Lê Va
BỜ XƯA VÀ MỘT CHUYẾN “VƯỢT THÁC” ĐẶC BIỆT
Mùa hè năm 1978, Thượng sỹ Bùi Đức Sòn, Đội trưởng Đội Quản lý đặc doanh Công an tỉnh Hà Sơn Bình có chuyến công tác đột xuất tại Công an huyện Đà Bắc (tại Chợ Bờ). Mấy hôm đó, cứ thấy thấp thoáng anh Sòn xuất hiện ở Công an huyện, gặp cán bộ tổng hợp Xa Quang Xuân, rồi tôi không biết anh Sòn đi đâu?. Khi đã là Thiếu tướng, Giám đốc Công an tỉnh Hòa Bình, vừa nghỉ hưu, tôi và anh Sòn có cuộc đàm đạo thú vị. Và đến tận lúc này tôi mới rõ về chuyến có mặt đột xuất của Thượng sỹ Bùi Đức Sòn tại Chợ Bờ gần 40 năm trước. Tôi coi đó là chuyến “vượt thác” ngoạn mục của anh.
Ngày ấy, có chiếc đài phải đăng ký thì mới được mua pin; xe đạp đăng ký để được chung nhau mua phân phối phụ tùng; đặc biệt súng săn phải đăng ký, kiểm tra, đổi đăng ký hàng năm để quản lý. Đối với người miền núi thì khẩu súng săn vừa là tài sản quý vừa thể hiện sự sang trọng và vị thế của những gia đình có điều kiện. Ngay cả đi đường, họ cũng có thể khoác khẩu súng săn như người đeo đài một thuở.
Với trọng trách Đội trưởng Đội Quản lý đặc doanh của Công an tỉnh, Bùi Đức Sòn trực tiếp giữ các loại súng săn đang chờ cấp thủ tục, súng có vấn đề cần xác minh, súng nghi vấn và tang vật … Súng thu giữ lâu thì cất trong kho, mới giữ thì để trong tủ đứng ngay trong phòng làm việc tại Cơ sở 2 của Công an tỉnh Hà Sơn Bình đóng tại Ba La, thị xã Hà Đông. Đang là cán bộ trẻ có uy tín và nằm trong quy hoạch lãnh đạo phòng, thượng sỹ Bùi Đức Sòn gặp một rắc rối nghiêm trọng. Đó là anh để mất một khẩu súng săn là tang vật một vụ án.
Niềm tin của lãnh đạo đối với Bùi Đức Sòn thì có thừa. Nhưng để mất khẩu súng thì phải làm rõ và thi hành kỷ luật. Trước cam kết sẽ tìm ra khẩu súng không cánh mà bay, lãnh đạo phòng cho Bùi Đức Sòn được “tự do” một tuần để làm việc này.
Diễn biến đi lại của cán bộ cùng phòng, tính nết từng người, địa bàn công tác và quê quán của họ … được anh Sòn ngầm phân tích, nhận định. Cuối cùng anh chốt lại, người miền núi mới thích súng săn, nên khả năng khẩu súng này do một cán bộ nào đó từ Công an Hòa Bình chuyển xuống lấy trộm và mang về dùng hoặc tiêu thụ trên địa bàn Hòa Bình. Trong số nghi vấn, anh Sòn nghĩ đến thiếu úy D, người ở huyện miền núi Đà Bắc. Trước đề nghị của anh Sòn, trong thời gian 7 ngày “tự do” của anh, thiếu úy D sẽ làm việc tại đơn vị chứ không phải đi công tác cơ sở.
Nhảy xe ca ngược thị xã Hòa Bình, Bùi Đức Sòn mượn xe đạp của người quen, tất tả vượt dốc Cha vào Tu Lý huyện Đà Bắc. Trong vai một anh bộ đội thông tin, anh tìm đến nhà D thăm hỏi đời sống gia đình rồi tỷ tê chuyện rừng núi, chuyện săn bắn thú rừng. Hợp chuyện, ông thân sinh ra D sôi nổi hẳn lên. Đã nói đến săn là nói đến súng. Khi anh Sòn hỏi súng, cụ ông mang súng của nhà ra khoe, nhưng đó không phải khẩu súng anh tìm kiếm. Anh Sòn bày tỏ nguyện vọng muốn tìm mua một khẩu súng săn, cụ già nói, tiếc quá giá anh đến sớm, con trai tôi làm ở công an dưới Hà Đông vừa mới bán một khẩu súng Pháp cho ông mán (người dân tộc Dao). Cụ có biết người mua tên gì, ở xã nào không?. Ánh sáng hé mở, nhưng đích đến thì quá mông lung, vì ông cụ chỉ biết có vậy!
Đạp xe trên 40 km từ Tu Lý ra Tx. Hòa Bình rồi lên Chợ Bờ, anh Sòn gặp Xa Quang Xuân hỏi về địa bàn, về các xã, xóm có người Dao của huyện Đà Bắc với lý do nắm tình hình trật tự trị an. Chiều chiều, anh lại nhẩn nha ngoài thác Bờ với những suy tư đè nặng. Với 7 xã và vài chục xóm đồng bào Dao, anh Sòn quyết định tiếp cận xóm Mõ Nẻ xã Vầy Nưa là xóm gần huyện lỵ và có đông người Dao sinh sống.
Trước khi trèo dốc lên Mõ Nẻ, Bùi Đức Sòn lững thững đi xuống bãi Cánh Chim, một dải cát tuyệt đẹp dưới chân thác Bờ. Trước lô nhô đá thác và dòng nước cuộn chảy, người chiến sỹ trẻ liên tưởng đến những khó khăn mình đang phải đối mặt. Anh ví mình như người điều khiển con thuyền độc mộc vượt thác với bao hiểm nguy. Nhưng nếu không vượt thác thì không những anh không thể lên đến sông trên mà sẽ bị dòng nước nhấn chìm và cuốn trôi. Anh chỉ có một con đường: Vượt thác, con thác anh đang phải đối mặt trong cuộc đời.
Từ phố Bờ lên đến Mõ Nẻ chừng 2 giờ đồng hồ vượt dốc, chỉ dốc là dốc. Sức trẻ cộng với quyết tâm tìm lại khẩu súng để minh oan cho chính mình, anh Sòn rảo chân. Gần tới xóm Mõ Nẻ có một khu đồitương đối bằng và thơm lừng mùi ổi chín. Tranh thủ hái những quả to, ngon, vừa ăn anh vừa lấy áo bọc lại mang theo. Gần tới làng, trong thấp thoáng những mái nhà lợp lá cọ là một tốp trẻ chăn trâu. Anh Sòn dừng lại làm quen với bọn trẻ. Do kỳ cựu công tác đoàn nên anh trở nên thân mật ngay với đám trẻ trâu dù chỉ mới vừa gặp.
Anh Sòn lấy ổi chín chia một lượt cho bọn trẻ rồi anh đưa ra điều kiện như một trò chơi. Giờ từng đứa một kể xem trong xóm nhà ai có súng săn và súng nhà ai đẹp nhất, mới mua nhất thì chú sẽ thưởng ổi… Cứ thế đám trẻ sôi nổi, tranh nhau kể vanh vách, nào là nhà ông Dèn, ông Sinh, ông Quýnh … có súng; nào là súng một nòng, hai nòng vv… Đúng lúc đang sôi nổi thì có một trẻ từ đâu chạy đến. Khi biết rõ cuộc chơi, nó cãi, chúng mày không biết đâu, súng nhà ông Đ đẹp nhất lại vừa mới mua. Chỉ chờ có vậy, anh Sòn chia vội nốt số ổi cho bọn trẻ rồi tìm đến nhà ông Đ.
Trời đã xâm xẩm, trong ngôi nhà thấp, tối, tiếng trẻ sơ sinh oe oe cất lên. Người mẹ trẻ ôm con đẩy cửa cho Bùi Đức Sòn vào nhà. Đã quen với việc đi cơ sở, biết phong tục người Dao, anh Sòn chủ động kéo ghế mây ngồi và với tay lấy củi tiếp vào bếp đun cho nước sôi lại. Tay tráng ấm, miệng hỏi chuyện, anh đợi người chồng đi nương chắc cũng sắp về. Trong vai cán bộ lâm nghiệp đi khảo sát rừng, lại cùng độ tuổi nên anh Sòn bắt chuyện rất nhanh với anh Đ chủ nhà. Khi hỏi về khẩu súng săn gia đình mới mua, anh Đ không những không ngần ngại mà còn như muốn khoe với khách. Đón khẩu súng săn từ tay Đ, anh Sòn lật mặt kia của báng súng và thấy ngay số hiệu 4848. Đây rồi. Đây chính là khẩu súng anh đi tìm. Nắm chắc chứng cứ trong tay, anh Sòn nói cho chủ nhà biết mình là cán bộ Công an tỉnh đang đi tìm khẩu súng này, và đây là khẩu súng bị kẻ gian lấy cắp. Sau những bối rối không tránh khỏi, chủ nhà cũng đồng ý để anh Sòn lập biên bản và mang súng đi.
Bảy ngày “tự do” của Bùi Đức Sòn đã hết 6. Sáng mai đơn vị sẽ họp kiểm điểm anh. Tuy vậy, chập tối hôm trước anh mới về đến Ba La, gửi khẩu súng săn ở một nhà người quen, tìm quán vào ăn một bát phở nóng, về tắm rồi anh lăn ra ngủ. Hôm sau, đến giờ làm việc, phòng cho người gọi anh dậy họp kiểm điểm. Chả vội vàng gì, anh Sòn túc tắc đánh răng, rửa mặt rồi lén đi lấy khẩu súng rồi mang thẳng vào phòng họp làm cả hội trường ngỡ ngàng, chỉ thiếu úy D thì gục mặt xuống bàn. Sau vụ này thiếu úy D nhận kỷ luật và ra quân.
Nghe thiếu tướng Bùi Đức Sòn kể lại tỉ mỉ câu chuyện tự mình phá án minh oan cho mình đã chục năm nay mà tôi có nhiều suy tư, thán phục. Nhưng khi sưu tầm hình ảnh, câu chuyện liên quan đến Bờ xưa tôi nghĩ nhiều hơn. Nếu ngày đó, Bùi Đức Sòn không gặp thác Bờ và hình ảnh người lái thuyền độc mộc vượt thác không đập vào mắt anh, anh không liên tưởng với vụ việc anh để mất súng để mà vượt qua thì liệu hôm nay, tôi có được ngồi nghe một vị thiếu tướng giám đốc công an tỉnh kể chuyện mà ghi mà viết? Rõ ràng để lên được sông trên thì người lái đò phải vượt thác Bờ. Và để tồn tại và vượt lên đến hàm thiếu tướng thì thượng sỹ Bùi Đức Sòn phải vượt qua ghềnh thác cuộc đời mình. Đúng như vậy!
Trong lần gặp gỡ này và sau đó, anh Bùi Đức Sòn có ý định cùng tôi tìm lại gia đình người Dao đã mua phải khẩu súng của kẻ gian và muốn có một cử chỉ bù đắp phần nào cho họ, dù sự việc xảy ra đã mấy chục năm. Rồi nữa, anh Sòn cũng muốn gặp lại nguyên thiếu úy D đồng đội của anh một thuở nay tuổi cũng đã ngoài bảy mươi. Rất tiếc do tình hình sức khỏe nên những ý định nhân văn của anh Bùi Đức Sòn chưa được thực hiện!
2020
ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ BÀI HỌC VỀ CÔNG TÁC CHUYỂN DÂN
Một ngày giữa tháng 11/2013, bác Nguyễn Văn Cửu – nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hòa Bình đến thăm Hội Văn học nghệ thuật tỉnh. Thời bác Nguyễn Văn Cửu làm Bí thư Huyện ủy Đà Bắc thì tôi công tác tại Công an huyện và có những kỷ niệm khó quên với bác Cửu.
Lâu ngày bác cháu mới gặp nên rôm rả những chuyện một thời khó khăn nhưng vô cùng trong sáng nơi vùng núi cao Đà Bắc ấy. Rồi bác Cửu kể lại lần bác được thay mặt Tỉnh ủy Hà Sơn Bình đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên công tác tại huyện Đà Bắc… Nghe đến đây, tôi không khỏi giật mình. Một thông tin quý giá như vậy mà tôi chưa hề biết.
Năm 1982, bác Nguyễn Văn Cửu là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Hà Sơn Bình và vừa nhận trọng trách Bí thư Huyện ủy Đà Bắc. Đây là giai đoạn vô cùng khẩn trương của việc chuyển dân, chuyển huyện ra khỏi vùng ngập lòng hồ sông Đà, vì sang năm 1983 đã phải lấp sông đợt 1. Khó khăn lúc đó hoàn toàn khác bây giờ. Dân không thắc mắc, đòi hỏi đền bù cao hay thấp vì khi đó không có chính sách đền bù mà chỉ có một khoản kinh phí nhỏ nhoi hỗ trợ di chuyển mà thôi. Mọi người, mọi nhà đều thấm nhuần và quyết tâm cao “Tất cả vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc” nên sẵn sàng rời quê hương từng sinh sống bao đời nhường chỗ cho công trình thế kỷ.
Cái khó lúc đó chính là điều kiện di dời đi đâu, về đâu? Tìm được nơi đến thì phương tiện vận chuyển lại vô cùng thiếu, lại phải chờ đợi. Nhà cửa dỡ ra chờ xe. Người ở nơi mới chưa có nhà, người còn ở quê cũ cũng lại màn trời chiếu đất mà trông đống cột kèo, tre nứa chất đống cong vênh cãi lại nắng gió. Tình hình chuyển dân, chuyển huyện vô cùng khẩn trương.
Khoảng ngày 20/3/1982, bác Cửu nhận điện của Tỉnh ủy Hà Sơn Bình báo ngày 22/3 Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên công tác tại Hòa Bình và trong chương trình, Đại tướng có kiểm tra công tác chuyển dân, chuyển huyện Đà Bắc ra khỏi vùng ngập lòng hồ thủy điện. Lãnh đạo tỉnh giao bác Nguyễn Văn Cửu thay mặt Tỉnh ủy trực tiếp báo cáo tình hình với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đúng ngày 22/3, vẫn bộ quân phục quen thuộc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, nay với tư cách Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có mặt tại trung tâm vùng chuyển dân của huyện Đà Bắc đó là xã Hào Tráng ven sông Đà. Khi ấy, một bộ phận các cơ quan huyện đã chuyển về Tu Lý. Người dân của 7 xã vùng thấp huyện Đà Bắc là Vầy Nưa, Hiền Lương, Toàn Sơn, Hào Tráng, Tiền Phong, Tân Lập, Dân Lập ở dưới cốt 43 di chuyển chưa được bao nhiêu.
Địa điểm của buổi làm việc đặt tại một nhà sàn của người dân ở xóm Túp. Sau khi nghe, hỏi và ghi chép rất tỉ mỉ tình hình do Bí thư Huyện ủy Nguyễn Văn Cửu báo cáo: Toàn huyện Đà Bắc mới chuyển được 1.400 hộ/2.365 hộ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho ý kiến: Nếu chuyển dân khó khăn đến thế thì phải tiến hành theo 3 hướng: thứ nhất là chuyển ngay trong địa bàn huyện; thứ hai là chuyển ra khỏi huyện; thứ ba là nếu khó khăn quá không thể đi nổi thì di vén tại chỗ.
Đại tướng nhắc đi nhắc lại 4 việc quan trọng phải làm trong quá trình chuyển dân:
1- Làm sao để dân không đứt bữa.
2- Làm sao phải có trường lớp cho các cháu đi học.
3- Làm sao phải có trạm xá để chữa bệnh cho dân.
4- Làm sao phải có đường đi lại cho dân bớt khổ.
Đại tướng gợi ý: Bài học thời chiến tranh toàn dân, toàn diện chúng ta chiến thắng kẻ địch mạnh hơn mình nhiều lần, giờ chuyển dân đến nơi mới chúng ta vận động nhân dân vừa làm nhà, vừa khai hoang, vừa làm đường…
Gần cuối buổi làm việc, bỗng Đại tướng hỏi về việc di chuyển mồ mả. Khi được biết toàn huyện đã chuyển được 300/800 ngôi mộ và biết không ít hộ có ý không muốn chuyển mồ mả với lý do phong tục người miền núi không cất bốc mồ mả. Vả lại chuyển người sống đã quá khó khăn vậy có thể không chuyển mồ mả nữa. Đại tướng thảng thốt: không được, không được… phải chuyển tất cả mồ mả lên hẳn trên cốt 120m để chỉ chuyển một lần. Bây giờ thấy khó không chuyển, sau này ổn định rồi, nước ngập vào mắt người ta, con cháu họ hỏi thì ta trả lời sao đây…
Kể lại chuyến công tác này, bác Cửu còn nhớ suốt trong thời gian làm việc, Đại tướng đăm chiêu, ngay cả khi bắt tay lúc đến, chia tay lúc đi, người luôn trầm ngâm và buồn. Buồn vì lo cho dân, vì công cuộc chuyển lòng hồ này người dân quá vất vả. Bác Cửu cũng chia sẻ: bữa cơm tiếp vị Đại tướng hôm đó thực sự đạm bạc, không khác gì cơm thời chiến. Còn nhớ, món sang nhất trên mâm được tính là món canh khoai sọ dẻo mua tại xóm Bãi Hả, xã Hào Tráng. Nhớ về bữa cơm đạm bạc đó mà càng hiểu thêm tấm lòng của vị Tướng lỗi lạc, của một nhân cách cao cả với dân, với nước.
Ngay sau chuyến công tác của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyện Đà Bắc phát động chiến dịch tổng lực 40 ngày đêm vận động nhân dân chuyển khỏi vùng ngập lòng hồ theo 3 hướng mà Đại tướng đã gợi ý. Tổng kết chiến dịch, việc chuyển dân, chuyển huyện giành thắng lợi lớn.
Kể lại câu chuyện cảm động này cho tôi nghe, bác Cửu lấy làm tiếc vì không nhớ được gia đình đã vinh dự được chọn làm nơi tiến hành cuộc làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc xóm Túp, xã Hào Tráng cũ. Tôi nói với bác Cửu, thông tin bác cung cấp là vô cùng quý giá rồi, chỉ đạo của Đại tướng bác còn lưu bút trong sổ công tác lại càng quý hiếm, việc còn lại chúng cháu phải tìm cho bằng được địa điểm lịch sử ấy bác ạ!
Ngày 19/11/2013, mang theo tâm niệm việc tìm căn nhà lịch sử ấy là trách nhiệm của mình, tôi vào xã Hào Lý (nơi phần đông người dân Hào Tráng chuyển về). Tới đây, tôi gặp lại các ông Đinh Công Tân – nguyên Bí thư Đảng ủy xã Hào Tráng thời đó, sau là Phó Bí thư Huyện ủy Đà Bắc; ông Quách Công Nhật – nguyên Chủ nhiệm HTX Túp Trê (Hào Tráng)…mừng vô cùng khi được biết địa điểm ấy chính là gia đình ông Bùi Văn Như. Năm ấy, ông Như còn trẻ lắm và làm Bí thư chi bộ xóm Túp. Hai vợ chồng trẻ vừa làm một nhà sàn bằng gỗ xoan. Chính ngôi nhà này được đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới làm việc.
Một điều vui mừng ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi và có lẽ của tất cả chúng ta là ngôi nhà sàn nơi Đại tướng làm việc hôm đó còn nguyên vẹn. Năm 1996, gia đình ông Bùi Văn Như chuyển ngôi nhà ấy từ Hào Tráng về Tân Sơn, xã Toàn Sơn. Như vậy, ngôi nhà sàn nhỏ nhắn, giản dị này đã trở thành ngôi nhà đặc biệt vì chính từ đây, những chỉ thị sáng suốt cả tầm chiến lược, chiến thuật, chiến dịch của Đại tướng cho việc chuyển dân ra khỏi vùng ngập lòng hồ sông Đà nay là hồ Hòa Bình “Vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc” đã phát ra, thấm sâu vào lãnh đạo và các tầng lớp nhân dân các dân tộc huyện Đà Bắc rồi biến thành hiện thực.
Qua bao thăng trầm vật lộn với đất với trời, nay đời sống của bà con chuyển khỏi lòng hồ hay còn ở lại vùng hồ Hòa Bình tuy còn không ít khó khăn, nhưng đang ngày càng thay da đổi thịt. Những điều căn dặn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về trường học, trạm xá, đường giao thông đã được nâng lên thành “Điện – Đường – Trường – Trạm”. Điện Sông Đà tỏa sáng muôn nơi. Vùng cao của Đà Bắc đã có xe du lịch chở khách nhiều chuyến trong ngày. Trường học khang trang và nhiều nơi đạt chuẩn quốc gia. Trạm xá xã có y, bác sỹ…. Đại tướng đã đi xa, cán bộ, nhân dân các dân tộc vùng hồ nói chung, huyện Đà Bắc nói riêng càng thấm thía, ghi nhớ và biết ơn Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị Đại tướng của nhân dân muôn vàn kính yêu!
CHUYỆN NGƯỜI CHẠY LŨ ĐI TÌM NƯỚC
Năm 1995, già làng người Dao - Bàn Văn Hương ở xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc (Hòa Bình) đưa một xóm 40 gia đình vùng lòng hồ sông Đà chạy nước. Họ đến mảnh đất chưa hề được khai phá, đường đi lối lại rất khó khăn, không có nước, đụng vào cái gì cũng không. Vậy mà nay tại đây đã là một làng trù phú mang dáng phố thị. Già Bàn Văn Hương đã trở thành người thiên cổ, nhưng hình bóng già Hương luôn hiện diện trong mỗi việc làm và những thành tựu của bà con người Dao Thung Rếch hôm nay.
1.Sau 34 năm công tác liên tục ở xã Vầy Nưa, Đà Bắc, năm 1988, bác Bàn Văn Hương nghỉ hưu ở cương vị Bí thư Đảng ủy. Thấy cảnh sống của bà con chuyển vén lòng hồ vất vả quá, bác đã đi tìm đất để đưa dân đến khai hoang lập làng mới.
Ngày 12/6/1993, bác cùng 11 người trong xóm đến Thung Rếch thuộc xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi. Xe vật vã leo dốc, đến trưa thì vào đến nơi. Nghe dân sở tại nói vùng này khan hiếm nước, lại nhìn cảnh cỏ gianh, lau sậy ngập đầu người mà ngao ngán. Đã thế, sự sốt ruột của người đưa đường và anh lái xe: “Thế nào, có đồng ý không để còn về kẻo tối xe không ra được đâu…”, thế là mọi người uể oải lên xe chia tay Thung Rếch với nỗi niềm thất vọng.
Đầu tháng 8/1993, bác Hương quay lại Thung Rếch lần thứ 2. Lần này bác thắt dao chui rúc trong lau sậy để xem xét kỹ đất và tìm nguồn nước. Đến đâu, bác để ý dấu chân người theo hướng quay ra, đánh dấu lại mà nhớ đường về. Ngày đi đêm về ngủ nhờ nhà dân ở xóm Thung Mường. Cứ thế, sau hàng tuần tìm kiếm, bác vô cùng mừng rỡ khi gặp nguồn nước nhỏ ở một hang xa.
Quanh quẩn nhiều giờ ở đó, bác vui mừng khi thấy mấy con cá nhỏ đang bơi trong nước. Theo kinh nghiệm, cá sống được thì phải có nước quanh năm. Ngày 08/11/1993, bác Hương đưa 40 người đến tiền trạm. Họ căng bạt dưới gốc cây cà lồ làm đại bản doanh. Ngày phát lau lách, đêm về gối lên rễ cây mà ngủ. Thế rồi cũng chỉ có 21 người ở lại làm lán trại còn 19 người thì quay về quê.

Chưa có hợp tác, chưa thành lập chi bộ, nhưng đã là đảng viên thì ở đâu cũng phải gương mẫu và phải có vai trò lãnh đạo. Với suy nghĩ ấy, bác Hương đã cùng với các đảng viên quán triệt: Thời gian đầu ăn chung, ở chung, nhà nào phá hoang được nhiều, tranh thủ trồng cây ngắn ngày, càng nhiều càng tốt. Đến khi phát xong toàn bộ thì quy hoạch chia đất ở, đất canh tác. Còn rừng thì phải tuyệt đối bảo vệ. Bằng uy tín của mình, bác Hương trần mình cùng đoàn người ngày đêm khai khẩn vùng đất mới. Vì thiếu nước nên hầu như toàn bộ số thanh niên cạo trọc đầu cho đỡ phải gội. Nhìn cảnh này bác Hương trăn trở “về lâu dài phải làm cho bằng đủ nước”.
Ngày 07/5/1994, khi bà con người Dao ở Vầy Nưa, dưới sự chỉ dẫn của bác Hương đã dỡ nhà, xếp đồ đạc xuống thuyền dưới sông Đà rồi thì có cán bộ huyện Đà Bắc ra thông báo: Huyện chưa có chủ trương, nếu dân đi thì không có chế độ gì đâu? Sau này bác Hương kể: “Nếu lúc đó mà chết được thì tôi chết đi cho thoát, vì thế này hóa ra mình lừa dân hay sao!.
Nhìn lại bà con tất cả trông chờ vào mình, thế là bác lại bình tĩnh để tìm ra cách giải quyết”. Bác Hương động viên bà con bình tĩnh chờ bác thuê thuyền về xin ý kiến tỉnh. Gặp ông Bùi Văn Chiển (Giám đốc Sở LĐ – TBXH) thì được biết ý kiến của tỉnh không có gì thay đổi. Sáng hôm sau đoàn thuyền xuôi về kênh, thuê người bốc xếp và xe chở đồ đạc vào Thung Rếch.
2.Ngay lúc này, bác đã quy hoạch một con đường ở giữa, hai bên là đất ở cho các hộ. Mỗi hộ đều được 25m “mặt đường” còn thì chạy sâu vào chân núi. Đất canh tác đo được 59 ha cũng chia theo hộ. Việc chia đất ở và đất canh tác được tiến hành công khai, chia xong, bốc thăm ai được đâu nhận đó, mọi người đều vui vẻ.
Quy hoạch và chia đất cho dân đã xong, bác Hương về quê cũ để làm một số thủ tục hành chính thì được nhận 600.000 đồng tiền mặt của HTX chia cho các hộ dân di chuyển. Ra đến thị xã Hòa Bình bác Hương mua ngay 600m ống nhựa, thuê xe mang về Thung Rếch, rồi gọi người rải ống từ nguồn nước về “xóm mới” và chờ đợi (vì còn rậm rạp nên không rõ nguồn nước có cao hơn chỗ ở không). Nửa đêm, nước về rơi loong boong xuống chậu, cả xóm reo mừng.
Cuối năm 1995, hai cụm bể được xây dựng trong sự vui mừng khôn tả của những người chạy nước lại “khát” nước. Nhưng nguồn nước nhỏ chỉ đủ trong những tháng mùa mưa. Bác Hương lại nghĩ phải làm tăng dần nguồn nước bằng cách trồng rừng. Đang trăn trở tìm vốn thì năm 1996 có chính sách bảo vệ rừng khoanh nuôi
Năm 1995, già làng người Dao - Bàn Văn Hương ở xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc (Hòa Bình) đưa một xóm 40 gia đình vùng lòng hồ sông Đà chạy nước. Họ đến mảnh đất chưa hề được khai phá, đường đi lối lại rất khó khăn, không có nước, đụng vào cái gì cũng không. Vậy mà nay tại đây đã là một làng trù phú mang dáng phố thị. Già Bàn Văn Hương đã trở thành người thiên cổ, nhưng hình bóng già Hương luôn hiện diện trong mỗi việc làm và những thành tựu của bà con người Dao Thung Rếch hôm nay.
1.Sau 34 năm công tác liên tục ở xã Vầy Nưa, Đà Bắc, năm 1988, bác Bàn Văn Hương nghỉ hưu ở cương vị Bí thư Đảng ủy. Thấy cảnh sống của bà con chuyển vén lòng hồ vất vả quá, bác đã đi tìm đất để đưa dân đến khai hoang lập làng mới.
Ngày 12/6/1993, bác cùng 11 người trong xóm đến Thung Rếch thuộc xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi. Xe vật vã leo dốc, đến trưa thì vào đến nơi. Nghe dân sở tại nói vùng này khan hiếm nước, lại nhìn cảnh cỏ gianh, lau sậy ngập đầu người mà ngao ngán. Đã thế, sự sốt ruột của người đưa đường và anh lái xe: “Thế nào, có đồng ý không để còn về kẻo tối xe không ra được đâu…”, thế là mọi người uể oải lên xe chia tay Thung Rếch với nỗi niềm thất vọng.
Đầu tháng 8/1993, bác Hương quay lại Thung Rếch lần thứ 2. Lần này bác thắt dao chui rúc trong lau sậy để xem xét kỹ đất và tìm nguồn nước. Đến đâu, bác để ý dấu chân người theo hướng quay ra, đánh dấu lại mà nhớ đường về. Ngày đi đêm về ngủ nhờ nhà dân ở xóm Thung Mường. Cứ thế, sau hàng tuần tìm kiếm, bác vô cùng mừng rỡ khi gặp nguồn nước nhỏ ở một hang xa.
Quanh quẩn nhiều giờ ở đó, bác vui mừng khi thấy mấy con cá nhỏ đang bơi trong nước. Theo kinh nghiệm, cá sống được thì phải có nước quanh năm. Ngày 08/11/1993, bác Hương đưa 40 người đến tiền trạm. Họ căng bạt dưới gốc cây cà lồ làm đại bản doanh. Ngày phát lau lách, đêm về gối lên rễ cây mà ngủ. Thế rồi cũng chỉ có 21 người ở lại làm lán trại còn 19 người thì quay về quê.
Chưa có hợp tác, chưa thành lập chi bộ, nhưng đã là đảng viên thì ở đâu cũng phải gương mẫu và phải có vai trò lãnh đạo. Với suy nghĩ ấy, bác Hương đã cùng với các đảng viên quán triệt: Thời gian đầu ăn chung, ở chung, nhà nào phá hoang được nhiều, tranh thủ trồng cây ngắn ngày, càng nhiều càng tốt. Đến khi phát xong toàn bộ thì quy hoạch chia đất ở, đất canh tác. Còn rừng thì phải tuyệt đối bảo vệ. Bằng uy tín của mình, bác Hương trần mình cùng đoàn người ngày đêm khai khẩn vùng đất mới. Vì thiếu nước nên hầu như toàn bộ số thanh niên cạo trọc đầu cho đỡ phải gội. Nhìn cảnh này bác Hương trăn trở “về lâu dài phải làm cho bằng đủ nước”.
Ngày 07/5/1994, khi bà con người Dao ở Vầy Nưa, dưới sự chỉ dẫn của bác Hương đã dỡ nhà, xếp đồ đạc xuống thuyền dưới sông Đà rồi thì có cán bộ huyện Đà Bắc ra thông báo: Huyện chưa có chủ trương, nếu dân đi thì không có chế độ gì đâu? Sau này bác Hương kể: “Nếu lúc đó mà chết được thì tôi chết đi cho thoát, vì thế này hóa ra mình lừa dân hay sao!.
Nhìn lại bà con tất cả trông chờ vào mình, thế là bác lại bình tĩnh để tìm ra cách giải quyết”. Bác Hương động viên bà con bình tĩnh chờ bác thuê thuyền về xin ý kiến tỉnh. Gặp ông Bùi Văn Chiển (Giám đốc Sở LĐ – TBXH) thì được biết ý kiến của tỉnh không có gì thay đổi. Sáng hôm sau đoàn thuyền xuôi về kênh, thuê người bốc xếp và xe chở đồ đạc vào Thung Rếch.
2.Ngay lúc này, bác đã quy hoạch một con đường ở giữa, hai bên là đất ở cho các hộ. Mỗi hộ đều được 25m “mặt đường” còn thì chạy sâu vào chân núi. Đất canh tác đo được 59 ha cũng chia theo hộ. Việc chia đất ở và đất canh tác được tiến hành công khai, chia xong, bốc thăm ai được đâu nhận đó, mọi người đều vui vẻ.
Quy hoạch và chia đất cho dân đã xong, bác Hương về quê cũ để làm một số thủ tục hành chính thì được nhận 600.000 đồng tiền mặt của HTX chia cho các hộ dân di chuyển. Ra đến thị xã Hòa Bình bác Hương mua ngay 600m ống nhựa, thuê xe mang về Thung Rếch, rồi gọi người rải ống từ nguồn nước về “xóm mới” và chờ đợi (vì còn rậm rạp nên không rõ nguồn nước có cao hơn chỗ ở không). Nửa đêm, nước về rơi loong boong xuống chậu, cả xóm reo mừng.
Cuối năm 1995, hai cụm bể được xây dựng trong sự vui mừng khôn tả của những người chạy nước lại “khát” nước. Nhưng nguồn nước nhỏ chỉ đủ trong những tháng mùa mưa. Bác Hương lại nghĩ phải làm tăng dần nguồn nước bằng cách trồng rừng. Đang trăn trở tìm vốn thì năm 1996 có chính sách bảo vệ rừng khoanh nôi với mức 50.000 đ/ha/năm. Bác Hương bàn với chi bộ và nhân dân trong xóm dùng số tiền này của một năm (lúc đó là 5 triệu đồng) mua giống luồng về trồng vào 5 ha đầu nguồn để “bồi bổ” nguồn nước. Trồng luồng xong lại căng dây, chia rồi bốc thăm như hồi chia đất ở và đất canh tác. 5 heta luồng là của chung, nhưng từng gia đình chăm sóc, thu hoạch trên diện tích được chia. Thế là từ chỗ mỗi năm chỉ đủ nước dùng trong mấy tháng mùa mưa thì dần dần số tháng có nước thoải mái trong năm tăng lên và đến khi có nước quanh năm, tuy mùa khô vẫn phải tiết kiệm.
Trưởng thôn Bàn Văn Phong cho biết: Khi quyết định trồng vườn luồng này, bác Hương bị Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Kim Bôi gọi lên yêu cầu viết bản kiểm điểm về việc: tiền bảo vệ rừng không chia cho dân mà lại mang đi trồng rừng. Bác Hương từng kể: “Đúng là ngày đó tôi phải đấu tranh để bảo vệ việc làm của mình, tôi nghĩ: Tiền bảo vệ rừng lại cùng bà con trồng thêm rừng thì không có gì đáng ngại”.
3.Già làng Bàn Văn Hương hiện đã là người thiên cổ, nhưng cái xóm già đứng đầu gây dựng nay có 189 ha rừng, 125 ha dất lâm nghiệp, 59 ha bưa bãi để trồng hoa màu và cây ăn quả. Rừng được bảo vệ chặt chẽ. Nếu ai nghe tiếng chặt cây thì phải tìm đến tận nơi xem ai chặt, chặt vì việc gì, có chính đáng không. Trong xóm nhà nào có nhu cầu về gỗ thì làm đơn, tập thể xem xét, mức độ và đồng ý cho chặt cây nào, ở đâu rất rõ ràng. Chính vì thế mà từ ngày Kim Bắc hình thành đến nay rừng nguyên sinh được giữ gìn cẩn thận, rừng tự nhiên được bảo vệ cho tái sinh, rừng trồng phát triển tốt.
Mọi người ai cũng nhớ công lao của bác Bàn Văn Hương và tiếc nuối: Nếu chúng tôi mà về đây sớm 2 năm thì toàn bộ rừng ở đây không bị phá. Đúng thế. Khu rừng trước mặt bạt ngàn xanh. Những thân cây to, mốc trắng điểm xuyết trong mầu xanh tầng tầng lớp lớp vừa thâm nghiêm vừa ấm áp vô cùng. Đến đây giờ khó mà tìm thấy khoảng đất nào bỏ hoang.
Cùng với làm kinh tế, người dân rất quan tâm đến đời sống văn hóa và an ninh. Họ nhớ lời bác Hương “Bản sắc văn hóa là phải từ trong đường ăn lẽ ở của mỗi người, mỗi nhà. Mọi người phải tự giác và yêu lao động, sống ngay thẳng, đoàn kết, bảo được nhau và đặc biệt là không ăn cắp, không gian dối”.
Về việc nuôi trâu, bò: Do không có bãi chăn thả nên không nhất thiết nhà nào cũng phải nuôi trâu, bò. Nhà nào có người chăn dắt, không để trâu bò phá hoa màu thì hãy nuôi, nhà nào không có người chăn dắt thì không nuôi. Đến mùa vụ sẽ thuê hoặc đổi công cho người có trâu bò cày bừa giúp. Thực hiện việc này, nên nhiều năm nay, tình làng xóm đảm bảo, sản xuất được bảo vệ.
Về nước sinh hoạt đã từng bước giải quyết bằng cách nâng lượng nước tự nhiên về các bể chung từ 5 tháng lên 7 tháng bằng cách trồng rừng đó là bước một. Bước hai, vận động các gia đình có điều kiện thì xây bể chứa hứng nước mưa, tích nước dùng mùa khô để giảm bớt sự thiếu hụt nước tại các bể chung. Đến nay đã hơn 40 hộ xây bể chứa nước có dung tích từ 10-15 m3, do đó bà con đã có nước dùng cả năm.
Càng được chứng kiến việc làm của bác Hương trước đây và bà con hiện nay, càng cảm phục sự chỉ đạo chi ly mà to tát của bà con người Dao. Việc rõ ràng tưởng như đơn giản là vậy mà sao người khác, nơi khác chưa làm được?
Tôi tần ngần đứng giữa Thung Rếch mà nhớ đến bác Bàn Văn Hương. Vào những năm 70 của thế kỷ Hai mươi, khi mới 18 tuổi, lên nhận công tác tại vùng núi cao Đà Bắc, tôi đã được ăn, ở hàng tháng trời tại gia đình bác Hương, khi ấy đang là Trưởng Công an xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc. Tôi được bác Hương đưa đi các xóm dự họp triển khai công tác an ninh với bà con. Được uống tiu bầu (rượu hoãng), nhẹn ó sui (ăn thịt chua) – những đặc sản quý dành cho những ngày lễ trọng của bà con dân tộc Dao. Khi bác Hương chuyển về Thung Rếch, tôi cũng được đến thăm bác vài lần mà “lần nào cũng vội”.
Nắng vàng đang choàng ngập mầu xanh bạt ngàn cho ngô thủ thỉ ủ bắp, mía rì rào thu ngọt. Cảm phục biết bao trước sự kỳ diệu của con người như sức sống mãnh liệt của mầu xanh cây lá. “Tấc đất, tấc vàng” là có thật, thật như tấm lòng của già làng người Dao Bàn Văn Hương và sức sống đoàn kết, mạnh mẽ của người Dao”.
MỘT GIA ĐÌNH NGƯỜI DAO TỪ CHỢ BỜ
Tôi có may mắn đã từng công tác, ăn, ở cùng họ từ cách đây 44 năm. Nay thế hệ thứ 2 của họ đã “con hơn cha” một cách vững vàng; thế hệ thứ 3 cũng đã và đang trưởng thành. Đôi vợ chồng trẻ người Dao Tiền Bàn Minh Xuân – Triệu Thị Quyết ngày ấy, giờ đã lên cụ với cả đàn con cháu, chắt. Còn tôi, tôi đang chiêm ngưỡng gia đình họ bằng sự kính trọng và niềm tin yêu …
Từ những đứa con của núi, trốn rừng đi tìm cái chữ
Bàn Minh Xuân, sinh 1942, là người Dao, quê xóm Thín, xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc. Mồ côi cả bố và mẹ, Bàn Minh Xuân ở với vợ chồng người anh trai. Sớm có tính tự lập, lại được thấy những đổi mới sau hòa bình lập lại ùa về với người miền núi, nhất là đối với dân tộc Dao vốn bao đời du canh, du cư, Bàn Minh Xuân ấp ủ ước mơ được đi học chữ mong thay đổi cuộc đời.
Bí mật chuẩn bị tư trang, đến một ngày, bảo mọi người cứ đi làm nương trước, thế rồi Xuân trốn nhà đi bộ gần 50km xuống xin vào học Trường Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình. Đến trường, Xuân mới viết thư về nói với anh chị không phải đi tìm, không phải đi đón, em quyết tâm học để sau này đi công tác. Bàn Minh Xuân chăm chỉ học hành và đến năm 1968, anh được đi học trường nông nghiệp và về công tác tại huyện Đà Bắc.
Triệu Thị Quyết, sinh 1948 ở bản người Dao xóm Sưng (trước đây thuộc xã Tu Lý). Đúng ngày 03/3/1963, mới 15 tuổi lại bé còm nhom mà Quyết dám trốn nhà đi bộ trên 50km tìm đến Trường Thanh niên lao động XHCN Hòa Bình xin học. Hôm ấy, cô bé Quyết đi nhầm xuống tận Bãi Nai, huyện Kỳ Sơn vì ở đó có trường học, nhưng lại là trường Nông nghiệp.
Hôm sau Quyết mới được chỉ đường quay lại trường cần tìm. Đến bến phà Thia, hỏi thăm thì Quyết gặp đúng thầy giáo Nguyễn Văn Trọng, hiệu phó Trường TNLĐXHCN Hòa Bình. Sau 4 năm học, năm 1966 Triệu Thị Quyết được tuyển vào ngành Công an rồi về nhận công tác tại Công an huyện Đà Bắc.
Huyện lỵ Đà Bắc đóng tại Chợ Bờ xã Vầy Nưa. Phòng Nông nghiệp nơi Xuân công tác và Công an huyện nơi Quyết đầu quân đều là những căn nhà nứa lá trên vạt đồi nhìn xuống phố Bờ. Khi thì họp huyện ủy, lúc có việc tại ủy ban, Xuân và Quyết gặp nhau. Cùng là người dân tộc Dao Tiền, cùng trốn nhà tìm đường đi học nên họ đã rút ngắn con đường đến với nhau. Tình đã nồng, duyên đã thắm, tháng 10/1970 họ nên vợ, nên chồng.
Sau đám cưới theo phong tục dân tộc Dao ở quê, đôi vợ chồng trẻ trở lại Chợ Bờ công tác và bắt đầu cuộc sống gia đình. Tranh thủ ngày nghỉ, lại được một số bạn bè chung tay, họ dựng được căn nhà nhỏ cột chôn cạnh Công an huyện. Từ 1971 đến 1977 lần lượt ba người con gái của ông bà ra đời, đó là Bàn Thị Quyên, Bàn Thị Quy, Bàn Thị Như Quỳnh.
Kiên trì dạy con theo truyền thống tốt đẹp của dân tộc Dao
Với bản chất chịu thương, chịu khó của người Dao ông bà Xuân Quyết vừa tích cực công tác vừa chăm chỉ vào rừng kiếm củi, lên đồi trồng sắn, trồng lúa nương để đảm bảo cuộc sống muôn vàn khó khăn thời bao cấp. Công tác và lao động đã vậy, việc chăm lo dạy bảo con cái được đôi vợ chồng trẻ hết sức quan tâm. Ở cơ quan nói tiếng Kinh, nhưng khi đã về đến nhà là ông bà nói với nhau bằng tiếng Dao và dạy các con tiếng của dân tộc mình. Thế nên, dù sinh ra ở phố Bờ, đi học với các bạn người Kinh, người Mường là chủ yếu, nhưng Quyên, Quy, Quỳnh đều nói thạo tiếng dân tộc Dao cho tới nay.
Công trình Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà khởi công xây dựng. Năm 1982, theo huyện Đà Bắc, ông bà đưa con về Tu Lý. “Nứa bưa Trùng, gianh suối Hỏi”*, cứ thế, ông bà Xuân - Quyết kịp dựng lán trại cùng 3 đứa con “trứng gà, trứng vịt” (Quyên 11 tuổi; Quy 7 tuổi; Quỳnh 5 tuổi) có chỗ tá túc. Nơi ăn, chốn ở tạm ổn định là ông bà cùng con cái tính ngay đến việc trồng rừng. Thời gian đầu là trồng luồng rồi chè, sau đó ông bà quyết định trồng cây dài ngày và gần một hecta ngay sau nhà được dùng để trồng cây dổi.
Đến nơi ở mới với bao khó khăn, vất vả, nhất là thời kỳ này là đỉnh điểm của thời bao cấp, không ít cán bộ, giáo viên xin ra khỏi biên chế nhà nước để xoay sở kiếm kế sinh nhai. Ngạc nhiên thay, ông bà Xuân Quyết lại đón một trẻ sơ sinh của một đôi vợ chồng do khó khăn mà không nuôi được con về làm con của mình. Đứa con thứ 4 ấy được đặt tên Bàn Anh Thắng lớn lên trong vòng tay yêu thương của bố mẹ và các chị gái trong nền nếp một gia đình người Dao.
Những điều hay đã ghi trong sách cổ của dân tộc Dao đều được ông bà nghiêm túc thực hiện và kiên trì dạy bảo các con làm theo. Ví như “Có sách mà không dạy thì con hư, có ruộng mà không cày thì bồ không có thóc”, hay “Để cho con một hòm vàng, không bằng để cho con một pho sách” và “Người Dao không lấy của ai cái gì và cũng không để ai lấy cái gì của mình”…
Việc tại sao nhiều người Dao gốc gác người Kinh là bởi năm 1945, hơn 2 triệu người nước ta bị chết đói, nhiều trẻ con người xuôi được đưa lên làm con của người Dao, bởi người Dao không đói, không đói do chăm làm, không đói thì mới nuôi người được. Và khi đã ở với người Dao thì trở thành người Dao thực thụ, bởi cái tình, cái sự không phân biệt con nuôi hay con đẻ của người Dao. Người Dao không gọi là xin con mà gọi là đón con. Điều hay, cái tốt… thầy cô giáo dạy ở trường kết hợp với tình, cái lý của người Dao cứ thế thấm sâu và hình thành nên nhân cách các con của ông bà.
Trở lại với ông bà Xuân - Quyết. Năm 1988, bà Triệu Thị Quyết nghỉ hưu, nhưng chưa kịp cầm sổ hưu thì bà nhận ngay công tác chi hội phụ nữ và làm một mạch cho đến năm 2000. Tiếp công tác phụ nữ, bà Quyết lại liền tù tì hai khóa tham gia cấp ủy chi bộ và ủy viên Ban Quản lý hợp tác xã. Người dân tiểu khu Hương Lý, thị trấn Đà Bắc luôn tin tưởng và yêu quý bà Triệu Thị Quyết, người đảng viên tiên phong, người cán bộ công an hưu trí cần mẫn và hơn hết bà là một công dân mẫu mực.
Năm 2001, ông Bàn Minh Xuân nghỉ hưu ở cương vị Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Đà Bắc. Chẳng chịu “kém cạnh” bà, ông lại tham gia ngay công tác tiểu khu. Suốt hơn 20 năm qua, từ công tác mặt trận đến Bí thư chi bộ, rồi chi hội trưởng chi hội Người cao tuổi… ông đều đã qua. Đã không ít lần ông xin chi bộ và tiểu khu cho nghỉ, vì cái chân đã thấy chậm, cái tai đã thấy ù, nhưng trước tình cảm yêu mến và tín nhiệm của đảng viên và nhân dân nên đến nay đã vào tuổi 80, ông vẫn là Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi tiểu khu Hương Lý. Kể với tôi, ông cười mà rằng, số bằng khen, giấy khen mà ông được nhận từ ngày về hưu đến nay nhiều gấp những mấy lần thời ông công tác nhà nước.
Ba người trong một nhà dự Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện
Noi gương bố mẹ, các con của ông bà đều ngoan ngoãn chăm chỉ học hành cũng như chịu khó lao động. Học hết phổ thông, họ đều thi vào các trường rồi ra công tác và đều tiến bộ. Bàn Thị Quyên là Tổ trưởng chuyên môn tại Trường Tiểu học Kim Đồng ở thị trấn Đà Bắc; Bàn Thị Quy là Huyện ủy viên, Phó Chủ tịch UBND huyện; Bàn Thị Như Quỳnh là Phó Bí thư Chi bộ - Hiệu phó Trường THPT huyện Đà Bắc và Bàn Anh Thắng là cử nhân ngành Nông nghiệp và hiện đang công tác tại phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đà Bắc. Các con rể, con dâu của ông bà đều là cán bộ công tác tại các cơ quan ở huyện Đà Bắc.
Từ hai người con dân tộc Dao Tiền, tình cờ cùng trốn nhà xuống núi tìm về trường học ngày nào, nay gia đình ông bà Xuân - Quyết đã thừa sức một chi bộ với 10 đảng viên (hai ông bà và 8 người con trai, gái, dâu, rể). Những người dự Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đà Bắc lần thứ XXV, nhiệm kỳ 2020 – 2025 ngạc nhiên đến vỡ òa khi thấy một gia đình người Dao có những ba đại biểu chính thức dự Đại hội, đó là:
Bà Triệu Thị Quyết, đảng viên Chi bộ Hương Lý; Bàn Thị Quy, Trưởng phòng Nội vụ (nay là Phó Chủ tịch UBND huyện); Bàn Thị Như Quỳnh, Phó Bí thư Chi bộ - Phó Hiệu trưởng Trường THPT Đà Bắc. Lại được biết, bà Triệu Thị Quyết được bầu làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội cấp trên khi bà vắng mặt.
Hôm nay, khi tôi ngồi viết bài này thì hình ảnh anh Xuân mặt nhọ nhem bởi than củi cháy dở, cùng tiếng dao lách cách bên hông, vai vác cây củi to hấp tấp xuôi dốc về nhà trước khi trời tối lại hiển hiện trước mắt. Và chị Quyết, cứ cởi bộ quần áo Công an lại trở về với người phụ nữa Dao chính hiệu. Nhớ những khi chị dạy tôi cách cầm gậy chọc lỗ để chị thoăn thoắt bỏ những hạt giống trồng lúa nương trên lưng đồi suối Búng. Rồi đến mùa thu hoạch, chị lại dạy tôi cách cầm hái hái từng bông lúa nương trĩu hạt mẩy đều. Khi những bông lúa đã chặt tay thì buộc lại thành từng cum, từng cum, xếp chồng chất ngất…
Bây giờ nhiều người ngạc nhiên thấy tôi hiểu và yêu quý văn hóa miền núi chính là nhờ có các anh, các chị, các mẹ miền núi yêu thương đùm bọc và bảo ban đến nơi, đến chốn từ khi chân ướt, chân ráo từ miền xuôi lên công tác miền núi. Hay nói cho đúng là chúng tôi có đời sống thực sự với miền núi và tìm thấy cái hay, cái đẹp của con người miền núi để tình yêu ấy ngấm vào mình lúc nào không biết nữa. Và trong nhiều cái hay, cái đẹp ấy có bằng chứng sinh động của đình ông bà Xuân - Quyết người dân tộc Dao Tiền ở huyện Đà Bắc.
LÀNG MƯỜNG HÒA BÌNH TRÊN CAO NGUYÊN DI LINH
Công trình Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà – Công trình Thế kỷ của thế kỷ XX được xây dựng. Hàng vạn người dân các dân tộc ở Hòa Bình đã vĩnh viễn trao lại quê hương bản quán của mình cho hồ nước mênh mông. Trong cuộc di dân tứ tán ấy của bà con, một lượng đông đảo người dân tộc Mường đã vào với Tây Nguyên. Vừa qua, mới chỉ hai ngày hai đêm ở làng Mường tại xã Hòa Nam, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, đã mang lại trong tôi hết bất ngờ này đến ngỡ ngàng khác…
Những ký ức chưa xa
Khi chưa có đập thủy điện Hòa Bình, bà con người Mường huyện Đà Bắc sống ở ven sông Đà thuộc các xã Vầy Nưa, Hiền Lương, Hào Tráng, Tiền Phong, Tân Lập, Dân Lập, Yên Hòa, Đồng Ruộng…Đời sống của họ chủ yếu dựa vào ruộng nước, trồng lúa nương và trông chờ sản vật tự nhiên từ rừng núi. Thời điểm đó nơi đây hoàn toàn chưa có nghề rừng. Chưa có sản xuất hàng hóa. Bởi, Nhà nước vẫn đang trong cơ chế bao cấp còn người dân thì tự túc, tự cấp là chính.
Là người trong cuộc được chứng kiến trọn vẹn công cuộc chuyển dân chưa có tiền lệ thời ấy, người viết bài này càng thấy sự vất vả, hy sinh vô bờ của bà con chuyển khỏi vùng hồ. Trong đó, số đông là người dân tộc Mường xã Hào Tráng huyện Đà Bắc. Khi cả xã phải di chuyển, số đông bà con Hào Tráng về tiếp nhận khu đất của Trường Thanh niên lao động XHCN Hòa Bình tại xã Tu Lý để lập một xã mới mang tên Hào Lý. Tuy vậy, do khả năng dung nạp của Hào Lý có hạn nên một bộ phận không nhỏ người dân Hào Tráng phải tìm đi khắp nơi.
Chuyển khỏi vùng ngập lòng hồ sông Đà khi ấy quả là chưa có tiền lệ. Nhà nước lo cho dân chuyến xe vận chuyển nhưng phương tiện lại vô cùng khan hiếm. Nhà cửa tháo ra đắp đống chờ xe, người dân thì được cấp lương thực trong một thời gian nhất định…Số gia đình chuyển hẳn đi nơi khác khó khăn đã đành một nhẽ. Nhưng những gia đình ở lại phải chuyển dần theo cốt nước hồ mà khi đó gọi là chuyển vén lại khó khăn gấp bội. Nếu chuyển ngay lên cốt an toàn thì không thể đi lại được vì độ dốc cao, đường đi lối lại không có. Đặc biệt là chạy nước mà lại khát nước. Người lớn đã vậy, trẻ nhỏ học hành ra sao? Lúc khỏe đã vậy, lúc ốm đau bệnh tật giải quyết thế nào?. Chính thế, người ở lại chuyển vén không chỉ chuyển một lần mà phải chuyển đến vài ba lần. Ngôi nhà sàn gỗ to đẹp, bề thế, sau mỗi lần di chuyển được gỡ ra, kéo ngược đồi đến chỗ dựng lại phải tự thu hẹp dần. Và cứ thế, đến lúc tạm yên chỉ còn là cái nhà tạm. Nhớ lại thời kỳ chuyển dân ấy, trong một bài thơ tôi đã viết:
Nhớ thủa/Tháo khớp nhà sàn vác ngược/Gối bong, cột kèo lạc hơi/Mái tranh sưng sỉa cãi gió/Tóc như bứa mọc trên đầu/Chưa ấm chỗ/Người và nhà lại rã rời vượt thác lên mây/Cột sứt mộng/Kèo mẻ mang/Trườn khỏi tay người/Nghênh ngang tìm đường đòi về quê cũ…
Thực tế không ít hộ sau nhiều lần chuyển vén hay hàng chục năm sau chuyển vén cố bám quê cũ cũng lại phải tìm đường đi nơi khác vì điều kiện sống quá khó khăn. Đó là nguyên nhân sâu xa mà một bộ phận người dân Hào Tráng đã có mặt tại các tỉnh Tây Nguyên cho đến nay. Có thể nói ở miền núi Tây Bắc, sớm hay muộn thì đa số các dân tộc khác là người ngụ cư. Riêng dân tộc Mường đã được xem như người Việt cổ và họ có mặt ở vùng núi Hòa Bình từ khởi thủy. Vậy việc người Mường rời nơi dân tộc họ sinh ra để đến vùng đất mới cách hàng ngàn cây số quả là việc không thể đừng.
Cuộc đổi thay ngoạn mục
Trong chuyến công tác tại Tây Nguyên lần này, tôi hăm hở tìm đến nơi những gia đình người Mường Hào Tráng vốn thân quen một thuở giờ đang sinh sống tại Hòa Nam, Di Linh chứ hoàn toàn chưa biết gì về cuộc sống của họ nơi đây.
Khác với núi rừng phía Bắc (nhất là với Đà Bắc) cao nguyên Di Linh tương đối bằng và đất đai mầu mỡ. Cơn mưa chiều kéo đến rất nhanh, mưa to rồi tạnh hẳn. Bầu trời trở lại trong xanh. Hai bên đường bạt ngàn cà phê và đã chớm mùa thu hái. Giữa bát ngát màu xanh thấp thoáng những ngôi nhà xây, nhà mái bằng càng tôn lên vẻ thanh bình và phóng khoáng của cao nguyên – địa danh mà đa phần người Bắc được nghe từ thời đất nước chưa thống nhất: Cao nguyên Di Linh.
Nay một phần cao nguyên Di Linh đang là nơi sinh sống, là quê hương thứ hai của bà con người Mường từ xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc chuyển vào. Thời gian đầu, bà con người Mường ở thành một xóm rồi dân số phát triển nay chia ra thành hai thôn là thôn 5 và thôn 10 với gần 60 hộ và trên 700 nhân khẩu. Tuy tên gọi và biển treo là thôn 5, thôn 10, nhưng không chỉ người dân sở tại mà ngay cả khách phương xa tìm đến cũng được chỉ đường tới làng có tên gọi nôm na là làng Mường Hòa Bình.
Điều làm chúng tôi ngạc nhiên đến sững sờ trước hết là bà con làng Mường giờ đã thông thạo với kỹ thuật canh tác cây cà phê. Nói chính xác là bà con người Mường không chỉ trở thành chủ nhân thật sự của đất đai mà còn là chủ nhân của quá trình sản xuất hàng hóa. Theo tôi, đây chính là điều quan trọng nhất đối với không chỉ số bà con Hòa Bình vào Tây Nguyên mà có thể nói là của bà con người dân tộc Mường nói chung. Nhìn những vườn cà phê ngút mắt với hệ thống tưới tiêu đan xen, những máy xát vỏ cà phê, những sân xi măng phơi cà phê hệt như sân phơi lúa, phơi ngô quê Bắc mà thấy rưng rưng.
Ông Đinh Công Nhậy thôn 10 cho biết: Mấy năm đầu khi chưa có thu nhập đáng kể, bà con phải ăn vay (trong này gọi là ăn thiếu) của một số người đầu tư, đến mùa trả bằng sản phẩm. Thấy bà con ta chịu khó lại sòng phẳng, các cơ sở thu mua cà phê và chè sẵn sàng cho vay nhiều hơn, dài hơn. Đến nay, đa số bà con vay đầu tư cho sản xuất thông qua Ngân hàng Chính sách huyện Di Linh. Số tiền bà con người Mường Hòa Bình vay hàng năm lên tới nhiều tỷ đồng nhưng hoàn toàn không có nợ đọng, nợ xấu. Đây chính là nguồn khách hàng tiềm năng của hệ thống ngân hàng Di Linh. Đời sống của bà con ngày một đổi thay. Hiện 100% các gia đình có nhà xây, nhà gỗ khang trang. Thu nhập bình quân đầu người của bà con hai làng Mường năm 2014 là 28 triệu đồng/năm. Đã có 2 gia đình mua được xe hơi đắt tiền.

Điều ngạc nhiên tiếp theo là trong lúc bà con xa quê hương cả ngàn cây số như thế, cuộc sống sản xuất, canh tác thay đổi là vậy nhưng phong tục, tập quán hay nói cách khác là bản sắc văn hóa lại được giữ gìn một cách có ý thức. Đang ngồi nói chuyện với ông Đinh Công Nhậy, ông Đinh Công Hùng, thấy cháu nội các ông mới trên hai tuổi, chưa đến ba tuổi đều tập nói và bi bô với các ông bằng tiếng Mường. Người trong gia đình nói với nhau, khách đến nhà (nếu là người Mường) đều nói tiếng Mường thân quen. Thật là thú vị khi chúng tôi được biết, con dâu của ông Đinh Công Nhậy tuy là người con gái Bến Tre nhưng nay đã nghe được hết tiếng Mường và đã bắt đầu nói được những tiếng thông thường. Điều này khiến chúng tôi chạnh lòng nghĩ đến thực trạng không ít các bạn trẻ người Mường ở các thị trấn, thành phố và cả một số xã ở tỉnh Hòa Bình không nói, không nghe được tiếng nói của dân tộc mình. Tại các diễn đàn văn hóa, các vị lãnh đạo tỉnh cũng thường nêu những băn khoăn này. Nghĩ kỹ thì rõ ràng đó trước hết là lỗi của người lớn chúng ta. Khi ở mỗi gia đình, bố mẹ là người Mường lại không nói tiếng Mường thì sao có thể truyền dạy cho con trẻ. Theo kiến thức sinh học về sự phát triển ở trẻ: Trẻ 9 tháng là lò dò tập đi theo bản năng tự nhiên. Đến 3 tuổi trẻ mới biết nói nhưng cần phải được nghe tiếng mẹ đẻ từ khi lọt lòng, tập bi bô rồi đến thời điểm này mới cất lên tiếng nói được. Bởi thế khi nhiều em bé ngày nay không được nghe tiếng Mường, không được dạy tiếng Mường thì làm sao nói tiếng Mường được. Phải chăng khi người ta xa quê thì tình cảm với quê hương, phong tục, tập quán ngàn đời ông cha tạo dựng trở nên có giá trị, nhắc ta quý trọng tiếng nói, trang phục, truyền thống văn hóa của dân tộc mình?
Lại được biết, mỗi chị em phụ nữ ở đây đều có váy, áo, khăn…trang phục Mường. Những dịp lễ, tết, văn nghệ chị em bao giờ cũng mặc trang phục Mường để thể hiện những bài hát Mường. Cũng như ngoài quê Bắc ở Hòa Bình, ngoài tết Nguyên Đán, bà con người Mường duy trì tết Độc Lập 2-9 và lễ Khai Hạ mồng 5 hoặc mồng 7 tháng Giêng. Những dịp này, các sinh hoạt của bà con người Mường gây được sự chú ý của nhân dân trong không chỉ xã Hòa Nam với 12 ngàn dân thuộc 51 tỉnh thành cả nước sinh sống mà còn thu hút rất đông dân cư trong vùng. Điều này chứng tỏ bản sắc văn hóa của người Mường được bà con duy trì và cộng đồng đánh giá cao.
Người cao tuổi nhất làng Mường ở Hòa Nam hiện nay là cụ bà Hà Thị Sệt 90 tuổi. Cụ Sệt còn khỏe, lưng thẳng, mắt tinh, tai thính. Không chỉ cụ Sệt, không chỉ người già mà các gia đình người Mường ở đây đều chăm chú theo dõi Đài Phát thanh và Truyền hình Hòa Bình, nhất là chương trình phát tiếng Mường. Đơn cử như việc bà con rất ấn tượng với hai sự kiện mới đây tại tỉnh Hòa Bình đó là: Cuộc gặp gỡ của lãnh đạo tỉnh Hòa Bình với các nghệ nhân Mo Mường và Đại hội đại biểu các dân tộc tỉnh Hòa Bình lần thứ II vừa diễn ra.
Nói về Mo Mường, ông Đinh Công Nhậy cho biết: Vào dịp lễ Khai hạ hàng năm, bà con thường tập trung đến nhà ông Bùi Văn Thành nghe diễn xướng Mo Mường. Rất tiếc một hai năm nay, ông Bùi Văn Thành do tuổi cao lại bị tai biến nên không mo được nữa. Việc này, bà con đang loay hoay. Nay thấy tỉnh Hòa Bình tôn vinh các nghệ nhân Mo Mường thì đây cũng là một gợi ý để người Mường xa quê như chúng tôi tìm cách khôi phục lại Mo Mường.
Những con người làm nên sự đổi thay
Để có được thành quả như ngày nay là biết bao bao sức lực và trí tuệ của bà con người Mường Hào Tráng cộng với sự quan tâm của các cấp chính quyền, sự yêu thương đùm bọc của bà con sở tại, bên cạnh đó là vai trò tiên phong của những người “mở đất”. Chưa gặp được đầy đủ lớp người tiên phong ấy, song trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin được đề cập tới một số nhân vật:
Thứ nhất là ông Đinh Công Tích năm nay đã 73 tuổi. Rất tiếc khi chúng tôi vào Di Linh thì ông đang trong Đoàn đại biểu Người có uy tín của tỉnh Lâm Đồng ra thăm Hà Nội và các tỉnh miền Bắc.
Sau nhiều lần loay hoay chuyển lên, chuyển xuống, chuyển xuôi, chuyển ngược, ông Đinh Công Tích, Phó Chủ tịch kiêm Trưởng Công an xã Hào Tráng nghỉ chế độ theo dạng mất sức rồi cùng một số người vượt khỏi miền Bắc vô Nam. Các ông từng cắm sào tại vùng nước nổi Long An. Thấy cảnh trời nước mênh mông không phù hợp với tập quán sản xuất của người miền núi, ông Tích lại đau đáu tìm vùng đất mới.
Thế rồi năm 1991, một lần ông Tích gặp ông Nguyễn Đình Chiến người ở xóm Kiến Bình cùng xã Hào Tráng xưa. Khi ông Tích làm phó Chủ tịch UBND xã thì ông Chiến làm Chủ nhiệm HTX mua bán, các ông lại sinh hoạt cùng chi bộ Đảng với nhau. Cũng do phải chuyển khỏi vùng lòng hồ Thủy điện Hòa Bình mà gia đình ông Chiến (nguyên từ Thái Bình lên Đà Bắc xây dựng kinh tế mới) phải bỏ quê mới ra đi. Người quen tìm người quen, ông Chiến vào Di Linh tỉnh Lâm Đồng – nơi có một số dân Thái Bình quê ông vào xây dựng vùng kinh tế mới từ đầu những năm 1980 rồi gia đình ông tái định cư tại đó. Ông Chiến gặp ông Tích và từ đó hai cái tên Chiến Tích thực sự đặt nền móng cho chiến tích Làng Mường Hòa Bình tại Di Linh ngày nay. Vào Di Linh, ông Tích đã ngoài 50 tuổi. Một thời gian sau ông Tích được tín nhiệm bầu làm Đại biểu Hội đồng nhân dân xã Hòa Nam. Ông nhận đất, khai hoang, lập xóm rồi nhiều đợt đưa bà con đến lập nghiệp. Trong số đó có cả các hộ từ Long An lên, có các hộ từ Hòa Bình vào. Sau đó, ông Đinh Công Tích lại được bầu làm Trưởng ban Mặt trận xã, rồi Chủ tịch Hội Người cao tuổi đến nay. Ông Tích là người có uy tín không chỉ của bà con người Mường mà những cái bắt tay chặt hơn mộng cột kèo… những cái bắt tay chặt hơn mộng cột kèo…là người có uy tín của xã Hòa Nam huyện Di Linh.
Người thứ hai là ông Đinh Công Nhậy 60 tuổi. Thời chưa phải chuyển lòng hồ sông Đà, ông Nhậy đã là Huyện đội phó Huyện đội Đà Bắc khi mới ngoài 30 tuổi. Thế mà ông Nhậy phải xin phục viên để gánh vác gia đình. Sau khi từ Long An theo ông Tích về Di Linh, ông Nhậy đã tích cực cùng ông Tích mở mang và giữ đất cho bà con. Vì đầu những năm 1990, công cuộc đổi mới bắt đầu đi vào cuộc sống, cơ chế thị trường hình thành, một số người có chút quyền hành đã định giữ đất để “trao” cho người đã có đất nhằm kiếm lợi cho riêng mình. Áp lực ấy được tạo ra và họ đã gây sức ép với bà con người Mường mới đến. Với bản lĩnh và kinh nghiệm của mình, ông Đinh Công Nhậy tìm mọi cách đấu tranh giữa đất. Ông Nhậy từng tuyên bố “Nếu phải hy sinh 21 năm tuổi Đảng để giữ đất cho bà con thì tôi cũng sẵn sàng”. Kết quả ông Tích, ông Nhậy không những giữ được đất cho bà con mà còn gây dựng được uy tín của mình. Liên tiếp 16 năm, ông Đinh Công Nhậy từ Trưởng Công an xã, Chủ tịch xã rồi Bí thư Đảng ủy xã Hòa Nam. Ông Nhậy là người cán bộ xã Hòa Nam đầu tiên được hưởng lương hưu vào tháng 4/2014.
Người thứ ba là ông Đinh Công Hùng 55 tuổi nguyên cán bộ Công an huyện Đà Bắc. Cũng do chuyển lòng hồ mà một cán bộ đầy triển vọng của Công an như ông Hùng phải xin thôi việc. Từng qua hết chỗ này, chỗ khác, việc này, việc khác, kể cả qua biên giới sang Cămphuchia buôn thuốc lá… Khi có tín hiệu từ ông Nhậy, ông Hùng quyết định đưa cả gia đình từ Long An về Di Linh. Từ bới đất lật cỏ, đốt than, làm thuê chạy ăn từng bữa, các ông đã “lấy ngắn nuôi dài” phá hoang trồng cà phê. Thế rồi, ông Đinh Công Hùng cũng được tín nhiệm bầu vào Đảng ủy và giữ trọng trách Trưởng Công an xã Hòa Nam.
Tiếp nối truyền thống cha anh, hiện nay anh Đinh Công Trường sinh năm 1981, con trai thứ 7 của ông Đinh Công Tích đang là Phó Chủ tịch UBND xã Hòa Nam. Đương nhiên còn nhiều người khác nữa đã có công lớn trong việc xây dựng làng Mường ở Di Linh mà chúng tôi hy vọng được gặp gỡ, tìm hiểu và mang lại thông tin cho bạn đọc vào các dịp sau.
Được biết ngày 25/4/2015 sắp tới, bà con người Mường ở Hòa Nam sẽ tổ chức kỷ niệm 25 năm ngày người Mường Hòa Bình đặt những bước chân đầu tiên lên đất cao nguyên Di Linh – Lâm Đồng. Thông tin trên là một tín hiệu đánh dấu một cột mốc quan trọng của một phần tư thế kỷ đã qua đối với một bộ phận người Mường lại ở một nơi hoàn toàn mới lạ mà phát triển mạnh mẽ như hôm nay. Với khoảng cách trên ngàn cây số, việc đi lại không ít khó khăn, nhưng tôi vẫn không thôi trăn trở giới văn nghệ sỹ tỉnh Hòa Bình sẽ có dịp thể hiện trách nhiệm của mình với bà con người Mường ở cao nguyên Di Linh.
2013