Lê Va
SỨC SỐNG VĂN HÓA MƯỜNG
Trong những ngày tháng Tư lịch sử, tôi có một vinh hạnh được trở lại Lâm Đồng, được chứng kiến bà con người Mường Hòa Bình kỷ niệm 25 năm ngày đặt chân xây dựng quê mới trên cao nguyên Di Linh.
Tháng 11 năm 2014, dịp công tác tại thành phố Đà Lạt thơ mộng, lần đầu tiên tôi tìm đến vùng bà con người Mường xã Hào Tráng và Vầy Nưa của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Do chuyển khỏi vùng ngập lòng hồ Công trình Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà mà bà con có mặt trên cao nguyên Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Đó là các thôn 5 và 10 của xã Hòa Nam, huyện Di Linh mà người dân quen gọi là Làng Mường Hòa Bình. Nhờ đó, tôi mới biết vào ngày 25/4/2015, bà con tổ chức kỷ niệm 25 năm - những bước chân đầu tiên của người Mường Hòa Bình in dấu trên đất đỏ cao nguyên.
Thật cảm động, già làng Đinh Công Tích (nguyên phó Chủ tịch kiêm trưởng ban Công an xã Hào Tráng trước đây) bằng xe hơi của gia đình, do cháu đích tôn cầm lái ra tận ngã ba Hà Nam Ninh (vùng bà con người Hà Nam Ninh xây dựng kinh tế mới từ những năm 80 của thế kỷ 20) cách nhà gần 20 km chờ, đón tôi.
Trong cái nắng cao nguyên chói chang nhưng thoáng đãng, tôi rưng rưng gặp lại bác Tích sau gần 30 năm chia xa. Tháng 11/2014, khi tôi vào Di Linh thì bác Tích trong đoàn Người có uy tín của tỉnh Lâm Đồng đang có chuyến tham quan thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, nên bác cháu chưa gặp mặt nhau. Vẫn nước da trắng hồng của người trai Mường tuổi trung niên ngày nào, và hình như gương mặt ấy lại hồng hơn lên bởi cái nắng, cái gió Tây Nguyên, cộng với phần thưởng tinh thần do dẫn dắt, lãnh đạo bà con người Mường vượt mọi khó khăn để trụ vững và phát triển quê mới, nên trông bác Đinh Công Tích như trẻ ra. Mà quả thật, người chưa biết tuổi mà gặp bác Tích thì chỉ nghĩ bác mới ngoài 60 chứ không phải 74 như tuổi thật.
Trở lại tư gia già làng Đinh Công Tích lần này, thấy một phần sân xi măng rộng trước cửa, nơi dùng để phơi cà phê đã được dựng một rạp khung sắt, mái tôn vững chãi, tôi nghĩ mái tôn này cũng để phục vụ việc phơi phóng hay cất trữ cà phê. Nhưng không phải như vậy. Khoảng nửa chiều ngày 24 (trước ngày tổ chức lễ kỷ niệm) bà con kéo đến nhà bác Tích rất đông. Người mang ống lồ ô tươi đến để chuẩn bị làm cơm lam. Người mang gạo nếp đến để chuẩn bị ngâm; củi cà phê được gỡ từ đống xuống. Người chuẩn bị thịt lợn, người bắc bếp…không khí thật tấp nập. Tôi ngỡ ngàng nhìn thấy những chiếc cặp nặp mới được bỏ ra dùng. Thứ mà bây giờ ở ngay Hòa Bình cũng ít gặp. Rồi khoảng chục người có nam, có nữ, có già, có trẻ tập hợp nơi sân để họp kiểm tra lại công việc lần cuối. Lúc này, tôi mới rõ cái rạp kiên cố ấy vừa mới được dựng lên để phục vụ ngày vui chung. Đây sẽ là nơi bà con cùng quan khách chung vui bữa cơm thân mật sau lễ kỷ niệm. Được dự buổi họp này, tôi càng khâm phục tình cảm, trách nhiệm của già làng Đinh Công Tích và bà con người Mường nơi đây. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, Bác Tích đưa cho tôi xem công văn của thôn 5, thôn 10 gửi Đảng ủy, UBND xã Hòa Nam xin phép tổ chức lễ kỷ niệm kèm theo chương trình hoạt động trong những ngày này. Theo đó là quyết định của UBND xã Hòa Nam đồng ý việc bà con người Mường kỷ niệm 25 năm ngày đặt chân đến cao nguyên Di Linh xây dựng quê mới. Không những thế, lãnh đạo xã còn phân công đồng chí phó Chủ tịch UBND xã trực tiếp giúp bà con tổ chức ngày kỷ niệm ý nghĩa này.

Ông Xa Thanh Bổn nguyên Trưởng Công an xã cuối cùng của xã Hào Tráng trước đây làm Trưởng tiểu ban Hậu cần. Ông Đinh Công Nhậy nguyên Huyện đội phó Huyện đội Đà Bắc làm trưởng ban tổ chức. Ông Đinh Công Hùng nguyên cán bộ Công an huyện Đà Bắc trưởng tiểu ban văn nghệ và khánh tiết…Còn một lực lượng chưa có mặt giờ này, đó chính là các cháu gái vào rừng kiếm quả quẹnh, rau rừng, măng nứa, cá suối để làm ốt đồ - món ăn quen thuộc của người Mường. Cỗ lá và các món ẩm thực của người Mường Hòa Bình được gìn giữ, duy trì trên cao nguyên Di Linh.
Cuộc họp các tiểu ban vừa xong thì một xe ô tô 16 chỗ và hàng chục xe máy xịch đỗ trước cổng nhà bác Tích. Trên xe bước xuống có cả các bà mặc váy áo Mường, có bà xách theo chiếc điếu cày to dùng để hút thuốc lào mà người Hòa Bình quen gọi là điếu ục. Tiếng Mường ấm áp cất lên. Những cái bắt tay chặt hơn mộng cột kèo. Những ánh mắt lấp lánh trong rừng cười thơm nắng cao nguyên. Đoàn khách vừa đến gồm trên 40 bà con người Mường Lạc Sơn (Hòa Bình) định cư tại xã Tân Lâm cũng của huyện Di Linh nhưng cách nhau gần 40 km đã có mặt chung vui với bà con người Mường Hòa Nam (Đà Bắc).
Đúng 19h30 ngày 24/5, tại sân Nhà Văn hóa thôn 5 (gần nhà già làng Đinh Công Tích) khai mạc buổi giao lưu văn nghệ. Dưới ánh điện sáng trưng, gương mặt ai cũng phấn chấn rạng ngời. Tiếng loa phóng thanh choàng ngợp cao nguyên. Đắm mình trong không khí này, tôi ngỡ như đang ở một bản làng Hòa Bình thân thuộc. Nhưng khi ngước nhìn lên không thấy bóng mờ xanh của những dãy đồi, núi mà chỉ bát ngát cà phê, tôi mới sực nhớ đây là cao nguyên Di Linh.
Màn trình tấu cồng chiêng, những giai điệu hát ví, hát đúm, hát mời trầu của người Mường Hòa Bình xen với những ca khúc cách mạng cất lên trong trẻo, lan tỏa, vang xa. Thật cảm động khi một nữ “diễn viên” cứ kết thúc mỗi tiết mục có mình biểu diễn lại chạy ngay xuống hàng ghế đại biểu ngồi để cho con bú. Hỏi ra mới biết cô là người con của dân tộc Mường gốc Lạc Sơn, Hòa Bình trong đội văn nghệ của Tân Lâm. Cô cùng mẹ chồng và các anh chị em chồng từ Tân Lâm sang giao lưu văn nghệ với bà con người Mường Hòa Nam. Đã ba lần người dẫn chương trình thông báo đêm giao lưu văn nghệ kết thúc, bà con về nghỉ để sáng mai chính thức bước vào lễ kỷ niệm, nhưng chưa ai chịu đứng lên. Đêm cao nguyên không ngủ bởi người Mường trên cao nguyên thức.
Mới 6h sáng ngày 25/4, tiếng loa từ nhà văn hóa thôn 10 đã vang lên thông báo chương trình buổi lễ. Không chỉ thôn 5, thôn 10 mà bà con các thôn lân cận lần lượt có mặt. Phó Chủ tịch UBND huyện Di Linh Lâm Thị Phước Linh cùng Trưởng phòng Dân tộc huyện, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Hòa Nam… có mặt rất đúng giờ để chung vui với bà con.
Thay mặt bà con người Mường thôn 5, thôn 10, ông Đinh Công Tích báo cáo khái quát quá trình đi tìm nơi định cư do chuyển lòng hồ sông Đà. Qua đó mọi người mới biết cao nguyên Di Linh là địa điểm thứ tư trong hành trình chuyển lòng hồ mà các ông đưa bà con đến. Lần thứ nhất chuyển vén theo cốt nước. Lần thứ hai chuyển về Hào Lý (Đà Bắc). Lần thứ ba chuyển vào tỉnh Long An. Chỉ khi tới xã Hòa Nam huyện Di Linh này là lần di chuyển thứ tư thì bà con trụ lại.
Thật cảm động, tôi được gặp ông Nguyễn Đình Chiến, người mà tôi đã nhắc đến trong bút ký “Người Mường Hòa Bình trên cao nguyên Di Linh” in trên Văn nghệ Hòa Bình số tháng 12/2014. Chính ông Chiến là người giới thiệu cho ông Tích vùng đất này cách đây trên 25 năm trước. Là người phải đưa gia đình từ Nam Bình, Kiến Xương, Thái Bình lên Hào Tráng, Đà Bắc xây dựng kinh tế mới năm 1962. Sau 20 năm sinh sống cùng bà con người Mường Hào Tráng, khi làng xóm đang như tre ấm búi thì các ông lại phải rời quê mới ra đi vì Công trình Thủy điện Hòa Bình. Từ Hòa Bình, gia đình ông Chiến vào Di Linh, nơi có bà con quê hương xây dựng kinh tế mới từ những năm 80 thế kỷ hai mươi. Là người cùng cảnh lại thấu hiểu tâm tư, tình cảm, tập quán sản xuất lâu đời của bà con người Mường, nên khi biết tin trên 70 gia đình người Hào Tráng đang ở Long An, ông Chiến đã tức tốc tìm đến và giới thiệu với ông Tích vùng đất cao nguyên này. Thế rồi sau các thủ tục hành chính bước đầu, 05 gia đình các ông Bùi Văn Thành, Đinh Công Cảnh, Hà Văn Mịn, Đinh Văn Nhung và Xa Văn Ngổ là những hộ đầu tiên được sắp xếp đến nơi đây đúng vào ngày 25/4/1991. Chứng kiến bao vất vả của bà con người Mường Hòa Nam cho tới ngày vui hôm nay, ông Nguyễn Đình Chiến xúc động lắm.
Xin được trích báo cáo tại lễ kỷ niệm do ông Đinh Công Tích trình bày: “Đến nay đã có 97% số hộ đồng bào Mường có máy tưới và máy xay cà phê nhân. Năng suất cà phê đạt từ 3 đến 3,5 tấn/ha. Đời sống của bà con được cải thiện và nâng cao rõ rệt. Trong số 57 hộ đã có 08 hộ giầu, 31 hộ khá, 16 hộ trung bình và chỉ còn 02 hộ nghèo do thiếu đất sản xuất. Đã có 02 hộ mua được xe hơi đắt tiền, 07 hộ mua được máy cày xới đất vừa để chăm sóc cà phê vừa vận chuyển hàng hóa. Thu nhập bình quân đạt từ 38 - 40 triệu đồng/người/năm… Có 4 người tốt nghiệp đại học, trong đó có 01 thạc sỹ đang là giảng viên Đại học Đà Lạt; 01 cán bộ công tác tại Huyện ủy Di Linh; 06 người tốt nghiệp cao đẳng…Thật đáng mừng con em của đồng bào Mường luôn phát huy truyền thống quê hương nên dù rời quê hương đến nơi cách xa gần hai ngàn km mà vẫn giữ gìn phong tục, tập quán tốt đẹp như Lễ Khai hạ, Mo Mường, múa xòe, múa sạp, kéo co, bắn nỏ…Đội văn nghệ thôn 10 chiếm số đông bà con người dân tộc Mường thường xuyên biểu diễn văn nghệ giao lưu với các thôn bạn, tham gia các hội diễn do xã và huyện tổ chức…”.
Bà Lâm Thị Phước Linh, phó Chủ tịch UBND huyện Di Linh chia sẻ: Xã Hòa Nam có nhiều dân tộc sinh sống, nơi tập trung nhiều vùng đồng bào khắp trong Nam, ngoài Bắc đến định cư xây dựng quê mới. Ngay như đồng bào Hà Nam Ninh vào từ năm 1980 – 1982, bà con đều yên tâm phát triển kinh tế, đến nay đời sống khá giả…nhưng về tinh thần thì phải học bà con người Mường Hòa Bình. Chỉ nói riêng việc tổ chức kỷ niệm ngày Xây dựng kinh tế mới hay quê mới thì mới chỉ bà con người Mường tổ chức được. Như vậy, ngoài những ngày lễ, tết truyền thống, bà con người Mường Hòa Nam còn có thêm một ngày kỷ niệm mà sau này có thể trở thành lễ hội, đó là 25/4 hàng năm – ngày bà con người Mường Hòa Bình đặt chân lên vùng đất cao nguyên Di Linh.
Vượt chặng đường gần hai ngàn cây số, trở lại cao nguyên Di Linh lần này, tôi còn có thêm niềm vui là được gặp đông đảo bà con người Mường Lạc Sơn đang sinh sống tại thôn 7 xã Tân Lâm cũng thuộc huyện Di Linh với biết bao tình cảm. Từ ánh mắt người già đến những cái bắt tay rất chặt của những người trung tuổi…tất cả như hút vào tôi. Lúc mới gặp, bà con nói với tôi bằng tiếng Mường. Sau biết tôi không phải người Mường, không nói được tiếng Mường, nhưng nghe được tiếng Mường thì bà con vẫn cứ nói tiếng Mường với tôi.
Từ một người bình thường, bỗng nhiên tôi trở thành người quan trọng trong tình cảm của bà con. Quan trọng không phải vì cá nhân tôi mà quan trọng, quý mến ở chỗ tôi là người từ quê hương Hòa Bình, mang hơi thở từ Hòa Bình vào với bà con để từ đó chuyển tải tâm tư, tình cảm của bà con người Mường xa quê về nơi cội nguồn. Thế là từ Hòa Nam (nơi bà con người Mường huyện Đà Bắc) tôi nhận lời sang thăm Tân Lâm (nơi bà con người Mường Lạc Sơn sinh sống). Chiều 26/4, tôi cùng ông Đinh Công Tích, ông Đinh Công Nhậy, Đinh Công Hùng và cả Chủ tịch xã Hòa Nam Đoàn Thanh Chương cùng anh Ba Sái một chủ doanh nghiệp lái xe đưa sang Tân Lâm.
Trên đường sang Tân Lâm, thi thoảng ông Nhậy lại nhận điện của các bác Tân Lâm xem đoàn sắp đến chưa, làm chúng tôi ai cũng cảm động. Gần đến Tân Lâm, vẫn bạt ngàn cà phê nhưng hơi hướng có vẻ “Hòa Bình” bởi bắt đầu thấy có núi thấp và những hòn đá lớn xen đất ngổn ngang. Có thể nhờ hơi mát của đá mà những vườn cà phê nơi đây xanh tươi hơn. Đón chúng tôi là các già làng và toàn ban lãnh đạo thôn 7 xã Tân Lâm. Qua nhiều vườn cà phê bát ngát, chúng tôi ngỡ ngàng trước một ngôi nhà sàn gỗ lớn và rất đẹp mà ngay ở miền núi Hòa Bình hiện nay cũng hiếm. Chủ nhân là ông Bùi Văn Sòn cùng những người trong gia đình tươi cười đón khách. Hấp dẫn trước ngôi nhà sàn gỗ đẹp lại được tôn lên bởi dàn chiêng treo nơi trang trọng làm ai cũng thấy ấm áp và gần gũi.
Trong câu chuyện, được biết ngôi nhà sàn này chính là nơi gia chủ ưu tiên cho những sinh hoạt cộng đồng, nhất là các buổi tập séc bùa và các bài tấu chiêng. Thật quý, ông Bùi Văn Sòn vừa là chủ nhân của ngôi nhà vừa là người hướng dẫn, truyền dạy các làn điệu dân ca Mường và các bài chiêng Mường cho lớp trẻ. Tối tối, dàn chiêng và các làn điệu ví đúm lại cất lên trầm bổng và lan tỏa khắp bạt ngàn cao nguyên. Chưa hết tuần trà, gia chủ mời chúng tôi thưởng thức cơm đe. Đó là thứ cơm ủ men thành cơm rượu vừa thơm, ngọt lại cay cay hơi men. Nhớ đến tích cơm đe xuất phát ở xã Lạc Thịnh, huyện Yên Thủy nên tôi hỏi thì mới hay bà con người Mường Tân Lâm số đông quê ở xã Văn Sơn huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình, cách Lạc Thịnh, Yên Thủy không xa. Năm 1991, một số bà con ở Văn Sơn di cư vào Tân Lâm. Đất lành chim đậu rồi mở mang thành làng. Người ngoài Bắc tiếp tục vào, các hộ tại chỗ lại tách lập…tới nay làng Mường Tân Lâm (thôn 7 xã Tân Lâm) đã trên 120 hộ với gần ngàn nhân khẩu. Đời sống của bà con ổn định và ngày càng phát triển. Thu nhập năm 2014 đạt 32 – 34 triệu đồng/người. Đã có 4 người tốt nghiệp đại học và cao đẳng…
Cách nhau gần 40 km, nhưng bà con người Mường hai xã Hòa Nam và Tân Lâm giữ mối quan hệ thân thiết. Họ thường xuyên qua lại thăm hỏi, trao đổi kinh nghiệm làm ăn, nhất là áp dụng khoa học, kỹ thuật canh tác cây cà phê. Đặc biệt, hai bên hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng giữ gìn bản sắc văn hóa Mường. Bà con Hòa Nam đã cử người trẻ sang Tân Lâm để học các bài chiêng. Những dịp lễ, tết…hai làng Mường Hòa Bình qua lại giao lưu văn nghệ, thể dục, thể thao thật vui vẻ.
Chia tay bà con người Mường Hòa Nam và Tân Lâm, trong tôi thêm một lần xốn xang cảm xúc. Chắc chắn tôi lại sẽ có mặt trên vùng đất đỏ cao nguyên. Lại được đón nhận vòng tay yêu thương của bà con người Mường và chiêm ngưỡng sức sống trường tồn của văn hóa Mường Hòa Bình trên cao nguyên Di Linh.
MỘT NGÀY VỚI BÀ CON NGƯỜI MƯỜNG Ở IA LÂU
Đầu tháng 4/2018, cùng Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội VHNT tỉnh Hoà Bình cử tổ công tác gồm các nhà văn, nhà nghiên cứu văn hoá và phóng viên báo vào công tác tại Tây Nguyên. Đây là chuyến công tác mở đầu cho một chương trình dài với chủ đích tìm hiểu và viết về "Người Mường Hoà Bình ở Tây Nguyên" - một chuyên đề mà Hội VHNT tỉnh Hoà Bình đã ấp ủ từ lâu.
Sau hơn một giờ bay, chúng tôi đã đặt chân xuống sân bay Pleyku. Dù đang tất bật cho Ngày sách Việt Nam, Nhà thơ Văn Công Hùng lái xe ra sân bay đón chúng tôi về thành phố. Thịnh tình của Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Gia Lai - Nhạc sỹ Lê Xuân Hoan cùng Thạc sỹ ngữ văn Hoàng Thanh Hương - Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin tuyên giáo - Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Gia Lai muốn giữ anh em Hoà Bình ở lại thành phố chiều nay. Cảm ơn tấm lòng các bạn, nhưng chúng tôi thiết tha muốn được xuống với bà con người Mường Hoà Bình ngay. Có lẽ, tận thấu nỗi niềm người đang ở Hoà Bình khao khát đến với người Hoà Bình xa quê, Chủ tịch Lê Xuân Hoan cho mượn xe 5 chỗ của Hội để chúng tôi chủ động điền dã thực thi nguyện vọng của mình. Còn nhà văn Hoàng Thanh Hương, ríu rít điện trao đổi với lãnh đạo huyện Chư Prông về chuyến công tác của Hội VHNT tỉnh Hoà Bình trước khi chúng tôi xuống xã Ia Lâu - nơi có đông đồng bào Mường Hoà Bình sinh sống.
Khoảng 12h cùng ngày, chúng tôi đến ngã ba Phú Mỹ, nơi còn cách 50km nữa thì đến xã Ia Lâu. Tại đây, vài chiếc xe chở khách cùng dừng nghỉ ăn cơm trưa. Thật mừng, chỉ qua vài câu hỏi thăm hành khách trên xe bước xuống, chúng tôi nhận ra ngay giọng nói của bà con người Mường Hoà Bình. Đó là các anh, chị cùng các cháu nhỏ, người Tiền Phong, Hào Tráng ... của huyện Đà Bắc đang sinh sống ở Kon Tum, người từ Lũng Vân huyện Tân Lạc... vào thăm người thân trong Ia Lâu. Đất khách, quê người, nghìn trùng xa cách mà được gặp bà con đồng hương, lại cùng chặng đường đến nơi mình cần đến, chúng tôi, những nhà văn, nhà báo đã trên 40, 50, 60 tuổi mừng quýnh lên.
Từ ngã ba Phú Mỹ, con đường nhựa đang vừa sửa, vừa nâng cấp qua những vùng dân cư của đồng bào người dân tộc bản địa cuốn bụi đỏ mịt mù mỗi khi có xe qua. Thỉnh thoảng những cánh rừng cao su xen với rừng tự nhiên lưa thưa cây đang cháy nham nhở. Cảnh ấy, dội vào người lạ qua đường một nỗi buồn sâu thẳm và nỗi tiếc đến ngẩn ngơ. Đã là người miền núi, sống ở miền núi lâu năm, chúng tôi, ai cũng thắm thiết mầu xanh tuyệt diệu của rừng. Biển thì mênh mông nhưng dễ cô đơn. Đồng bằng thường đơn điệu. Núi rừng, với màu xanh cây lá, đèo dốc quanh co, suối sông uốn lượn ... đẹp vô ngần. Địa hình Tây Nguyên chúng tôi gặp đều bằng phẳng so với núi rừng Tây Bắc, nếu là rừng xanh thì thú vị biết bao.
Tại trụ sở Đảng uỷ, UBND xã Ia Lâu, các đồng chí lãnh đạo cho biết đã nhận được điện của huyện nên đang chờ đón chúng tôi. Và cũng với tinh thần mau được xuống với bà con, nữ Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ xã cử ông Bùi Thanh Tiến người Mường Lũng Vân, Tân Lạc hiện là Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Ia Lâu đưa chúng tôi xuống các thôn đông bà con người Mường.
Thật xúc động, chúng tôi gặp lại cụ Đinh Văn Yên, anh bộ đội Điện Biên năm xưa, nay 88 tuổi, cụ bà Bùi Thị Ọm 87 tuổi, họ là đôi ông bà cao tuổi nhất tại thôn 1. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Đinh Văn Yên phục viên về công tác tại địa phương. Trải qua nhiều công việc cho tới khi làm Xã đội trưởng xã Tiền Phong, huyện Đà Bắc thì cùng gia đình và bà con rời quê hương nhường đất cho Công trình Thuỷ điện Hoà Bình làm hồ chứa nước phát điện. Ánh mắt già nua của một ông cụ đã gần 90 tuổi như sáng lên cùng bộ quân phục bạc màu và những tấm huân, huy chương lấp lánh trước con cháu từ quê xa. Là những người đã, đang sinh sống tại tỉnh Hoà Bình từ thời sông Đà chưa ngăn, thời các cụ còn đang công tác, và chúng tôi mới mười tám, đôi mươi... nay, từ trong trí nhớ, cảnh và người gặp nhau rổn rang lời kể.

Từ chân dốc Cun theo quốc lộ 6A đường cấp phối bụi mù do xe tải Đoàn 2 và Đoàn 20 lăn bánh suốt ngày đêm, khoảng 25 km là đến Bến phà Bờ. Qua phà Bờ đi tiếp khoảng 2,5 km quanh co dưới chân đồi Hang Thần thì đến cầu Búng rồi vào chợ Bờ. Hết huyện lỵ, qua Hút Gió nổi tiếng gió ngàn thì đến xóm Trê, xóm Túp xã Hào Tráng. Từ Hào Tráng trèo dốc, vượt thác tới xã Tiền Phong - quê hương của cụ Đinh Văn Yên và đông đảo bà con người Mường đang ở thôn 1, xã Ia Lâu và đang tay trong tay với chúng tôi giữa đất trời Tây Nguyên bừng nắng. Người lớn tuổi hào hển, xúc động. Người nhỏ tuổi thì tròn mắt ngạc nhiên khi cảnh và người tái hiện trong câu chuyện vừa gần vừa xa. Đó là "Quán Tự Giác" - một "đặc sản" của người Mường Đá Bia, xã Tiền Phong, huyện Đà Bắc khi xưa. Đây có lẽ là điều ngạc nhiên thu hút giới trẻ nhiều nhất khi được nghe kể. Chuyện là, trên con đường lâm nghiệp từ Hào Tráng lên xóm Hạt, xã Yên Hoà đi qua nơi bà con Tiền Phong sinh sống. Hai bên đường có những quán nhỏ. Có quán lợp mái gianh, có quán chỉ là cái bàn gỗ hoặc vài tấm ván ghép lại. Hoa quả, bánh, trái, bắp ngô... được bày bán theo giá ghi sẵn. Một cái ớp hay cái hộp để cạnh. Khách qua đường có nhu cầu thì bỏ tiền vào ớp hay hộp rồi tự lấy thứ mình cần. Hết ngày, gia chủ từ nương về mới ra nhận tiền bán hàng. Nghe thế, có bạn trẻ thốt lên: Ôi, siêu thị giờ mới có, còn quê cháu "siêu thị" đã có từ xưa rồi hả chú?. Cháu ơi, mua hàng ở siêu thị thì chỉ tự chọn hàng sau đó vẫn phải ra điểm thanh toán rồi mới rời khỏi siêu thị được. "Quán Tự Giác" quê mình xưa không có người trông hàng, không cần thanh toán với người bán, chỉ người mua tự trả tiền thôi. Thế mới gọi "Quán Tự Giác", tự giác tuyệt đối cháu à!. Thật quý, khi tôi trở lại Hoà Bình, gặp người Đà Bắc, mới hay bây giờ tại xóm Đá Bia xã Tiền Phong đã khôi phục Quán Tự giác". Con cháu xa quê hãy một lần về lại Tiền Phong để thưởng thức "đặc sản" Quán Tự Giác quê mình nhé!
Tại thôn 1, nơi tập trung đông bà con các xã Hào Tráng, Tiền Phong vào lập nghiệp từ đầu những năm 1990 sau nhiều lần chuyển vén và chuyển tới không ít vùng xa xôi khác mà trong đó có cả vùng nước nổi Long An. Dạo một vòng quanh xóm, chúng tôi gặp vài nếp nhà sàn còn gần như nguyên bản xen với nhà xây mới. Những con đường liên xóm bằng bê tông rộng rãi thể hiện rõ sự quy hoạch khu dân cư. Hình ảnh sinh động nhất mà chúng tôi "vồ vập" là khi gặp các mế trong trang phục dân tộc Mường bên nếp nhà sàn Mường. Nghe thấy có người từ tỉnh Hoà Bình vào, bà con thông báo cho nhau và kéo tới mỗi lúc một đông. Lời chào, câu thăm tíu tít. Chúng tôi đến thăm cụ Bùi Thị Ẹn 101 tuổi từ xã Tiền Phong vào Nam, khi đó cụ cũng đã là người cao tuổi. Nay ở tuổi đại thọ, cụ Ẹn vẫn tỉnh táo trò chuyện. Khi chúng tôi xin được chụp ảnh chung, cụ Ẹn liền sửa lại áo, váy và tư thế ngồi cho nghiêm ngắn.
Là người thay mặt lãnh đạo xã đưa khách xuống các xóm, có lẽ do chủ ý nên cuối chiều, ông Bùi Thanh Tiến bố trí chúng tôi dừng chân tại Nhà Văn hoá thôn Lũng Vân - nơi tập trung bà con người Mường xã Lũng Vân và xã Ngổ Luông huyện Tân Lạc, trong đó có gia đình ông Tiến sinh sống. Tuy khác với bà con xã Hào Tráng, Tiền Phong, Vầy Nưa... của huyện Đà Bắc vào đây do nhường chỗ cho Hồ thuỷ điện Hoà Bình, bà con Ngổ Luông, Lũng Vân do thiếu đất đai canh tác nên di dân vào xây dựng kinh tế lâu dài. Dù lý do gì, hoàn cảnh nào thì bà con người Mường Hoà Bình đều gắn bó cùng nhau xây dựng quê hương thứ hai tại Tây Nguyên.
Tại Nhà văn hoá thôn, từ bí thư, phó bí thư chi bộ, trưởng thôn...đại diện các đoàn thể có mặt đông đủ, nhưng có lẽ nổi bật vẫn là các cô gái trong trang phục Mường. Được nghe đại diện thôn cung cấp tình hình về đời sống của bà con, về tình đoàn kết tương thân, tương ái giữa các hộ người Mường, giữa người Mường và người Tày, người Dao, người Mông... từ miền núi Tây Bắc với bà con người dân tộc bản địa, chúng tôi cảm động. Tại đây, câu chuyện xã Ngổ Luông được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lao động về giáo dục" được ôn lại với những chi tiết thật sống động.
Đó là vào năm 1972, tại Hội nghị nhân điển hình tiên tiến về giáo dục của tỉnh Hoà Bình. Lá cờ đầu về thành tích giáo dục lúc này thuộc về xã Thu Phong của huyện Kỳ Sơn. Ông Bùi Văn Nhinh, Bí thư Đảng uỷ xã Ngổ Luông "giao ước đuổi kịp và vượt thành tích của xã Thu Phong. "Nếu xã Ngổ Luông không làm được điều này thì sẽ phải nộp cho xã Thu Phong một con khỉ sống và hai chai mật ong rừng". Lại cả chuyện ông Bùi Văn Nhởn sau 10 năm đi bộ đội chiến đấu ở chiến trường miền Nam, sau 30/4/1975 được về thăm quê. Từ Ngã Ba Mãn Đức, ông Nhởn vượt mấy chục km đèo dốc về nhà. Dân làng kéo đến rất đông. Rượu cần bày trên sàn. Chuyện chiến trường, chuyện quê hương kéo một mạch cho tới sáng. Mọi người tạm chia tay gia chủ ra về thì vợ ông cũng cắp sách đi học bổ túc văn hoá. Nghĩ tủi thân, ông Nhởn xếp lại ba lô xuống cầu thang về đơn vị. Đi nửa đường, nghĩ địa phương đang có phong trào học tập ... nên ông Nhởn lại quay về nhà.
Gần kín bốn bức tường trong Nhà văn hoá thôn là bằng khen, giấy khen, cờ thi đua, cờ giải thưởng thể thao... vừa nói lên thành tích nhiều mặt của bàn con thôn Lũng Vân, vừa thể hiện truyền thống trân trọng kết quả, thành tích của chính mình làm ra, để các thế hệ con cháu noi gương và phát huy truyền thống quý báu của các thế hệ đi trước đã dày công xây dựng.
Bữa cơm tối thật ấm cúng và cũng rất tưng bừng với màn rượu cần khai vị. Chủ, khách vây quanh vò rượu cần Hoà Bình. Chí chám tay sừng rượu, miệng cất lời Mường âm vang. Người vít cần tóp má, người vòng ngoài cổ vũ râm ran. Lượt một, lượt hai...men rượu ngọt đắm, tình nồng ngất ngây.
Đã hứa tối nay "ngủ chơi" với bà con thôn 1, nên tôi và Lê Quốc Khánh (một nửa tổ công tác) nháy nhau kín đáo rời cuộc vui đang tưng bừng để về thôn 1. Và chúng tôi vô cùng ân hận khi biết từ chập tối, bà con thôn một 1 tập trung rất đông ở Nhà Văn hoá để giao lưu với chúng tôi, nhưng không thấy chúng tôi quay lại. Trời đã về khuya, bà con ai đã về nhà nấy. Ai còn thức, ai đã ngủ và bà con nghĩ gì khi chờ người ngoài quê Hoà Bình vào mà không thoả nguyện?
Sáng hôm sau, tại nhà cụ ông Đinh Văn Yên và cụ bà Bùi Thị Óm, chúng tôi thành thật xin lỗi bà con vì cái sự hớ hênh của mình tối qua. Được cán bộ thôn đỡ lời rằng, nguyện vọng của anh em Hoà Bình vào là thế, nhưng do xã bố trí lịch trình nên anh em bị động, bà con thôn 1 cũng cảm thông. Thực tình là vậy nhưng chúng tôi không bớt áy náy. Và rồi, nhà văn Phạm Huy Định từ thôn Lũng Vân trở lại thôn 1, Chúng tôi cùng lại thưởng thức bữa cơm sáng với gia đình cụ Đinh Văn Yên để chuộc lại phần nào khiếm khuyết của mình trước cái tình của bà con người Mường thôn 1, xã Ia Lâu.
LÀNG MƯỜNG HOÀ BÌNH DƯỚI CHÂN CỘT MỐC BA BIÊN
Trước khi tới Kon Tum, tôi đã thông tin tới nhà thơ "xe ôm" Tạ Văn Sỹ - người được nhiều bạn viết coi là "từ điển" sống của Tây Nguyên. Ông chính là người đã rong ruổi xe máy cà tàng tới 63 tỉnh thành trong cả nước. Riêng tỉnh Hoà Bình, Tạ Văn Sỹ đã tới cả Hang Kia, Pà Cò của huyện Mai Châu, Tu Lý của huyện Đà Bắc...
Nhận điện của anh em văn nghệ sỹ Hoà Bình, Tạ Văn Sỹ đang công việc gia đình từ quê nội Bình Định lập tức ngược Tp. Kon Tum, đón chúng tôi bên bờ sông Đăk Pla, tay bắt mặt mừng. Sau tuần nước mát, Tạ Văn Sỹ cùng chúng tôi lên xe tới huyện Ngọc Hồi. Chiều ngày làm việc cuối cùng trong tuần, tranh thủ trời còn sáng, ngồi trên xe, Tạ Văn Sỹ bấm điện thoại tới Bí thư Huyện uỷ Ngọc Hồi và Bí thư Đảng uỷ thị trấn Ngọc Hồi đồng thời là hội viên Hội VHNT Kon Tum...
Hoàng hôn buông. Không gian Tây Nguyên trải rộng càng bày ra cái mênh mông cao nguyên. Qua kính xe, Tạ Văn Sỹ giới thiệu những địa danh mà cách đây mấy chục năm ngồi trên ghế nhà trường trên đất Bắc chúng tôi đã nghe. Nào, Pleime - nơi diễn ra trận giao chiến đầu tiên giữa bộ đội Việt Nam và quân đội Mỹ. Nào chiến thắng Đăk Tô - Tân Cảnh. Nào đường bay quân sự xưa, nay là sân phơi cà phê, hồ tiêu của bà con. Mỗi khi Tạ Văn Sỹ giới thiệu địa danh lịch sử, tôi lại sởn gai ốc. Ký ức tuổi thơ cùng người lớn quây quần bên chiếc đài ga-len chờ tin chiến thắng dội về mà lòng dạ xốn xang...
Chập tối, chúng tôi tới nơi mà ở đó đường quốc lộ 40 thênh thang, cây hai bên đường đã cổ thụ chùm xanh, mát rượi. Tạ Văn Sỹ bảo: Đây là thôn Bắc Phong, xã Bờ Y. Trời, Bắc Phong - bà con người Mường Hoà Bình vào ở đây ư?. Tôi vội xuống xe, mở tầm nhìn và gặp ngay một mế Mường trong bộ váy áo thân quen. Vội chạy qua đường, tôi sang ngay gặp mế. Cất tiếng Mường, mế bảo, từ xóm Bãi Hả, huyện Đà Bắc chạy nước sông Đà vào đây. Đi ngót hai ngàn cây số để lại được nghe tiếng Mường, biết bao xúc cảm.
Tranh thủ trời còn tỏ, tôi cùng Giám đốc Thư viện tỉnh Hoà Bình -Lê Quốc Khánh nhẩn nha lối xóm. Gặp một ngôi nhà mới, chúng tôi bước vào. Chủ nhà là ông Đinh Văn Nam, 64 tuổi, thương binh 3/4 mới từ xóm Bưa Chan, xã Tiền Phong vào. Nhấc bên chân gỗ, xoay người về phía tôi, ông Nam bộc bạch: Gần hết đời người, tưởng được sống yên ổn tại quê hương. Nào ngờ trận mưa lũ khủng khiếp năm 2017 làm đất long, đá lở vùi lấp nhà cửa, phúc mà gia đình không ai thiệt mạng. Có con, cháu trong này, vợ chồng tôi gom góp chút đỉnh mua đất, cất nhà, sống những năm cuối đời cùng chúng nó. Nhớ quê, tôi thường chỉ nói tiếng Mường và nhắc con cháu nói tiếng Mường dù mình đã xa quê hay đang ở nhà xây.
Đêm xuống, tại nhà ông Bùi Văn Linh - Trưởng thôn Bắc Phong có mặt ông Sa Văn Khoa, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã kiêm Bí thư Chi bộ thôn, chúng tôi có một buổi tối vô cùng ấn tượng. Ông Sa Văn Khoa chính là chủ nhân của chiếc bè chuyển dân bị đắm tại thác Hàm Rồng trên sông Đà năm xưa.
Sa Văn Khoa sinh 1958 tại Bãi Hả, Hào Tráng. Năm 1977, ông lên đường tòng quân và chiến đấu tại biên giới Tây Nam. Năm 1982, Khoa ra quân với thương tật 2/4 mất 61% sức khoẻ. Giáp tết Nguyên đán 1986, sau 2 lần chuyển vén, Sa Văn Khoa và em trai Sa Văn Khuê dỡ nhà, cốn bè xuôi sông Đà xuống đầu Kênh để từ đó vận chuyển đồ về Suối Sâu, chân dốc Cha xã Toàn Sơn. Bè xuôi theo dòng nước. Mọi người đang ngả lưng cho bớt cơn mệt thì bỗng trời, nước chao nghiêng, bè liệng vào dòng xoáy, gió giật, nước tràn ngập đồ đạc trên bè. Mọi người bật dậy, tay chèo, tay chống cố đưa bè ra khỏi vùng xoáy. "Nhất thuỷ, nhì hoả" người xưa đúc kết không sai. Sau một hồi giành giật với thuỷ thần, con bè dựng lên rồi đổ ấp xuống mặt sông. Người, người nhảy tứ tung. Đúng lúc nguy nan, mấy thuyền cá gần đó phát hiện và lao ra cứu người. Phúc thay, trời phù hộ nên không ai bị Hà Bá gọi đi.
Nghe tiếng kêu, người trên bờ cũng dùng thuyền lao ra cứu vớt. Người sống là quý, đồ đạc vớt được thứ gì hay thứ đó. Chứng kiến cảnh này, người già bảo: "Không đi đâu nữa, ở lại thôi". Nói thì nói vậy chứ ở lại thì sống thế nào, khi mà người chạy nước lại khát nước. Ba năm sau, 1989, gia đình Sa Văn Khoa cùng một số bà con lại dỡ nhà chuyển về Ngù Mái, xã Hiền Lương với xóm mới tên gọi Lương Phong (Hiền Lương và Tiền Phong). Tại Lương Phong, đất ít, nước thiếu, đời sống khó vẫn hoàn khó. Cuối năm, ông Xuân - cán bộ huyện đội Đà Bắc bảo: "Vào Bờ Y, Ngọc Hồi, Kon Tum đi, nơi ấy tuy xa xôi, nhưng còn nhiều đất - thời chiến đấu trong đó, tôi biết mà". Thế là Sa Văn Khoa lại "khăn gói quả mướt" vô Nam. Từ đó mà cho mãi đến tháng 4/1992, Sa Văn Khoa cùng một số hộ dời Lương Phong đi ô tô xuống Hà Nội, từ Hà Nội đi tầu hoả vào Bình Định, rồi đi ô tô tới Bờ Y. Do thuộc diện chuyển dân lòng hồ Sông Đà nên khi tới Bờ Y, mỗi gia đình được nhận một nếp nhà tạm rộng 24 mét vuông, mái gianh, vách nứa. Bước vào nhà, cỏ gianh đâm tua tủa làm ai cũng nao lòng.

Tới đây thì ở lại đây. Cán bộ thôn (nơi cũ) căng dây chia đất ở. Mỗi nhà 1000 mét vông. Bốc thăm, ai trúng đâu lấy đó. Với kinh nghiệm nương rãy ngoài Bắc, nương rẫy trong này rộng hơn, bằng hơn. Sẵn đôi tay nghiện việc, những giọt mồ hôi từ nơi đá xanh nhỏ xuống đất đỏ. "Yêu đất thì nên công", cuối năm, có nhà thu được hàng tấn lúa nương, trước sự ngỡ ngàng của bà con người dân tộc bản địa.
Sau lúa nương là cà phê, cao su. Từ một ha đến ba, bốn ha. Từ chỗ chỉ quen tự sản, tự tiêu, nay bà con làm quen và làm chủ quá trình sản xuất hàng hoá. Đời sống khấm khá, những căn nhà mới nối tiếp mọc lên. Đến nay, thôn Bắc Phong đã có 302 hộ với 1190 nhân khẩu, với thu nhập bình quân 45 triệu đồng/người/năm. Ngày 10 hàng tháng, tại đây đều tổ chức chào cờ. Phụ nữ mặc áo váy Mường nô nức như trẩy hội. Tiếng chiêng Mường lại ngân vang. Vòng xoè mở rộng trong bạt ngàn nắng gió Tây Nguyên.
Rời Nhà văn hoá thôn Bắc Phong, chúng tôi được ông Sa Văn Khoa đưa đi thăm cửa khẩu và nhất là tới cột mốc ba biên: Việt Nam - Lào - Camphuchia. Con đường nhựa nhỏ, ngoằn ngoèo có đến vài km men theo đồi dốc. Tới quả đồi tròn trên đỉnh là cột mốc ba biên. Đứng bên cột mốc, thở chung khí trời, một bước chân là người qua ba nước mà lòng dạ rưng rưng. Giữa đồi núi chập chùng khó có thể phân biệt ranh giới nếu không có cột mốc này. Tuy nhiên, theo tay chỉ và lời giới thiệu của ông Sa Văn Khoa và Tạ Văn Sỹ thì chúng tôi nhận ra ngay sự khác biệt giữa núi bên Việt Nam và núi đồi của Lào cũng như Camphuchia, đó chính là màu xanh. Phía Việt Nam trơ trọc. Phía Lào và Camphuchia là màu xanh bao phủ. Có thể nói, không đâu rõ bằng "trình độ" phá rừng của Việt Nam như đứng trên cột mốc ba biên này mà quan sát. E rằng, nếu hai nước bạn không có biện pháp bảo vệ rừng thật nghiêm mà để Việt Nam "xuất khẩu trình độ phá rừng" sang thì cũng chẳng mấy mà cùng trơ trụi với nhau cả. Đối với chúng tôi, đây là một trong những điều buồn nhất trong chuyến đi Tây Nguyên lần này.
Chia tay Bờ Y, chúng tôi trở lại thị trấn Plei Kần. Bí thư Đảng uỷ thị trấn Nguyễn Trí Cường đưa chúng đi mãi vào rừng cao su. Đến nơi, anh mới nói: Đưa các bác đến đây, gặp một người Mường - cựu tù Phú Quốc. Tôi chỉ kịp thốt lên: Thế à!
Ông là Bùi Trọng Kim, người Mường ở xã Bình Thanh. Chính tại chiến trường Pleime, ông bị thương nặng và ngất đi. Mở mắt ra, ông ngỡ ngàng khi quanh mình thấp thoáng bóng áo rằn ri. Sơ cứu xong, ông bị đưa ngay ra Nhà tù Phú Quốc. Và câu chuyện sau 4 tháng khoét hầm, ông cùng bạn tù vượt ngục, rồi tham gia công tác ngay tại địa bàn Phú Quốc cứ thế tuôn như nước chảy cuốn hút người nghe.
Cuộc vui tại rừng cao su của gia đình ông Bùi Trọng Kim đang xôm thì có tiếng xe máy dưới chân dốc. Con trai ông Kim từ ngoài thị trấn nghe có khách từ Hoà Bình tới liền có mặt. Trời, con trai gì mà trông già hơn bố. Ông kể: Trước khi vào Nam chiến đấu, vợ ông có mang 4 tháng. Biền biệt các chiến trường rồi nhà tù Phú Quốc. Giải phóng miền Nam, ông ở lại tham gia chính quyền sở tại. Lần đầu về quê, con ông đã hơn 14 tuổi.
Đang vui chuyện, lại tiếng xe máy tới. Và lần này là Xa Văn Thuận, con trai ông Xa Văn Thía và bà Đinh Thị Hẹn - cán bộ chủ chốt huyện Đà Bắc những năm 80 - 90 của thế kỷ trước. Khi ấy, Xa Văn Thuận là nhân viên thu mua của Lâm trường Đoàn Kết. Thú vị làm sao, Phạm Huy Định chính là nguyên Phó Giám đốc Lâm trường Đoàn Kết thời đó. Thầy trò gặp nhau, mừng mừng, tủi tủi. Chuyện xa, chuyện gần, nhưng chốt lại là đời sống của bà con trong này nhìn chung khấm khá. Nhiều gia đình có của ăn, của để. Điều quan trọng hơn, mừng hơn là người Mường Hoà Bình tại Ngọc Hồi đã tham gia và làm chủ quá trình sản xuất hàng hoá. Cao su, hồ tiêu là những cây chủ lực cho thu nhập ổn định và lâu dài. Trong khi đó, không ít địa phương tại tỉnh Hoà Bình thì câu hỏi "Trồng cây gì, nuôi con gì" vẫn chưa có lời giải.
TỪ MỘT TẤM ẢNH TỚI MỘT KHUNG ẢNH
Nhận lời của “bà” Quản thư Không gian đọc T.M là cô giáo Nguyễn Hồng Nhung, tôi dành một chiều chủ nhật cuối tháng Mười tới dự khai trương không gian đọc mới mang tên “Góc mật” tọa bên hồ Hòa Bình thơ mộng. Thú thực nếu không dự cuộc khai trương hôm nay thì tôi cũng chưa biết đến khu dân cư vắt vẻo nơi “Đầu Kênh” Thủy điện Hòa Bình này.
Trong cái nắng vàng đầu đông như giót mật, mặt hồ Hòa Bình như một tấm gương sáng loáng hắt lên ánh vàng lộng lẫy và vựa vàng ấy, đàng hoàng ôm choàng không gian nơi Góc Mật. Còn gì vui bằng từng tốp độc giả nhí tấp nập kéo tới. Không khí ấy càng làm tưng bừng vẻ tinh khôi của một địa chỉ sách mà chủ điểm dành cho bạn đọc trẻ.
Thêm điều ngạc nhiên đến với tôi là tại đây, hôm nay, tôi được gặp lại cụ Bùi Kim Thanh, năm nay cụ đã bước vào tuổi 90. Thực tình tôi không biết nhiều về cụ. Phần vì cách biệt thế hệ, phần thời cụ đang làm lãnh đạo tỉnh thì tôi còn đang công tác ở huyện vùng cao Đà Bắc. Nhắc đến cụ, tôi chỉ nhớ đây là một vị Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình khi tỉnh Hòa Bình tái lập. Từ ngạc nhiên gặp đến ngạc nhiên biết, đã 90 tuổi nhưng cụ Thanh rất minh mẫn, vẫn đọc sách và ghi chép hàng ngày. Có lẽ vì tình yêu sách, quý lớp trẻ nên cụ có mặt tại buổi khai trương Không gian đọc Góc Mật hôm nay.
Rất trân trọng, tôi tặng cụ tập sách ảnh “Bờ xưa” do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 2018 của tôi. Mở một vài tấm ảnh trong tập giới thiệu với cụ, tôi thật không ngờ cụ đọc rất nhanh hàng chữ nhỏ dưới chân ảnh mà không cần kính. Xem và trao đổi về Chợ Bờ thời chưa đắp đập thủy điện và huyện lỵ huyện Đà Bắc đứng chân với tôi rồi cụ Thanh cho biết, cụ có một tấm ảnh chụp tại thác Bờ từ năm 1960. Tôi chỉ biết bật lên sung sướng vì mình sẽ lại có thêm một tấm ảnh bổ sung cho tập sách ảnh “Bờ xưa 2” đang chuẩn bị xuất bản. Tôi ngỏ lời được đến nhà xin chụp lại tấm ảnh quý này, cụ Thanh tỏ ra vui và đồng ý. Đúng là tôi được lãi từ một chuyến đi, một cuộc gặp.
Không để lâu, ngay hôm sau, tôi tìm đến nhà cụ Bùi Kim Thanh. Mục sở thị mới hay cụ Thanh “chiếm” trọn tầng hai của ngôi nhà số 27 trên đường An Dương Vương, phường Phương Lâm, Thành phố Hòa Bình. Tôi nói cụ chiếm trọn tầng hai vì ngoài phòng nghỉ của cụ thì các phòng cùng tầng còn lại đều lưu giữ kỷ niệm của cuộc đời cụ. Khi cụ Thanh giới thiệu từng khung ảnh, tấm ảnh, tôi trầm trồ rằng đây là những tư liệu quý, rất quý, không chỉ của cụ, gia đình cụ mà chính là cả của chúng tôi, những kẻ hậu thế đang hoạt động văn học, nghệ thuật và ưa tìm hiểu lịch sử tỉnh Hòa Bình.
Tết Nguyên Đán Nhâm dần đang về. Tết là dịp gia đình đoàn tụ. Tết là dịp để chúng ta tri ân thầy giáo, cô giáo … Tôi xin giới thiệu một trong rất nhiều câu chuyện, thông qua một khung ảnh của cụ Bùi Kim Thanh đối với thầy giáo cũ, gia đình thầy giáo cũ của mình.
Đó là một khung ảnh gồm sáu ảnh, treo trang trọng trong phòng nghỉ của cụ. Chính giữa là ảnh đen trắng chân dung của thầy giáo Nguyễn Cao Trứ (1916 -1988) vừa hoạt động bí mật vừa dạy học tại xã Nật Sơn mà cụ Bùi Kim Thanh là học trò của Thầy từ năm 1942 – 1944. Sau này, cụ Thanh biết thầy Nguyễn Cao Trứ quê ở tỉnh Ninh Bình và chưa một lần gặp lại Thầy. Khi đã nghỉ hưu, cụ Thanh quyết tâm tìm và liên hệ với gia đình thầy giáo Nguyễn Cao Trứ. Thật buồn và tiếc, thầy Trứ đã qua đời năm 1988. Cụ Thanh tha thiết mời người thân của thầy Nguyễn Cao Trứ lên thăm Hòa Bình. Tấm ảnh thứ hai ghi lại cuộc thăm Hòa Bình của người thân thầy giáo Nguyễn Cao Trứ. Ảnh thứ ba là cụ Bùi Kim Thanh, người học trò cũ tuổi ngoài bảy mươi tuổi, thắp hương tưởng nhớ thầy giáo cũ Nguyễn Cao Trứ tại tư gia của Thầy vào năm 2018, sau ba phần tư thế kỷ thầy trò xa nhau. Thứ tư, ảnh cụ Thanh chụp với thân nhân gia đình Thầy giáo Nguyễn Cao Trứ; ảnh Thứ năm, thứ sáu chụp người thân của thầy giáo Nguyễn Cao Trứ và gia đình cụ Bùi Kim Thanh trong những lần gặp gỡ tại hai quê Ninh Bình và Hòa Bình.
Sáu bức ảnh đặt trang trọng trong một khung ảnh, tạo một phóng sự ảnh sinh động, thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam thông qua người học trò cũ là vị cựu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình Bùi Kim Thanh – một trong những người con ưu tú của đất Mường Hòa Bình.
Là người đang sưu tầm ảnh và tìm hiểu lịch sử, văn hóa xứ Mường Hòa Bình, tôi rất trân trọng và cảm ơn cụ Bùi Kim Thanh về ý thức lưu giữ và sử dụng tư liệu của bản thân và gia đình một cách bài bản. Qua đây, chúng tôi không chỉ ngưỡng mộ mà còn học được ở cụ ý thức và kinh nghiệm thu thập, hệ thống, lưu trữ và sử dụng tư liệu, nhất là những tư liệu liên quan đến văn hóa và lịch sử. Đúng là “quá khứ nếu không được tư liệu hóa thì nó sẽ vĩnh viễn trôi đi”.
Cuối buổi thăm, chiêm ngưỡng hệ thống ảnh tư liệu hiếm có này và được nghe nhiều câu chuyện thú vị, tôi mới ngỏ lời xin chụp lại tấm ảnh thác Bờ cụ đang sở hữu. Lại thêm một ngạc nhiên vì cụ Bùi Kim Thanh đã chuẩn bị tấm ảnh quý kèm mảnh giấy nhỏ vuông vắn chú thích chân ảnh cụ mới ghi:
Ngân hàng huyện Mai Châu được chia tách từ Ngân hàng Chợ Bờ huyện Đà Bắc tháng 4/1960. Ảnh do đ/c Bùi Kim Thanh, nguyên Trưởng Ngân hàng Mai Châu đầu tiên cung cấp.
Người thứ 4 hàng trước (từ trái sang phải) là đ/c Bùi Kim Thanh sinh năm 1932, sau này làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình khóa XI (năm 1989 – 1994), nghỉ hưu, hiện đang sống với gia đình tại phường Phương Lâm, Tp. Hòa Bình sắp bước sang tuổi cửu thập niên./.
Hòa Bình, ngày 25/10/2021
Và cụ nói: Tôi kỷ niệm cháu tấm ảnh này!
Đón nhận món quà quý từ tay cụ, trong tôi cảm xúc dâng trào. Ôi cụ Bùi Kim Thanh! Chín mươi tuổi như cụ hỏi được mấy người?
BỜ XƯA VÀ TÔI
Tôi sinh ra tại một miền quê đồng bằng cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội. Như bạn bè cùng trang lứa, tuổi thơ của tôi đi qua cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Những buổi chiều ngớt tiếng bom, chúng tôi ra cánh đồng và nhìn về phía Tây, thấy mờ xa núi xanh trập trùng. Người lớn bảo với chúng tôi, nơi mờ xa ấy là Hòa Bình đấy! Trong tiềm thức của tôi khi ấy, Hòa Bình chỉ có vậy.
Cuối những năm 60 của thế kỷ XX, có một lớp Y sỹ sơ tán về quê tôi. Trong số học sinh ở nhà tôi có một người con gái tên Xuyên quê ở Kim Bôi – Hòa Bình mà chúng tôi gọi bằng cô Xuyên. Do còn quá nhỏ nên chúng tôi cũng không biết hỏi cô Xuyên xem Hòa Bình như thế nào? Thế rồi lớp Y sỹ ấy mau chóng giải thể vì giặc Mỹ đe doạ dùng B52 “đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”.
Hơn 10 năm sau, tỉnh Hòa Bình sáp nhập với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình. Tôi – chàng trai đồng bằng 18 tuổi, nhận quyết định lên công tác tại Công an huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình với tâm trạng bồn chồn lần đầu tiên được đến nơi miền xa xanh ấy và biết đâu sẽ gặp lại cô Xuyên? Tháng 10/1977, số công an trẻ miền xuôi lên nhận công tác tại tỉnh Hòa Bình thì nhiều, nhưng cùng tôi về Công an huyện Đà Bắc có Đào Văn Minh quê Phú Xuyên (sau là Trưởng phòng Phòng chống tội phạm về ma túy, Trưởng Công an huyện Kim Bôi); Hoàng Viết Nha quê ứng Hòa (cán bộ Công an Hà Tây đã nghỉ hưu) và Nguyễn Tài Thú quê Hoài Đức.
Hôm rời quê hương lên tỉnh miền núi Hòa Bình, đối với tôi là một kỷ niệm, một thử thách đầu đời không bao giờ quên. Các bạn Minh, Nha, Thú còn biết đường ra bến xe Hà Đông mua vé đi ô tô Chợ Bờ lên Đà Bắc (Chợ Bờ là huyện lỵ huyện Đà Bắc). Riêng tôi, nào có biết Chợ Bờ là Đà Bắc nên đã đi xe lên thị xã Hòa Bình.
Quốc lộ 6 khi đó đang nâng cấp để phục vụ khởi công Công trình Thuỷ điện Hòa Bình, xe lên thị xã Hòa Bình phải đi vòng Kim Bôi ra dốc Cun rồi vòng lại bến xe Đồng Tiến. Trời đã về chiều, cái lạnh đầu đông cộng với tâm thái của kẻ lần đầu tiên xa nhà làm tôi không khỏi hoang mang. Tôi đã ngồi ở ghế đá trong nhà chờ ở bến xe Đồng Tiến và ôm chiếc ba lô “con cóc”- kỷ vật đời quân ngũ của bố, trong đó đựng mấy bộ quần áo chờ sáng.
Mờ sáng hôm sau, tôi hỏi thăm đường lên Đà Bắc thì mới biết phải đi ngược lại thị xã lên Chợ Bờ. Thế là tôi quyết định đi bộ. Từ bến xe Đồng Tiến vào đến chân dốc Cun khoảng 8 km đường nhựa; từ chân dốc Cun lên đến Chợ Bờ là 25km đường đất bụi mù bởi xe tải quá cảnh Đoàn 2 và Đoàn 20 sang nước bạn Lào. Cứ thế, ba lô trên vai tôi đi. Khoảng 11 giờ trưa, tôi đến bến phà Bờ thì cũng là lúc hành khách xe ca Hà Đông – Chợ Bờ xuống xe để lên phà qua sông Đà. Còn tôi, không biết là mình cũng được xuống phà nên đã tìm thuê đò.
Và, chính trong lúc lơ ngơ tìm đò qua sông ấy, tôi gặp ngay thác Bờ. Trời, giữa một vùng sông nước mênh mông, núi non hùng vỹ là thế, một quần thể núi đá mọc lên giữa lòng sông. Cứ thế tôi ngắm đến say mê và mong sao nhanh chóng được lạc vào quần thể thiên nhiên độc đáo này. Sang sông, tôi tiếp tục đi bộ gần 3 km nữa mới về Công an huyện Đà Bắc. Bây giờ mỗi khi nhớ lại, tôi cứ nghĩ cái sự ngây ngô của kẻ khù khờ như tôi có lẽ là một thử thách đầu tiên nhưng rất quan trọng đối với sự nghiệp công tác của tôi ở miền núi Hòa Bình.
Một đứa con của đồng bằng, lại là con trai một, do chiến tranh, bố đang ở chiến trường nên tôi chưa được đi khỏi nhà ngoài 20 km, nay đến Đà Bắc - huyện miền núi cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Hòa Bình thì hẳn không sao kể hết sự bỡ ngỡ. Nhưng chính tình cảm của bà con miền núi Đà Bắc khi đó và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình sau này đã cưu mang và giúp tôi khôn lớn. Xin được kể lại vài kỷ niệm trong muôn vàn tình thương đó:
Lần đầu tiên tôi được cử đến bản Mái xã Hiền Lương, vùng đồng bào dân tộc Mường để cùng Ban Công an xã triển khai công tác an ninh. Từ Chợ Bờ đi bộ men theo bờ sông Đà, qua hàng chục cây cầu treo vắt vẻo bên núi, bên sông rồi vào trung tâm xã Hiền Lương thì trời đã xẩm tối. Từ xóm Ké, tôi phải trèo một cái dốc dựng đứng trong sương mù dày đặc. Đến đoạn bằng, trời tối mịt lại gặp ngã ba đường mòn mà không biết đường nào là đường về bản. Trong lúc bối rối đến phát khóc thì bỗng có tiếng mõ trâu lốc cốc phía trước. Tôi mừng rỡ như gặp người. Thế là tôi theo tiếng mõ trâu về bản. Lần đầu tiên tôi ý thức được câu “Cái khó ló cái khôn” của các cụ nhà ta.
Đi bộ ròng rã một ngày đường, lúc mò mẫm giữ rừng thì cái sợ át cái đói, bây giờ đến bản rồi, cái đói mới hành hạ sức trai 18 của tôi. Tôi trèo màn thang lên một nhà sàn đầu bản. Nhà ngoài tối om chỉ leo lét ánh lửa hắt ra từ bếp. Bên cạnh bếp, một bà mế đang lúi húi quạt xôi gấc nghi ngút khói. Đang đói, tôi nhìn thấy xôi gấc mà nuốt nước miếng. Mế hỏi han rồi bảo tôi ra ngoài nghỉ cho đỡ mệt. Mế thoăn thoắt trải đệm cho tôi nằm, lấy chăn cho tôi đắp. Mặc dù rất đói nhưng do cái mỏi rã rời của một ngày rừng lại được cái ấm, cái thơm của chăn đệm vỗ về nên tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.
Khi được đánh thức dậy để ăn cơm, tôi thấy nhà có thêm người và ai cũng ra chào tôi. Một mình tôi một mâm cơm, cơm trắng chứ không phải xôi gấc. Điều này làm tôi cứ thắc mắc. Được ngủ một giấc, được ăn cơm no, tôi tỉnh táo hẳn ra và bắt đầu hỏi chuyện gia đình. Và những ngày sau đó, tôi tế nhị biết được bữa ăn của gia đình nào có phải xôi gấc mà là củ nâu, một thứ củ mà bà tôi dùng để nhuộm vải. Tôi bàng hoàng, cổ như nghẹn lại mặc dù bữa trượt “xôi gấc” đã qua lâu. Cả nhà ăn củ nâu trong khi tôi ngủ để cho tôi yên lòng ăn bát cơm trắng. Hiểu biết đầu tiên của tôi về người miền núi là như vậy. Tình cảm đầu tiên của người miền núi – những người còn chưa thạo tiếng phổ thông dành cho tôi là như vậy.
Chuyến công tác thứ hai của tôi là đến xã Yên Hòa với bà con người Tày. Cũng một ngày đi bộ cật lực qua dốc Sung, dốc Kìa rồi vào xóm Lang. Đêm đông, sương muối rét cắt da cắt thịt. Tôi được gia chủ trải đệm dày bảo nằm rồi bà mẹ miền núi đắp cho tôi 5 cái chăn. Một lúc sau tôi nóng toát mồ hôi nhưng tôi không bỏ bớt chiếc chăn nào vì đó là tình của mẹ miền núi. Cảm động trước tấm lòng của mẹ, tôi không sao ngủ được. Bên bếp, dáng mẹ còng đang ngồi giữ lửa làm sáng lên núi rừng.
Cứ thế, bao chuyến công tác là bấy nhiêu tình cảm của bà con người Mường, người Tày, người Dao ... dành cho tôi. Những đêm cuối tháng trời tối đen như mực, mẹ miền núi lại đốt đuốc đưa tôi đến các bản họp công tác an ninh. Mẹ dạy tôi giơ đuốc ngang, lửa sắp tắt thì dốc đuốc xuống. Già làng dạy tôi qua suối thì đi nghiêng người cho bớt sức cản của nước. Những đêm trăng rừng sao mà sáng láng mà dịu êm đến thế, cùng gái bản trai mường chúng tôi ca hát. Tôi được nghe được học những làn điệu ví đúm tình tứ, thiết tha của người Mường, điệu khắp uyển chuyển duyên dáng của người Tày, điệu múa chuông rộn rã của người Dao...
Năm 1978, trong đợt công tác bảo vệ đổi tiền tại xã Ngòi Hoa, lần đầu tiên tôi được đi đò qua sông, tức là qua thác Bờ để sang sông. Với tay lái điệu nghệ của chủ đò mà chúng tôi cứ chòng chành theo nhịp mái chèo. Tuy vậy, tôi vô cùng thích thú khi được tiếp cận những hòn núi nhỏ mang những hình thù độc đáo giữa sông Đà. Đò cập bến, chúng tôi phải vượt dốc Chủa gần như dựng đứng để vào xã Ngòi Hoa. Tại bàn đổi tiền hôm ấy, chúng tôi gặp mấy cô giáo trẻ đang cắm bản tại nơi đây. Trong những cô giáo trẻ ấy có Đỗ Thị Hải Yến – người vợ của tôi bây giờ.
Những ý nghĩ 3 năm nghĩa vụ miền núi trong tôi vắng đi lúc nào không biết. Mỗi lần viết thư về nhà, tôi dành nhiều nhất để kể chuyện miền núi cho ông bà, bố mẹ và các chị, em tôi. Vì cũng như tôi khi chưa lên miền núi, nhà tôi nào có ai biết gì về Hòa Bình. Tôi kể ở miền núi có nhiều đệm, nhiều chăn. Có đệm, có chăn riêng cho khách. Chăn, đệm, chiếu lại có mảnh vải khâu ở mép để đánh dấu đâu là đầu trên, đâu là đầu dưới. Ông tôi, một người biết chữ nho, mắt sáng lên: Đấy, đích thị là văn hoá đấy cháu ạ.
Thế rồi 2 con trai của chúng tôi sinh ra tại huyện Đà Bắc. Khi được 5 tuổi một lần cháu lớn về quê, thấy quả mướp to, cháu bảo với cụ: Cụ ơi! trái này để làm mạ cụ nhé! Ông nội tôi không hiểu chắt bảo để làm mạ là thế nào, khi được tôi giải thích, làm mạ tiếng Mường là làm giống thì ông tôi ngạc nhiên và tâm đắc cách nói của người Mường. Tình cảm ấy, văn hoá ấy đã dinh dưỡng tâm hồn tôi, khởi phát trong tôi những tứ thơ để rồi hàng chục năm sau, những vần thơ đầu tiên của tôi được viết ra, được xuất hiện trên Báo Văn nghệ Hòa Bình và không ít báo chí ở Trung ương.
Sau 16 năm công tác tại huyện Đà Bắc, tôi được chuyển ra Công an tỉnh. Đây là dịp tôi được đến với bà con các dân tộc trong tỉnh. Được tìm hiểu kỹ hơn, rộng hơn bản sắc văn hoá các dân tộc miền núi Hòa Bình. Càng đi, tôi càng cảm nhận cái nghĩa tình mộc mạc, trong sáng của con người miền núi, cái đẹp mê hồn của phong cảnh Hòa Bình. Trong mọi công việc, tôi biết dựa vào các già làng như dựa vào cây si, cây đa; trong mắt tôi “gái bản là nụ hoa”, bên tôi “trai mường như cây nghiến”. Tôi trân trọng tinh thần hiếu học, thực học để vượt nghèo của người dân xã Ngổ Luông ở lưng núi Trường Sơn; an ninh hòa quyện với văn hoá của làng Bôi Câu ở Kim Bôi; cảm phục tấm lòng vì dân của một người Dao đi mở đất - Bàn Văn Hương để có một Thung Rếch trù phú như hôm nay; kính phục sự vận dụng truyền thống với hiện đại của “Cụ Cảnh sát Giao thông” Bùi Văn Chuôm ở xóm Cháy, xã Liên Vũ, huyện Lạc Sơn với mô hình ngăn chặn tai nạn giao thông ngay từ ổ nhà; và còn rất nhiều cái hay, cái đẹp, cái tình, cái lý đã, đang và tiếp tục tiềm ẩn trong đời sống của bà con nhân dân các dân tộc trong tỉnh Hòa Bình. Lộ thiên đấy mà trầm tích đấy. Nếu chúng ta biết trân trọng, tìm tòi và phát huy thì trầm tích thành lộ thiên và ngược lại. Nhất là tỉnh Hòa Bình khi chưa thành lập thì đã rừng, đã núi đã sử thi Đẻ đất, đẻ nước bất hủ…

Thấm thoắt mới ngày nào mà tôi đã là công dân của miền núi Hòa Bình 44 năm. Mới ngày nào tôi và cô giáo trẻ Hải Yến gặp nhau, trêu nhau ở bàn đổi tiền ở xã Ngòi Hoa (1978) mà nay chúng tôi đã là một gia đình đầm ấm 3 thế hệ với 10 nhân khẩu trên quê hương thứ hai - Hòa Bình. Điều tôi luôn nghĩ tới và khẳng định là nếu tôi không lên công tác và định cư ở miền núi Hòa Bình thì tôi không bao giờ có thể từ một chiến sỹ công an trở thành nhà văn, nhà báo.
Lại nữa, hoàn thành nhiệm vụ của ngành Công an, tôi được tín nhiệm bầu là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hòa Bình đến nay là hai nhiệm kỳ 2012 – 2017 và 2017 – 2022. Những đêm, đứng ở ban công nhà mình nhìn bầu trời Hòa Bình phì nhiêu ánh sáng, tôi thầm cám ơn: Hòa Bình không phải nơi tôi sinh ra nhưng Hòa Bình là nơi tôi lớn. Và, Bờ xưa là nơi cưu mang những bước chân non nớt đầu tiên của tôi trên xứ sở Hòa Bình!
ĐỌC LẠI “NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ” CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN
Ngay bây giờ, bạn search (tìm kiếm) từ khóa “người lái đò sông Đà” trên google lập tức hiện lên hàng trăm bài viết, bài giảng, bài văn mẫu (cả chữ, cả tiếng, cả hình) về tùy bút nổi tiếng này của nhà văn Nguyễn Tuân. Thiên tùy bút “Người lá đò sông Đà” đã để ấn tượng lưu bám trong dòng chảy Văn học Việt Nam.
Như bao người tường tận con sông Đà (ít nhất thì cũng từ Sơn La xuống hết địa phận Hòa Bình) được học, được đọc, được nghe bao lần “Người lái đò sông Đà”, có thể bạn ngờ ngợ hỏi chính mình: Làm sao có thể lái thuyền vượt qua một con thác dốc đứng như những con thác chúng ta vẫn thường thấy? Chỉ cho tới khi khởi việc tìm kiếm lại hình ảnh, tư liệu … rồi xuất bản sách, ảnh Bờ xưa, tôi mới có câu trả lời thỏa đáng cho những liên hệ từ áng văn bất hủ. Trong khuôn khổ của một bài viết tham khảo, tôi xin được đưa ra các ý kiến chứng khảo như sau:
Sông Đà bắt nguồn từ Vân Nam – Trung Quốc len lỏi giữa núi rừng Tây Bắc nước ta tựa một quai thừng khổng lồ do Tạo – hóa quẳng vội vào trái đất. “Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh” đã là câu cửa miệng lưu truyền trong dân gian mỗi khi nhắc tới sông Đà, chính vì sự hung dữ của con sông này. “Thác ghềnh” hay “ghềnh thác” đôi khi là từ ghép (như cồng chiêng), nhưng rõ ràng thác khác, ghềnh khác (cũng như chiêng và cồng là khác nhau). Xin tra lại từ điển tiếng Việt:
-Thác là chỗ dòng sông, dòng suối chảy vượt qua một vách đá cao nằm chắn ngang rồi đổ mạnh xuống.
-Ghềnh là chỗ lòng sông có đá lởm chởm nằm chắn ngang làm nước dồn lại, chảy xiết.
Cứ theo khái niệm trên thì có thể nói trên lòng sông Đà xưa nay không hề có thác mà chỉ có ghềnh, toàn ghềnh (tôi nhấn mạnh trên lòng sông). Vì ở lòng sông nơi tàu thuyền qua lại không có chỗ nào nước đổ từ trên cao xuống mà chỉ có các quần thể đá nhô lên, gây cản dòng, tạo nước xiết.
Chỉ tính từ Chợ Bờ ngược lên, sau ghềnh Bờ (mà ta gọi thác Bờ đến thành quen) thì tiếp theo là các ghềnh: Cóc, Cô Tiên, Mu tuần, Hàm Rồng, Suối Rút, Đá Đỏ, Mực, Suối Chì, Ban, Hang Miếng, Nhạp, Lòm, Ổ Gà, Khủa, Kế, Nánh, Kẹp, Nhạp, Đá Phấn, Suối Khoáng, Mó Tôm, Đá Mài, Giăng, Vạn Yên, vv… mà ghềnh Bờ là ghềnh lớn nhất, hung dữ nhất mọc lên ở lòng sông Đà.
Trong sách cổ của người Tày – Thái Tây Bắc do nhà nghiên cứu Lường Đức Chôm dịch có đoạn: “Từ Suối Rút bè qua Bãi Hả, Bãi Um rồi ghé vào Bến Thượng, ở đây đã nghe rõ âm vang dòng nước dội vào những tảng đá ghềnh Bờ: Đã tới bờ cần đỗ/Nghe rõ tiếng ầm ào/Bọt tung trắng tựa bông/Quay mũi bè vào bờ”
Như vậy, người xưa đã gọi đúng ghềnh Bờ chứ không gọi thác Bờ.
Mở đầu áng văn nổi tiếng “Người lái đò sông Đà” Nguyễn Tuân viết: “Tôi xin ghi ở đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường Sông Đà, trên một quãng thủy chiến ở mặt trận Sông Đà”. Tiếp theo, Nguyễn Tuân kể, tả, bày tỏ điều mình nhìn thấy thật tài tình, tạo áng văn gây và nuôi bao cảm xúc của người đọc. Tuy nhiên, đoạn sông ấy là đoạn nào của sông Đà, thác ấy là thác nào trên sông Đà thì tuyệt nhiên cụ Nguyễn không nói?
Xưa nay người ta thường biết thác nước thì từ trên cao đổ nước xuống và nghĩ vượt là vượt lên trên, lên phía trên chứ ít khi nói vượt xuống. Phải đọc kỹ thì mới nhận ra cụ Nguyễn tả cảnh xuôi “thác” ở bảy từ “… Còn xa lắm mới đến thác dưới” – cái “thác” mà Nguyễn Tuân sắp đến, sắp tường thuật …Thực chất ông lái đò “chiến đấu” xuôi thác. Ông dùng mái chèo chống, đẩy để thuyền không lao vào các hòn đá trong “thạch trận” mà có thể vỡ tan tành. Ông hoàn toàn không phải dùng mái chèo để chèo đẩy thuyền đi chứ chưa nói là vượt …
Khi tập sách ảnh và những bài viết về Bờ xưa của tôi (LV) đăng tải kể cả trên báo in và trên mạng xã hội thì không ít giáo viên dạy môn văn mới à à … Họ nói, học, giảng “Người lái đò sông Đà” bao nhiêu năm nhưng họ cứ ngờ ngợ, làm sao mà thuyền vượt thác được nhỉ, dù cụ Nguyễn tả rất kỹ, rất sâu, rất vang?. Đến giờ được tường tận “đây là một quần thể đá khổng lồ nổi lên choán mặt sông tạo ra các dòng nước xiết”. Thạch trận trong trang viết của Nguyễn Tuân vì thế mà trở nên dễ hình dung hơn.
Đoạn nào Nguyễn Tuân viết cũng rất trận mạc. “Hình như Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng, đám hòn chia làm ba hàng chắn ngang trên sông đòi ăn chết một cái thuyền một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn. Hàng tiền vệ, có hai hòn canh cửa đá trông như là sơ hở nhưng chính hai đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương đi vào sâu nữa …”. Nhưng hàng nào, hòn gì thì cụ Nguyễn lại không nói. Điều này khiến người dốc công mò tìm Bờ xưa như tôi có đôi phần luyến tiếc.
Tới đây, chúng ta buộc phải thừa nhận với nhau rằng “Người lái đò sông Đà” nằm trong Tùy bút sông Đà được phân tích, được hiểu như một tác phẩm truyện ngắn ở nhà trường phổ thông là không thỏa đáng. Ngay tiểu luận Có một thời “Sông Đà” như thế … (Đọc đoạn ký Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân) trong tập Bình văn – Nhà xuất bản Giáo dục tái bản lần thứ 1, nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, nhà văn Văn Giá đã khẳng định đây là ký. Trong tiểu luận không dưới 5 lần Văn Giá nhắc đến thể loại ký của đoạn văn này, sau đó ông nhấn mạnh chất văn trong ký của Nguyễn Tuân. Và chính Nguyễn Tuân đã cùng đi thuyền dọc sông Đà để cảm, để hiểu và truyền tải vẻ đẹp của người nghệ sĩ bậc thầy khi ông đò xưa vượt thác. Dòng chảy bề mặt nhờ thế đã đi vào trang văn và trở thành đối tượng thẩm mĩ đẹp. Nay đọc lại “Người lái đò sông Đà”, tôi trộm nghĩ, ký đi từ cái thật đến cái hay, rồi cái hay và cái thật quyện vào nhau, người đọc sẽ từ cái hay mà hình dung (có thể tìm) cái thật. Nay văn Nguyễn Tuân còn đó, nhưng cái “thác” mà người lái đò sông Đà vượt thì đã chìm dưới đáy hồ gần 40 năm rồi!
Phân tích này cũng đồng thời là một minh chứng rằng đoạn sông Đà ấy là đoạn chảy qua Chợ Bờ và cái ghềnh ấy là ghềnh Bờ. Quần thể đá khổng lồ kéo từ bờ phải (tính từ hạ lưu lên) choán ra lòng sông. Tại lòng sông, quần thể đá lớn ấy chia thành những vùng đá lớn và nhiều đám đá, hòn đá lẻ. Từ hai cụm đá chính này tạo thành 3 luồng chảy của sông Đà tại đây. Luồng sát mé phố Bờ là luồng Hiên; luồng chính giữa là luồng Cái và luồng áp sát bờ đối diện là luồng Rừng.
Thuyền to, thuyền nhỏ trước đây dù xuôi hay ngược đa số đi luồng Kênh vì nước nhỏ, ít đá nên an toàn hơn, dù ngược dòng vẫn phải có người dùng dây kéo hỗ trợ. Luồng Cái hung dữ nhưng là dòng lớn nên các bè lâm sản xuôi dòng theo luồng này mà người ta vẫn gọi là trổ thác. Luồng Rừng có vô vàn hòn đá nhỏ mọc lên giữa rừng tóc tiên dày đặc. Thuyền bè không qua lại được luồng này.
Bên cạnh ba luồng Hiên, Cái, Rừng là những hòn nổi tiếng như Hòn Ngai (giống như ngai vua), hòn Quai Chuông (giống quai quả chuông) và hòn chìa ra giống như miệng hổ nên gọi hang Miệng Hổ. Hang Miệng Hổ án ngữ giữa luồng Cái và gây bao hiểm nguy cho những chuyến bè xuôi dòng.
Sẽ có người hỏi, thế câu “sông Đà trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh” thì thế nào, thác ở đâu?. Theo tôi, con số ở đây cũng là ước lệ. Ghềnh thì như tôi đã dẫn ở trên, rất nhiều ghềnh. Còn thác, đó là những con thác từ trên núi đổ xuống sông Đà, cũng rất nhiều. Nay sông thành hồ, một số con thác xưa vẫn đang tiếp tục như những dải lụa trắng thướt tha đổ xuống hồ Hòa Bình đấy thôi!
Với bài viết kèm theo hình ảnh này, tôi mong muốn trước hết gửi tới các thầy giáo, cô giáo đã, đang và sẽ dạy môn ngữ văn và chừng nào tùy bút “Người lái đò sông Đà” còn trong chương trình giảng dạy, trong các dạng văn mẫu… cần:
Thứ nhất, phân tích rõ cho học sinh biết thế nào là thác, thế nào là ghềnh. Có như thế, người lái đò nghệ sĩ vượt qua các thạch trận cùng hình ảnh của ghềnh Bờ xưa trở nên gần hơn, dễ cảm hơn.
Thứ hai, đưa tác phẩm đúng về thể ký thay vì vẫn được giảng dạy như một truyện ngắn.
Đây là ý kiến mở nên cá nhân người viết mong muốn nhận được những đóng góp khác để vấn đề trở nên thấu đáo hơn
ĐÔI ĐIỀU VỀ VÙNG CHỢ BỜ TRONG QUY HOẠCH KHU DU LỊCH QUỐC GIA HỒ HOÀ BÌNH
Đến một khu du lịch hay một điểm du lịch, du khách không chỉ mong được chiêm bái cảnh quan, công trình hiện hữu và hưởng những dịch vụ chất lượng cao, mà sẽ càng hấp dẫn hơn, khi họ được tìm hiểu, được thưởng thức những giá trị lịch sử, văn hoá và tâm linh của khu du lịch, điểm du lịch ấy.
Liên hệ điều này thì Khu Chợ Bờ nằm trong quy hoạch Du lịch cấp quốc gia Hồ Hoà Bình hiện nay thật là độc đáo, bởi nó dồi dào các yếu tố cả hiện hữu và trầm tích. Cái hiện hữu sơn thuỷ hữu tình của Hồ Hoà Bình được ví như "Vịnh Hạ Long trên núi" thì ai tới cũng thấy. Nhưng cái trầm tích thì lại vô cùng phong phú và độc đáo, độc đáo đến ngạc nhiên đối với du khách. Đó là nằm sâu hàng trăm mét dưới đáy hồ ăm ắp xanh kia đã từng là vùng dân cư đông đúc và sầm uất. Vùng dân cư ấy gắn với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta và tạo nên nền văn hoá đầy bản sắc của một bộ phận người Việt nằm ở phía Tây Bắc Tổ quốc.
Thiết nghĩ, mặt nước trong xanh, các thắng cảnh núi non hùng vĩ và nên thơ... đang chỉ là và mãi là phần nổi của hồ Hoà Bình, dù mỗi ngày thêm những tôn tạo sang trọng, hiện đại. Người viết bài này, từ lâu đã đau đáu với những gì đang nằm sâu dưới đáy hồ đầy, nhất là khu vực Chợ Bờ xưa và nay, bởi nó chính là một phần đặc biệt thú vị của du lịch vùng hồ Hoà Bình này, một “mỏ vàng” của du lịch hồ Hòa Bình.
Cần định vị khu vực Chợ Bờ
*Mốc thứ nhất là Hang Rết
Khi nước chưa dâng, cửa hang trên vách đá dựng đứng lưng chừng núi đối diện với chợ Bờ chính là hang Rết (động Thác Bờ ngày nay). Đêm về ánh trăng, sao phản chiếu những mạch đá lấp lánh, ngoằn ngoèo trông như những con rết khổng lồ nên người ta gọi là hang Rết.
*Mốc thứ hai là Suối Búng
Suối chảy từ xóm Mó Nẻ của đồng bào Dao Tiền xuống sông Đà, qua đường 6A có cầu gạch dầm gỗ bắc qua ngay đầu phố Bờ và cũng là chân dốc vào chợ Bờ và huyện lỵ. Từ bến Phà Bờ (phía Chợ Bờ) theo quốc lộ 6A đi men chân đồi Bờ khoảng 2km là đến cầu Búng, điểm đầu khu Chợ Bờ. Nay cầu Búng không còn, nhưng ngọn suối Búng hãy còn.
*Mốc thứ ba là Suối Săng
Nếu tính từ phía Hoà Bình lên, qua phà Bờ, qua chợ Bờ thì đến xóm Săng (xóm Săng thuộc xã Vầy Nưa giáp ranh xã Hào Tráng). Từ xóm Săng có một con suối chảy ra sông Đà, qua quốc lộ 6A, trước cửa khu bệnh viện huyện Đà Bắc. Tại điểm này cũng có một cây cầu gạch nhỏ hơn cầu suối Búng. Cũng như cầu Búng, cầu suối Săng không còn, nhưng ngọn suối Săng hãy còn.
Như vậy, 3 điểm: Hang Rết (Động Bờ); ngọn Suối Búng và ngọn Suối Săng hiện nay đã định vị chính xác huyện lỵ Đà Bắc (Phố Bờ). Phố Bờ trước đây chia làm hai khu: Phố Thượng và Phố Hạ. Từ quốc lộ 6A có 3 đoạn đường đá cấp phối chạy ra mé sông Đà, bắt vào đường đá phía trong chạy song song với đường 6A chính là bên trong khu phố Bờ. Đền Bờ, chợ Bờ và Bài thơ khắc đá của vua Lê Lợi đều nằm ở phố Hạ. Phố Thượng có Cửa hàng Thương nghiệp; HTX Lò rèn, khu đồi tếch (cây gỗ tếch) và bến Thượng.
Đền hai bên Thác Bờ
Đền Bờ nằm ngay sau và sát chợ Bờ, cách quốc lộ 6A khoảng 100 - 120m. Đi xuyên chợ Bờ xuống mé sông Đà là qua cửa Đền Bờ. Đền xây gạch, lợp ngói, sân gạch, có xây tường thấp bao quanh. Khuôn viên rộng khoảng 100 mét vuông, cây xanh rợp bóng. Mặt Đền hướng ra sông Đà, ngay chân thác Bờ, đối diện với hang Rết (có người gọi hang Dơi). Ngay chân thác Bờ có bến đò ngang sang bên kia sông là dốc Chủa xã Ngòi Hoa. Trước đây xã Ngòi Hoa cũng thuộc huyện Đà Bắc, nay thuộc huyện Tân Lạc.
Đền Bờ nằm ở điểm "trên bến, dưới thuyền", cạnh chợ nên rất thuận tiện cho bà con vào thắp hương, dâng lễ cầu an. Những năm cuối thế kỷ 20 (khoảng 1976 - 1982), trước đổi mới, chính sách tôn giáo, tín ngưỡng của nhà nước ta chưa được cởi mở, người đến hương khói ở Đền cũng thưa, có khi phải vụng trộm. Tuy nhiên, chưa khi nào Đền nguội lạnh. Một thời gian rất dài, cụ Hoàng Hữu Ty, người cao gầy, cằm hơi lẹm, để râu... nhà cụ ở cạnh chợ Bờ trông nom nhang khói cho
ngôi đền này. Tiếp theo cụ Ty là ông Hoàng Hữu Tới - con trai cụ Ty (Đại uý bộ đội phục viên) cùng với cụ tiếp tục trông nom Đền. Sau đó do nước dâng, gia đình cụ Ty (đóng vai trò chính) chuyển đền Bờ lên trên đồi Hang Thần. Qua nhiều lần xây dựng và tôn tạo, Đền mới được như hiện nay.
Bên kia sông, đối diện với chợ Bờ, nếu đi từ đầu bến phà Bờ phía Thung Nai, qua Xí nghiệp Đá sỏi, ngược phía sông còn có một ngôi đền nhỏ hơn đền bên chợ Bờ (sau này cụ Quách Công Chảu làm chủ nhang). Cũng như cụ Ty bên đền Bờ, khi nước ngập, gia đình cụ Chảu di đền lên phía trên, tôn tạo và ngày càng mở rộng.
Bài thơ khắc đá của vua Lê Lợi
Thác Bờ được tạo bởi một quần thể đá khổng lồ mọc lô xô chắn ngang lòng sông Đà. Phía bờ sông bên kia (phía hang Rết - Động Thác Bờ nay) luồng rộng hơn, có tên gọi luồng Rừng, thuyền bè chủ yếu đi bên đó. Phía bên chợ Bờ, núi thác lô xô cao, thấp từ lòng sông ăn vào bờ hay từ bờ vươn ra sông cũng không sai, có luồng chảy nhỏ hơn nên được gọi là luồng Con. Giữ dòng nước xiết và được gọi là luồng Cái. Mùa cạn, khu vực thác Bờ vừa như biển vừa như sông. Các bãi cát, doi cát dài mịn màng, những bãi sỏi sạch phơi mình trong nắng.
Xen trong quần thể đá thác giữa lòng sông là những không gian kín đáo mà hùng vĩ bên cạnh dòng nước hiền hoà trôi xuôi. Ấy thế mà đến mùa mưa lũ, nước sông từ thượng nguồn đục ngầu phóng vào rừng đá tung bọt trắng xoá cùng những tiếng gào thét dữ dội vang khắp cả khu Chợ Bờ. Cái hung dữ của lũ thác Bờ là nỗi hoảng sợ của biết bao thế hệ người sông nước qua đây. Nhưng dù hung dữ đến thế nào thì những người đã từng biết thác Bờ xưa đều luyến tiếc vẻ đẹp đến ngẩn ngơ của thác kể cả mùa nước cạn lẫn mùa nước lũ.
Nằm trong quần thể đá thác ấy, những núi đá, mỏm đá phía bờ quây thành núi thấp, có ngọn chỉ như một tảng đá mọc lên từ bờ sông. Ngọn đá cao vài mét, đứng ở mép sân vận động trong quần thể đá của thác Bờ được khắc bài thơ của vua Lê Lợi mà nhân dân gọi tắt là bia Lê Lợi. Bên cạnh bia Lê Lợi có một am thờ nhỏ, có bia đá. Trước đây, mỗi khi đá bóng hay chơi thể thao ở sân vận động, chúng tôi thường đứng nghỉ ngay cạnh bia Lê Lợi, thậm chí có khi còn vắt cả quần áo dài lên những mỏn đá thấp bên cạnh bia. Sau này, bài thơ khắc đá của
vua Lê Lợi được cắt dời và đưa về thị xã Hoà Bình rồi gần đây lại được đưa lên vùng Chợ Bờ ngày nay.
Xưa và nay
Như vậy cả Đền Bà Chúa Thác Bờ và Văn bia vua Lê Lợi nay đều nằm trên đỉnh đồi Hang Thần trên hồ Hoà Bình thuộc Chợ Bờ trước đây và xã Vầy Nưa hiện nay. (Trước đây là 2 xóm Săng và xóm Hang Thần nằm ở 2 đầu của phố huyện, nay nhập thành xóm Xăng Trệch của xã Vầy Nưa).
Tuy nhiên, nếu từ vị trí ban đầu dịch chuyển lên thì Đền Bà Chúa Thác Bờ phải đứng trước Văn bia vua Lê Lợi (tính từ phía Tp. Hoà Bình lên) mới chuẩn. Nhưng do điều kiện địa hình nên vị trí như hiện nay (Đền đang có) do gia đình cụ Ty chủ động dịch chuyển (khi chưa có quy hoạch) cũng tạm chấp nhận. Nay có quy hoạch xây dựng Công trình đền Bà Chúa Thác Bờ mới và khu Văn bia vua Lê Lợi thì cũng nên xem xét vị trí của mỗi hạng mục (nếu có thể).
Nên có sa bàn địa danh Chợ Bờ (huyện lỵ Đà Bắc trước đây).
Du khách và các thế hệ mai sau sẽ rất ngỡ ngàng khi biết đã có một tỉnh lỵ sầm uất thời Pháp thuộc (tỉnh Bờ) và một huyện lỵ nhộn nhịp chưa xa, nay đã chìm sâu dưới làn nước biếc xanh của hồ Hoà Bình. Và từ đấy, người ta cũng nghĩ về, nhớ về sự hy sinh to lớn của người dân khi đã phải dời quê hương, bản quán nhường chỗ phục vụ Công trình xây dựng Thuỷ điện Hoà Bình. Và dưới làn nước sâu ấy còn trầm tích nhiều giá trị lịch sử, văn hoá sâu sắc. Đây là một trong những nội dung rất hấp dẫn đối với điểm du lịch Chợ Bờ hay khu du lịch Hồ Hoà Bình. Sa bàn này sẽ được trưng bày tại các điểm du lịch Hồ Hoà Bình để giới thiệu cho du khách tham quan.
Nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo chuyển dân khỏi vùng hồ có nên là một điểm du lịch?
Công cuộc di dân khỏi vùng lòng hồ phục vụ Công trình Xây dựng Nhà máy Thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà cuối thế kỷ 20 là một cách mạng lớn lao, một hy sinh vô bờ bến của nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình ven sông Đà. Chỉ nói riêng huyện Đà Bắc phải chuyển 2365 hộ dân và 800 mồ mả lên trên cốt 120m. Việc chuyển dân, chuyển huyện vô vàn khó khăn, gian khổ, chưa có tiền lệ, chưa ai biết đến đền bù, lại càng không có khu tái định cư như sau này.
Ngày 22/3/1982, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp lên làm việc và chỉ đạo công cuộc chuyển dân huyện Đà Bắc khỏi vùng lòng hồ. Ngay sau buổi làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Huyện Đà Bắc phát động chiến dịch tổng lực 40 ngày đêm chuyển khỏi vùng ngập lòng hồ và đã phấn đấu kịp tiến độ đắp đập thủy điện.
Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo chuyển dân sẽ là nơi lưu lại hình ảnh truyệt đẹp của Bờ xưa, những hình ảnh, những chỉ đạo của Đại tướng và cảnh bà con di dời …Người từng ở vùng Chợ Bờ khi xưa và chứng kiến công cuộc chuyển dân khỏi vùng hồ Hoà Bình sẽ dần về với tiên tổ. Thiết nghĩ việc phục dựng sa bàn và bổ sung những tư liệu, hình ảnh liên quan đến khu vực này không những có giá trị lịch sử mà chính còn là những yếu tố vật chất và văn hoá phục vụ trực tiếp cho phát triển du lịch, một mũi nhọn kinh tế của tỉnh Hòa Bình trước mắt cũng như lâu dài.
Hết
LÊ VA