Năm Duy Tân nguyên niên mở lễ lớn. Trẫm đã ban chiếu báu ân lớn, long trọng mở lễ nâng bậc. Đặc biệt chuẩn định cho phép [dân xã] vẫn thờ phụng như­­ cũ, để ghi nhớ ngày vui của đất nước mà kéo dài điển lễ thờ phụng. Kính cẩn thay! 
Ngày 11 tháng 8 niên hiệu Duy Tân năm thứ 3 (1909).
  1. Sắc phong thứ ba
Phiên âm
Sắc chỉ Hòa Bình tỉnh, Lư­­ơng Sơn châu, Kệ Sơn xã phụng sự: Bản cảnh Thành hoàng quản ngự Kệ Sơn xứ sơn lâm tối linh chi thần. Niệm trước linh ứng, hư­­ớng lai vị hữu dự phong. Tứ kim phỉ thừa cảnh mệnh; miến niệm thần h­ưu. Trước phong vi: Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần. Chuẩn y cựu phụng sự. Thần kỳ tư­­ơng hựu, bảo ngã lê dân. Khâm tai!
Duy Tân, thất niên, thập nguyệt, sơ bát nht.
 

Dịch nghĩa

Sắc chỉ ban cho xã Kệ Sơn, châu Lư­­ơng Sơn, tỉnh Hoà Bình, thờ phụng vị thần linh thiêng nhất là: Bản cảnh Thành hoàng cai quản núi rừng sâu Kệ Sơn. Thần rất linh ứng nh­­ưng từ tr­­ước tới nay ch­­ưa đ­­ược dự phong. Nay Trẫm nối mệnh lớn, nhớ đến công lao tốt đẹp của thần. Truyền phong cho là: Dực Bảo Trung hư­­ng Linh phù chi thần. Chuẩn định cho phép [dân xã] đư­­ợc thờ phụng như­­ cũ. Thần hãy che chở bảo vệ cho con dân của Trẫm. Kính cẩn thay!

Ngày 8 tháng 10 niên hiệu Duy Tân năm thứ 7 (1913).

  1. Sắc phong thứ tư
Phiên âm
Sắc Hòa Bình tỉnh, Lương Sơn châu, Kệ Sơn xã phụng sự Tản Viên Sơn Tam vị tôn thần hộ quốc tý dân, niệm trước linh ứng hướng lai.
Vị mông ban cấp sắc văn tứ kim phi thừa
Cảnh mệnh miễn niệm thần hưu, trước phong vi: Long huân Phổ Trạch Hoằng hy Bình linh Hạo sảng Tuấn tĩnh Dực Bảo Trung hưng Thượng đẳng thần chuẩn hứa y cựu phụng sự thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai.
Duy Tân, ngũ niên, lục nguyệt, sơ bát nhật.
Dịch nghĩa
Sắc ban cho xã Kệ Sơn, châu Lư­­ơng Sơn, tỉnh Hòa Bình, thờ phụng 3 vị thần núi Tản Viên. Thần có công giúp nước cứu dân, linh ứng đã lâu. Việc ban sắc văn thờ phụng bốn mùa quả không phải thừa.
Nay trẫm nối mệnh lớn, nhớ đến công lao tốt đẹp của thần. Truyền phong cho là: Long huân Phổ Trạch Hoằng hy Bình linh Hạo sảng Tuấn tĩnh Dực Bảo Trung hưng Thượng đẳng thần. Chuẩn định cho phép [dân xã] đư­­ợc thờ phụng như­­ cũ. Thần hãy che chở bảo vệ cho con dân của Trẫm.  Kính cẩn thay!
Ngày 8 tháng 6 niên hiệu Duy Tân năm thứ 5 (1911)
  1. Sắc phong thứ năm
Phiên âm
Sắc Hòa Bình tỉnh, Lương Sơn châu, Kệ Sơn xã phụng sự Đức Chúa Bà quản ngự sơn lâm tôn thần. Hộ quốc tý dân, niệm trước linh ứng, tứ kim phi thừa.
Cảnh mệnh miễn niệm thần hưu, trước phong vi: Trang huy Dực Bảo Trung hưng Thượng đẳng thần chuẩn kỳ phụng sự thứ cơ, thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân. Khâm tai! Khải Định - nhị niên, tam nguyệt, thập bát nhật.
Dịch nghĩa
Sắc chỉ ban cho xã Kệ Sơn, châu L­­ương Sơn, tỉnh Hòa Bình thờ phụng vị Tôn thần là Chúa Bà cai quản núi rừng. Thần đã bảo vệ đất nư­­ớc, che chở cho dân rất là linh ứng.
Nay Trẫm nối dõi mệnh lớn, nhớ đến công lao tốt đẹp của thần. Y truyền cho gia phong là: Trang huy Dực Bảo Trung h­­ưng Thư­­ợng đẳng thần. Chuẩn định cho phép [dân xã] thờ phụng ngõ hầu đ­­ược thần bảo vệ, che chở cho con dân của Trẫm. Kính cẩn thay!
Ngày 18 tháng 3 niên hiệu Khải Định năm thứ 2 (1917).
  1. Sắc phong thứ sáu
Phiên âm
Sắc Hòa Bình tỉnh, Lương Sơn châu, Kệ Sơn xã tòng tiền phụng sự Tản Viên Sơn Tam vị tôn thần nguyên tặng: Long huân Phổ Trạch Hoằng hy Bình linh Hạo sảng Tuấn tĩnh Dực Bảo Trung hưng, Thượng đẳng thần. Hộ quốc tý dân, niệm trước linh ứng tiết mông.
Ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự tứ kim chính trực, Trẫm tứ tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai.
Khải Định, cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật.
Dịch nghĩa
Sắc chỉ ban cho xã Kệ Sơn, châu Lư­­ơng Sơn, tỉnh Hòa Bình, thờ phụng 3 vị thần núi Tản Viên. Trước đã tặng sắc là: Long huân Phổ Trạch Hoằng hy Bình linh Hạo sảng Tuấn tĩnh Dực Bảo Trung hưng, Thượng đẳng thần. Thần đã giúp nước cứu dân rất là linh ứng.
Nên đã được các đời ban cấp sắc phong, chuẩn định cho được thờ phụng. Nay đúng dịp lễ lớn mừng thọ Trẫm 40 tuổi, đã ban chiếu báu ân lớn, long trọng mở lễ nâng bậc. Đặc biệt ân chuẩn cho [xã] được thờ phụng như cũ để ghi nhớ ngày vui của đất nước mà kéo dài điển lễ thờ phụng. Kính cẩn thay! 
Ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1924).
  1. Sắc phong thứ bảy
Phiên âm

Sắc Hòa Bình tỉnh, Lương Sơn châu, Kệ Sơn xã tòng tiền phụng sự Chúa Bà quản ngự sơn lâm tôn thần. Nguyên tặng: Trang huy Dực Bảo Trung hưng Thượng đẳng thần hộ quốc tý dân, niệm trước linh ứng tiết mông.

Ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự tứ kim chính trực, Trẫm tứ tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển. Khâm tai.

Khải Định, cửu niên thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật.

Dịch nghĩa

Sắc chỉ ban cho xã Kệ Sơn, châu Lư­­ơng Sơn, tỉnh Hòa Bình, thờ phụng Bà chúa cai quản vùng sơn lâm Trước đã tặng sắc là: Trang huy Dực Bảo Trung hưng Thượng đẳng thần. Thần đã giúp nước cứu dân rất là linh ứng.

Nên đã được các đời ban cấp sắc phong, chuẩn định cho được thờ phụng. Nay đúng dịp lễ lớn mừng thọ Trẫm 40 tuổi, đã ban chiếu báu ân lớn, long trọng mở lễ nâng bậc. Đặc biệt ân chuẩn cho [xã] được thờ phụng như cũ để ghi nhớ ngày vui của đất nước mà kéo dài điển lễ thờ phụng. Kính cẩn thay!

Ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1924).

  1. Sắc phong thứ tám

Phiên âm

Sắc Hòa Bình tỉnh, Lương Sơn châu, Kệ Sơn xã tòng tiền phụng sự Tản Viên Sơn tam vị tôn thần nguyên tặng: Long huân Phổ Trạch Hoằng hy Bình linh Hạo sảng Tuấn tĩnh Dực Bảo Trung hưng, Thượng đẳng thần. Hộ quốc tý dân, niệm trước linh ứng tiết mông.

Ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự tứ kim chính trực, trẫm tứ tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn y cựu phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển khâm tai.

Khải Định, cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật.

Dịch nghĩa

Sắc chỉ ban cho xã Kệ Sơn, châu Lư­­ơng Sơn, tỉnh Hòa Bình, thờ phụng 3 vị thần núi Tản Viên. Trước đã tặng sắc là: Long huân Phổ Trạch Hoằng hy Bình linh Hạo sảng Tuấn tĩnh Dực Bảo Trung hưng, thượng đẳng thần. Thần đã giúp nước cứu dân rất là linh ứng.

Nên đã được các đời ban cấp sắc phong, chuẩn định cho được thờ phụng. Nay đúng dịp lễ lớn mừng thọ Trẫm 40 tuổi, đã ban chiếu báu ân lớn, long trọng mở lễ nâng bậc. Đặc biệt ân chuẩn cho [xã] được thờ phụng như cũ để ghi nhớ ngày vui của đất nước mà kéo dài điển lễ thờ phụng. Kính cẩn thay!

Ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1924).

Căn cứ vào nội dung các sắc phong trên, Đình Cời thờ tam vị Tản Viên Sơn Thánh và Chúa Bà cai quản rừng núi.

Xưa, lễ hội cổ truyền của đình Cời được diễn ra trong ba ngày từ mùng 4 đến mùng 6 tháng Giêng âm lịch hàng năm. Trong những ngày hội, nhiều trò chơi dân gian diễn ra, đã thu hút đông đảo mọi ngư­­ời cùng tham gia. Những nét đẹp văn hóa truyền thông đó, hòa quyện để tạo nên một giá trị văn hóa tín ngưỡng bản địa rất cần đ­­ược gìn giữ và phát huy một cách trân trọng ở vùng Mư­­ờng Hòa Bình.

Xưa đình Cời là một ngôi đình lớn của khu vực. Đình nằm trong khu vực hỗn cư Việt - Mường nên các hoạt động văn hóa xung quanh ngôi đình chắc chắn có những điểm giao thoa, hòa quyện lẫn nhau: Trong lễ hội cũng như trong kiến trúc của đình. Đây cũng là cơ sở để các nhà nghiên cứu tìm kiếm các nét văn hóa chung - riêng trong mối quan hệ Việt - Mường. Rất tiếc kiến trúc xưa của ngôi đình đã mất dấu, nhưng đâu đó trong các hiện vật còn lại tại di tích vẫn còn ẩn chứa những giá trị đó.

Năm 2024        

                                                                                                        L.Q.K                                               

                                                                                                                                                                                                           

 
 
 
 
 
 
 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 8
Trong ngày: 126
Trong tuần: 790
Lượt truy cập: 36415
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.