THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

BỜ XƯA - KỲ QUAN TỪ KÝ ỨC

Lê Va
 
BỜ XƯA
 
CỦA HƯNG -  HƯNG TỎA
CỦA BỜ - BỜ LAN
                                                    
Bờ xưa, càng nhớ càng tiếc. Nhưng ngẫm lại, có lẽ đúng là: “Của hương - hương hỏa, của bờ - bờ tan”. Đó là lời day dứt của cụ Lê Văn Thông, sinh 1938, người mà gia đình ông có biết bao kỷ niệm vui buồn với sóng nước sông Đà.
Năm 1944, cụ Lê Văn Ứng tức Tập (1895 – 1993), cùng vợ dùng thuyền thoi đưa hai con nhỏ là Lê Văn Thông, 6 tuổi; Lê Thị Tho, 4 tuổi từ Văn Lý, Hải Hậu, Nam Định lên phố Ngọc ven sông Đà, thị xã Hòa Bình. Từ đây, gia đình nhỏ của họ lại ngược Bến Chương, xã Hiền Lương, huyện Đà Bắc, rồi lên tiếp Suối Rút, huyện Mai Châu. Khi Pháp tấn công Hòa Bình, họ lại ngược tiếp lên Sơn La. Sau chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, cụ Lê Văn Tập mới chuyển gia đình về vùng Chợ Bờ và ở tại xã Ngòi Hoa cho đến 1955 thì chuyển sang phố Bờ.
Vợ mất khi đứa con gái Lê Thị Tho mới 8 tuổi, ông Tập rơi vào cảnh “gà trống nuôi con”. Quá khó khăn, ông phải gửi Lê Thị Tho làm con nuôi một người quen ở Trung Hà – Ba Vì. Vài năm sau, ông Tập lấy một bà người Mường ở bưa Um. Bố đi bước nữa, Lê Văn Thông tự thu xếp xuống Trung Hà cùng làm con nuôi trong gia đình của em gái. Năm 1961, Lê Văn Thông xây dựng gia đình với Ngô Thị Dần và sống cảnh sông nước tại Trung Hà.
Lấy nhau đã 6 năm mà chưa có con, ông bà Thông – Dần đón một bé gái sơ sinh về làm con nuôi. Hơn một năm sau, bà Dần sinh con trai. Đúng hôm ông Thông lên trạm xá thanh toán tiền chi phí vợ sinh thì máy bay Mỹ kéo đến không kích Trung Hà. Chúng ném bom và bắn rốc két dữ dội xuống bến phà. Thuyền và nhà nổi của gia đình ông Thông đậu gần đó bị trúng đạn bốc cháy. Thật đau xót khi đứa con gái nuôi mới chưa đầy 2 tuổi bị trúng mảnh đạn và chết ngay tại chỗ. Bà Dần bị mảnh bom lia cháy tóc sát da sau đầu. May sao, mẹ vợ ông bế đứa cháu mới sinh đã thoát chết. Nếu hôm đó không lên trạm xá thanh toán tiền, có lẽ tính mạng ông Thông cũng khó bảo toàn.
thacbo001
Năm 1976, vợ chồng ông Thông dắt díu nhau ngược sông Đà lên Chợ Bờ. Khi ông bà Thông lên Chợ Bờ thì cụ Lê Văn Tập về ở với gia đình con trai. Cụ Tập lấy bà người Mường ở xóm Um mà không có thêm người con nào. Sẵn nghề sông nước, ông bà Thông bắt đầu bằng con thuyền nhỏ, vừa đánh cá vừa chở khách, chở hàng dọc sông. Như bao gia đình ở phố Bờ ngày ấy, vợ chồng ông vào hợp tác xã Nghề cá. Các hộ làm nghề cá là hàng tháng cân đủ cá theo định mức, bán cho nhà nước theo giá gọi là. Đủ nghĩa vụ thì được mua gạo theo sổ cho gia đình. Nếu không đủ định mức cá thì ký nợ và phải mua gạo sau, dù xếp sổ sớm đến mấy cũng phải đợi.
Nhắc chuyện này, bà Ngô Thị Dần khẽ hát mấy câu dựa theo giai điệu của bài hát “Nghệ Tĩnh mình ơi” đang thịnh hành thời đó:
Hợp tác mình ơi
Ông Khoa gọi lấy mỳ
Bà già đau khổ
Vác giá đi đong
Ông Lỳ ghi sổ
Tổ Đò không chở
Cuối tháng mới được đong
Hò ơ …
(Ông Khoa là Chủ nhiệm HTX phố Bờ; Ông Lỳ là Cửa hàng trưởng Cửa hàng Lương thực Đà Bắc tại phố Bờ).
Bao năm gắn bó với dòng sông Đà, ông bà Thông nhớ như in từng đoạn sông, từng ghềnh thác. Bấm đốt ngón tay ông tính: Từ chợ Bờ ngược lên, sau thác Bờ (thực chất là ghềnh, ta gọi thác Bờ đến thành quen) thì tiếp theo là các ghềnh: Cóc, Cô Tiên, Mu Tuần, Hàm Rồng, Suối Rút, Đá Đỏ, Mực, Suối Chì, Ban, Hang Miếng, Nhạp, Lòm, Ổ Gà, Khủa, Kế, Nánh, Kẹp, Nhạp, Đá Phấn, Suối Khoáng, Mó Tôm, Đá Mài, Giăng, Vạn Yên, vv… mà ghềnh Bờ là ghềnh lớn nhất, hung dữ nhất mọc lên ở lòng sông Đà, đoạn qua vùng Chợ Bờ xưa.
Theo cách gọi, cách hiểu của cánh thuyền chài các ông thì: Thác là do rất nhiều hòn đá, tảng đá chìm, nổi ở lòng sông nên phải biết luồng lạch, tàu thuyền mới đi được. Ghềnh là một mom đá lớn chìa ra choán lòng sông, tạo dòng nước xiết. Khi ngược, phải dùng dây kéo thuyền vượt qua là xong. Khi xuôi dòng, qua thác hay còn gọi là trổ thác rất nguy hiểm, còn ghềnh chỉ việc thả là thuyền trôi theo dòng.
Vừa có nhà trên phố Bờ, vừa có tầu lớn dưới sông, gia đình ông Thông ở lại phố Bờ khi huyện và dân đã chuyển đi nơi khác. Ở lại thì phải làm nhà lên cao hơn dù mới chỉ là chuyển vén theo cốt nước. Một xóm mới hình thành trên khu đồi khu huyện ủy cũ. Do bất cẩn, một người đốt nương đã làm cháy toàn bộ xóm mới này. Sau vụ hỏa hoạn, được Nhà nước hỗ trợ, các hộ này cũng chuyển về Tu Lý.
 
Về Tu Lý rồi, nhưng vợ chồng ông Thông vẫn tiếp tục làm bạn với sóng nước sông Đà bằng con thuyền lớn của gia đình. Hành trình tầu của ông thường từ Cảng Bích Hạ đến Sơn La. Cứ theo sông, hết chợ này đến chợ khác. Tầu của ông không khác gì một siêu thị thu nhỏ. Mãi cho đến năm 1995, ông bà quyết định bán tầu để mua đất và làm nhà ở phường Đồng Tiến, Tp. Hòa Bình. Có bằng lái tầu thủy nội địa, nên ở thành phố rồi, ông Lê Văn Thông tiếp tục đi lái tầu thuê trên hồ thủy điện Hòa Bình cho đến năm 2003 mới nghỉ hẳn.
Gặp người sưu tầm ảnh cũ, hỏi chuyện người xưa về sông nước Chợ Bờ, hai ông bà tha hồ nhớ, tha hồ kể. Thỉnh thoảng ông Thông lại xuýt xoa: Sao mà vợ chồng mình dại thế nhỉ? Chở không biết bao nhiêu người ra chụp ảnh ở thác Bờ, thế mà mình chẳng có cái ảnh nào? Rồi ông trầm giọng, mà nghĩ câu: “của hưng - hưng hóa, của bờ - bờ tan” có lẽ đúng chú ạ!
Tôi chưa có dịp hỏi kỹ ông bà, sao lại thế? Nhưng tôi muốn sửa chỉ hai chữ cái để câu “tổng kết” ấy thành: “Của hưng - hưng tỏa, của bờ - bờ lan”. Bằng chứng là Bờ xưa của chúng ta không chìm, không tan mà đang lan tỏa!
                                                                                                      2021
 
CHUYỆN VỀ CHỦ HIỆU ẢNH DUY NHẤT
CỦA BỜ XƯA
 
Nói đến ảnh Chợ Bờ, thác Bờ xưa, những ai biết đều nhắc ngay đến cụ Tài chụp ảnh. Cả vùng Chợ Bờ xưa cho đến khi nước ngập, chỉ có một hiệu ảnh duy nhất của cụ Tài. Cụ Tài tên thật của cụ là Vũ Duy Bổng, sinh 1933, quê gốc ở Phú Thọ, nhưng gia đình định cư ở Chợ Bờ từ rất sớm. Trước năm 1950, Vũ Duy Bổng được bố mẹ cho xuống thị xã Hòa Bình học nghề tại hiệu ảnh Đỗ Lệnh Tín. Thành nghề, Vũ Duy Bổng về mở cửa hiệu và là hiệu ảnh đầu tiên tại vùng Chợ Bờ từ những năm 1950.
thacbo002
Làm nghề chụp ảnh, không những tiếp xúc mà còn phải sửa sang cổ áo, mái tóc, chỉnh vị trí … cho khách mà trong đó rất nhiều các cô gái trẻ, nên Vũ Duy Bổng có phần mạnh bạo và “kinh nghiệm” tán gái hơn nhiều anh con trai cùng thời. Có nhẽ vậy nên chỉ một thời gian ngắn, Bổng đã rõ danh tính của bóng hồng mới xuất hiện tại Chợ Bờ.
Thấp thoáng trước cửa nhà xuất hiện bóng dáng một người con gái trẻ trung, ưa nhìn. Trịnh Thu Phương, cô gái trẻ từ vùng chiêm trũng Chợ Cháy, huyện Ứng Hòa, Hà Đông lên Chợ Bờ ở và chăm nom chị gái sinh con. “Trai Chợ Bờ -Gái Chợ Cháy” đó là câu văn hoa Vũ Duy Bổng vừa vui vừa thật mỗi khi gặp Trịnh Thu Phương. Chợ Cháy tiếng là đồng bằng, nhưng là vùng chiêm trũng, người dân quanh năm lam lũ, đi lại cũng chẳng dễ dàng gì. Chợ Bờ là miền núi nhưng trên bến dưới thuyền, thác Bờ tuyệt đẹp, hai lần người Pháp đã chọn nơi đây làm tỉnh lỵ, giờ lại là nơi huyện lỵ Mai Đà đứng chân … đã làm Trịnh Thu Phương hết sức ngỡ ngàng. Lời hay, ý đẹp của chủ hiệu ảnh Vũ Duy Bổng lại như rót mật nên chẳng mấy chốc họ đã thành cặp đôi. Năm 1961, đám cưới của Vũ Duy Bổng và Trịnh Thu Phương tổ chức thật vui tươi, ấm áp tại phố núi Chợ Bờ.
Xây dựng gia đình rồi sinh con, ông Bổng tiếp tục nghề ảnh, bà Phương tham gia hợp tác xã thủ công đan cót để gia đình được ăn gạo sổ. Như trên đã nói, cả khu vực Chợ Bờ, cả huyện Đà Bắc khi đó chỉ có một mình ông Bổng làm nghề chụp, rửa ảnh nên công việc rất nhiều, thậm chí làm không xuể. Thường thì ngày chụp ảnh, đêm về khi cả nhà đã ngon giấc, ông Bổng lại lọ mọ làm ảnh. Nếu chỉ làm ảnh tại chỗ còn đỡ, đằng này ông lại thường xuyên được/bị huyện trưng tập đi chụp ảnh các nơi.
Trước khi huyện lỵ Đà Bắc chuyển về xã Tu Lý nay là thị trấn Đà Bắc thì cả huyện không có lấy một mét đường nhựa. Cán bộ, nhân dân hay ai cũng vậy, xuống xã chủ yếu đi bộ, đi hết ngày này sang ngày khác, hết xã này sang xã khác. Mỗi khi xuống cơ sở chụp ảnh, ông Bổng được cán bộ xã bố trí ăn, ở tại một gia đình tương đối trung tâm. Rất quý, rất ngưỡng mộ thợ ảnh nên địa phương và gia chủ bố trí để ông ăn riêng và không phải ăn độn. Biết điều này, ông Bổng không nhất trí và khăng khăng đòi “có gì ăn nấy” cùng gia chủ. Nhờ thế mà cán bộ từ huyện, xã và nhiều người dân biết và quý mến ông thợ chụp ảnh Vũ Duy Bổng – ông Tài.
Khoảng giữa năm 2016, với ý tưởng sưu tầm hình ảnh Chợ Bờ, thác Bờ xưa, người đầu tiên tôi tìm đến là cụ Tài (xin cứ gọi cụ Tài như dân thường gọi). Buồn thay, tiếc thay, cụ Tài đã mất năm 2013. Lại càng buồn khi cụ Tài mất thì cũng mất luôn cả rất nhiều ảnh cụ chụp, bảo quản và mang từ Chợ Bờ về. Hơn nữa, những câu chuyện về Chợ Bờ, về chụp ảnh … cũng theo cụ mà đi. Cụ bà Trịnh Thu Phương luôn nói: “Ông nhà tôi có mấy quyển ảnh, để tôi bảo các cháu nó tìm”. Nhưng rồi, tôi không kiếm được tấm ảnh nào từ gia đình cụ.
Đúng là cuộc tìm về Bờ xưa càng ngày càng thú vị. Trong khi tìm ảnh, tôi luôn nhận được sự quan tâm của một cô giáo vùng cao của huyện Đà Bắc. Cô giới thiệu tôi tìm đến các địa chỉ có thể có ảnh Bờ xưa. Tìm tại phố huyện, tìm cả vùng cao mà theo cô, người dân còn giữ được ảnh chụp tại Chợ Bờ. Thế rồi, từ cô, qua cô đã góp vào bộ sưu tập ảnh Bờ xưa một số ảnh đẹp. Và đến khi tập sách ảnh “Bờ xưa” ra đời, tôi mới ngạc nhiên mà thốt lên, cô giáo ấy là Vũ Thị Sinh - con áp út của cụ Tài.
Nghĩ và biết cụ Tài chụp ảnh là một trong những con người cần viết và có thể viết về Bờ xưa, tôi lại kiên trì trở lại thị trấn Đà Bắc. Những lần sau tôi vào thì cụ bà cũng vừa quy tiên. Tiếp tôi là các con của cụ và câu chuyện vẫn chỉ xoay quanh Bờ xưa. Gần đây nhất, đầu tháng 11/2021, tôi vào tìm tư liệu để viết về cụ Tài. Thật tình cờ tôi gặp Vũ Thị Hiền - con gái thứ của cụ Tài. Hiền vui chuyện và nhớ rất nhiều chuyện của gia đình, của bố. Xin nói thêm, Hiền cư trú tại Tp.Hồ Chí Minh, ra chịu tang mẹ rồi kẹt lại Đà Bắc do dịch Covid – 19 đến nay. Vì thế nên tôi gặp Hiền.
 
Hiền kể: Những năm còn nhỏ, ở trên Chợ Bờ, em thường ngồi đan cót ở sân, ở hè nhà và chứng kiến bao người đến chụp ảnh và công việc làm ảnh của bố. Bà con, nhất là các cô gái dân tộc Mường, dân tộc Dao quanh vùng, mỗi phiên chợ Bờ, nhất là gần tết, họ chụp ảnh rất đông. Leo lên tới nhà em là họ tìm nước uống. Bố em để sẵn một rumine đầy nước ở sân mà bọn em cứ phải đổ thêm nước liên tục. Uống nước, nghỉ nhọc, rồi họ lấy gương, lược chải đầu, chỉnh trang quần áo và chụp ảnh. Tiếng Mường, tiếng Thái hòa với tiếng Dao vui lắm. Lại càng vui hơn với các tốp lấy ảnh. Nhìn ảnh mình đẹp, có khi má phấn môi son (ảnh mầu ngày đó tô trực tiếp vào ảnh), họ sung sướng, thẹn thùng, có khi cười ngặt mà đấm lưng nhau thùm thụp.
Một lần, có hai anh thanh niên đến nhờ bố em chụp cho kiểu ảnh họ biểu diễn võ thuật. Sân nhà không đủ chỗ biểu diễn, bố em đưa họ ra tìm bãi dây khoai lang trên đồi sau nhà. Có hiện trường rồi, bố bảo họ biểu diễn vài lần để chọn thế võ có thể chụp. Mãi rồi bố cũng chọn và bấm có đến gần 10 kiểu. Có lẽ thời gian kéo dài lại thêm phải biểu diễn võ thuật nhiều lần, nên khi chụp xong, hai thanh niên về nhà em lấy cơm nắm mang theo ra ăn. Ôi thôi không thấy nắm cơm đâu nữa. Tra hỏi mới hay, Vũ Đức Thọ, 11 tuổi (con cụ Tài) đã ăn “giúp” họ rồi. Bận ấy, Thọ bị ăn roi của bố.
Bố chụp ảnh tại nhà, chụp ảnh tại các xã và rất nhiều ảnh chụp tại thác Bờ. Không chỉ để trả cho khách, những bức ảnh đẹp, bố em thường in thêm và giữ lại. Thế là trong nhà càng ngày càng nhiều ảnh. Ngoài số ảnh đẹp chủ hiệu in thêm thì cũng có ảnh bà con vùng cao chụp rồi không hiểu vì lý do gì mà không thấy xuống lấy. Họ không lấy ảnh, đương nhiên bố phải bù lỗ. Số ảnh có ở trong nhà đôi khi lại là thứ mà các con được sử dụng (sử dụng vụng trộm). Ngày ấy tranh ảnh, sách báo rất hiếm, những bức ảnh đen trắng nhỏ như bao diêm rất được bọn trẻ ưa chuộng. Thế là chúng gã gẫm, nịnh nọt, thậm chí đe dọa chúng em phải lấy cho chúng. Chúng em có thể đổi thứ nọ, thứ kia, có thể chuộc lỗi … bằng những tấm ảnh là thế.
Khoảng từ mồng Bốn Tết trở ra là thời gian trai gái phố Bờ chụp ảnh. Bãi Cánh Chim dưới hạ lưu, thác Bờ, bến Thượng là các điểm chụp ảnh rất đẹp. Những ngày xuân, trời đẹp có khi bố em ở ngoài sông gần cả ngày. Người chụp, thợ chụp cùng mang bánh chưng, giò chả, bánh kẹo ra ăn Tết ngoài thác. Nghĩ lại sao mà nhớ và tiếc thế. Đúng là bao giờ cho tới ngày xưa!
Rồi gia đình cụ Tài theo huyện chuyển về Tu Lý, nay là thị trấn huyện Đà Bắc và tiếp tục chụp ảnh tại gia. Năm 1984, nhận được thông báo của cơ quan thuế về tăng mức thuế phải đóng. Cụ Tài đến báo cáo đề nghị xem xét với lý do vừa chuyển về nơi mới, ăn ở chưa ổn định, nhà những 11 con … rất khó khăn. Đáp lại đề nghị này, người lãnh đạo ngành thuế gay gắt: “Làm được thì làm, không làm được thì nghỉ”. Không thêm lời nào, cụ Tài về mang ngay giấy môn bài và các thủ tục liên quan đem trả cơ quan thuế.
Cũng giống như trên Chợ Bờ ngày xưa, Tu Lý cũng chỉ có một hiệu ảnh duy nhất – hiệu ảnh cụ Tài thì về Tu Lý cũng vẫn chỉ có cụ chụp ảnh. Người đông lên, nhu cầu chụp ảnh ngày càng tăng. Người từ vùng cao xuống; Hiền Lương, Vầy Nưa vào; Tu Lý, Hào Lý ra, thậm chí vài xã của Phú Thọ giáp Đà Bắc cũng chụp ảnh ở Tu Lý. Từ ngày Tu Lý không còn người chụp ảnh, bà con phải ra tận thị xã Hòa Bình, rất vất vả. Trước tình hình trên, lãnh đạo huyện, ông Đinh Duy Lập, ông Xa Tiến Đứng … đã động viên cụ Tài tiếp tục làm ảnh. Tuy nhiên với tính tự trọng cao, cụ Tài nghỉ luôn từ đó.
Năm 2022 là tròn 40 năm chuyển dân, chuyển huyện lỵ khỏi vùng ngập lòng hồ Thủy điện Hòa Bình (1982 – 2022). Tập sách ảnh thứ 2 và một tập sách gồm các bài viết về Bờ xưa của tôi chuẩn bị ra đời. Ảnh thì phần đa do cụ Tài – Vũ Duy Bổng chụp. Bài viết này là lời tri ân cụ Tài – Vũ Duy Bổng - tác giả của phần lớn những bức ảnh quý giá về Bờ xưa.
 
 
NHÌN ẢNH THẤY NGƯỜI
THẤY NGƯỜI NHỚ CHUYỆN
 
Một trong những kênh chứa đầy hy vọng về lưu giữ ảnh thác Bờ, phố Bờ xưa, tôi nghĩ đến những cựu cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân. Nhưng, những cán bộ chiến sỹ công an huyện Đà Bắc ngày ấy, có thể họ cũng như tôi rất hiếm ảnh. Tôi nghĩ đến các cựu cán bộ công an tỉnh Hòa Bình, Hà Sơn Bình, nhất là thế hệ trước tôi và đã từng ở lực lượng hình sự, kỹ thuật hình sự.
Muốn tìm họ, tôi phải mở lịch sử công an tỉnh Hòa Bình, rà lại các vụ việc xảy ra tại huyện Đà Bắc, tại khu vực Chợ Bờ trước đây. Mang chuyện này hỏi ông Vương Bốn nguyên là trinh sát hình sự thời Công an thị xã Hòa Bình rồi phòng Cảnh sát hình sự Công an Hà Sơn Bình một thời. Ông Vương Bốn nói như reo: Có đấy, khi xảy ra vụ cháy Cửa hàng Thương nghiệp huyện Đà Bắc, chúng tôi lên khám nghiệm hiện trường, có chụp ảnh thác Bờ, để tôi tìm xem.
Với bao hy vọng vì gặp được người thật, việc thật. Nhất là ông Vương Bốn vốn là người nhớ lâu và lưu giữ tư liệu cũng vào loại cẩn thận. Trong tâm thế háo hức mong đợi, cứ vài hôm tôi lại vào nhà hoặc điện thoại hỏi ông. Thế rồi cũng đến lúc ông tìu nghìu mà rằng, lạ nhỉ, anh nhớ là có ảnh mà bây giờ tìm không ra … Vài hôm sau, ông điện cho tôi và bảo tôi tìm hỏi ông Hải Sơn, ông Hòa (Hòa Lù) … cùng tổ làm án với ông hồi ấy xem họ có giữ ảnh?
Đều là chỗ quen biết. Nhà ông Hải vợ là Sơn lại ngay gần Hội Văn học nghệ thuật nơi tôi làm việc nên vài ngày tôi lại xuống nhà. Lúc đầu thì ý tứ, sau cứ nhìn thấy ông Hải hoặc bà Sơn là tôi hỏi ngay, ảnh thác Bờ của em đâu?
Rồi ông Nguyễn Văn Hòa, trước khi nghỉ hưu ông là Trưởng phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình. Đã là phòng kỹ thuật hình sự thì cái máy ảnh bao giờ và ở đâu cũng gắn với các ông. Cả ông Vương Bốn, Hải Sơn, Nguyễn Văn Hòa đều nhớ sau khi khám nghiệm hiện trường vụ cháy Cửa hàng Thương nghiệp, các ông rủ nhau ra thác Bờ chụp ảnh kỷ niệm. Nhà “trồng được” nên về các ông rửa cho mỗi người đều có ảnh. Thế mà giờ chịu không tìm thấy ảnh nào!
Một hôm, tôi ra nhà thăm và tặng cuốn sách mới xuất bản cho vợ chồng ông bà Lạnh – Chi. Ông Bùi Văn Lạnh nguyên là Giám đốc Công an tỉnh Hòa Bình, thủ trưởng cũ của tôi. Không chỉ là một giám đốc Công an tỉnh mẫu mực, uy tín, ông Bùi Văn Lạnh còn rất quan tâm đến văn học nghệ thuật. Chính thời ông làm Giám đốc Công an tỉnh, tôi đã tham mưu và được ông quan tâm nên đã ra được các tập sách “Vì cuộc sống bình yên” dày những hơn 300 trang với nhiều bài viết sâu về lực lượng Công an Hòa Bình dưới góc độ văn học, nghệ thuật.
Một điểm nhấn không chỉ của Công an tỉnh mà còn là kỷ niệm của riêng ông đối với tôi, với văn học nghệ thuật là cuộc vận động sáng tác ca khúc về an ninh Hòa Bình. Clip ghi hình buổi trình diễn, báo cáo những ca khúc sáng tác khi ấy rất ấn tượng, hiện tôi còn giữ. Thỉnh thoảng xem lại chương trình lại nghĩ, sao ngày ấy chúng tôi lại làm được việc này?
“Nắng giao thoa” xuất bản năm 2000 là tập thơ đầu tay của tôi. Khi đó ông Bùi Văn Lạnh đang làm Phó Giám đốc CA tỉnh. Đọc kỹ tập bản thảo, ông đã viết: “Tập thơ ra đời là niềm phấn khởi đánh dấu sự cố gắng, kết quả và trưởng thành không chỉ riêng tác giả mà là vinh dự cho toàn thể cán bộ chiến sỹ Công an tỉnh Hòa Bình. Tác phẩm giúp bạn đọc hiểu thêm tư tưởng, tình cảm, tâm hồn người chiến sỹ công an nhân dân, không chỉ thể hiện sự vững mạnh của công cụ chuyên chính mà còn tràn đầy lạc quan, lãng mạn cách mạng, yêu thiên nhiên, yêu con người và tính nhân văn cao cả”.
 
Mang chuyện đi tìm ảnh Bờ xưa, tôi nói với ông bà Lạnh – Chi. Ông Lạnh cho hay “Tôi nhớ là tôi có ảnh chụp ở thác Bờ, để từ từ tôi tìm”. Rồi vài hôm sau, ông Lạnh điện hỏi: Chú (LV) có ở Hội không, anh tìm thấy ảnh rồi, anh mang lên cho chú! Thật đúng là mừng như mẹ về chợ, không để ông Lạnh mang lên, tôi xuống ngay nhà ông.
Trước hết phải nói là 3 tấm ảnh ông Bùi Văn Lạnh giữ được đều chụp ở thác Bờ, phố Bờ và cỡ ảnh lớn hơn đa số các bức tôi đã có. Ngành Công an có bộ phận làm chứng minh nhân dân nên ông Lạnh đã cho ép lại ảnh ngay nên chất lượng ảnh còn rất tốt. Trong ba tấm ảnh ông Lạnh lưu giữ thì một tấm ông chụp một mình, hai tấm ông chụp với cả đoàn công tác của Công an tỉnh Hà Sơn Bình. Ông nói đây là giai đoạn chuẩn bị lấp sông Đà, nên các ông muốn lưu lại kỷ niệm với thác Bờ.
Như tiêu đề bài viết “Nhìn ảnh thấy người, thấy người nhớ chuyện”. Ông Bùi Văn Lạnh thì tôi thường gặp nên không phải nhận ra nữa. Chuyện về ông thì rất nhiều. Rất kính và rất yêu. Nhưng những người trong hai tấm ảnh chụp chung, có người tôi phải lần trí nhớ mới nhận ra. Và mỗi người tôi đều có kỷ niệm riêng với họ.
thacbo005
Trong bức ảnh chụp chung ở thác Bờ, người đứng ngoài cùng bên phải là chị Triệu Thị Quyết, người dân tộc Dao, cán bộ Công an huyện Đà Bắc, người có nhà riêng duy nhất thời Công an huyện ở Chợ bờ. Gia đình chị có chiếc xe đạp thống nhất nam với biển đăng ký bốn số 9 (9999) độc đắc ngày đó. Chính chiếc xe đạp 4 con chín này đã giúp tôi từ phố Bờ lên Hào Tráng “cưa” cô giáo Yến - vợ tôi bây giờ. Phải nói là công của gia đình chị Quyết đối với tôi là rất lớn.
Người ngồi giữa tấm ảnh chụp chung ấy là ông Bàn Văn Liềm, ông cũng là người Dao và khi ấy là Phó trưởng Công an huyện Đà Bắc phụ trách cảnh sát. Từ đây, những chuyện vui, buồn thuở ấy lần lượt được tái hiện. Chuyện con ba ba cắn chân chó; chuyện người cõng gạch từ phố huyện về vùng cao; chuyện một cái tát như trời giáng của ông phó Công an huyện dành cho chú lính tập sự …                                 
BỜ XƯA KHÔNG XƯA
Mạch Bờ xưa mỗi ngày lại đưa đến cho người sưu tầm, nghiên cứu những gặp gỡ xưa, trước mà mang đến cảm xúc tươi ròng. Mỗi lần nói với nhau, kể cho nhau nghe về Bờ xưa lại có những tiếp cận và lĩnh hội mới từ hình ảnh, hiện vật, chứng tích về nó mỗi ngày mỗi dầy thêm và sâu hơn. Câu chuyện sau đây của cụ Đinh Công Tích, người Mường xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, hiện đang định cư tại Cao nguyên Di Linh, tỉnh Lâm Đồng là một minh chứng.
Người viết bài này quen biết gia đình cụ Đinh Công Tích từ những năm 70 của thế kỷ XX, khi cụ Đinh Công Tích mới vào tuổi 40, khi hồ thủy điện Hòa Bình còn nằm trên giấy, trong hồ sơ thiết kế của Công trình thủy điện trên sông Đà. Nay, Nhà máy Thủy điện đã có trên 30 năm phát điện, còn cụ Tích cũng đã trên 80 tuổi.
Trước đây, Chợ Bờ thuộc địa phận xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc (sau mới chuyển về xã Vầy Nưa). Từ huyện lỵ huyện Đà Bắc dọc theo quốc lộ 6A, chỉ vài km là đến địa phận xã Hào Tráng. Tuy nhiên, trong vài km ấy đã có ngay 2 đoạn cua tun hút mang tên Hút Gió. Vẫn chỉ con đường men bờ sông Đà, đứng đầu mỏm bên này có thể nói chuyện với đầu mỏm bên kia, nhưng đi bộ hết một cua Hút Gió theo sườn núi cũng phải mất đến nửa giờ đồng hồ.
Thời nước chưa ngập, huyện Đà Bắc chỉ có xã Thung Nai và xã Hào Tráng có quốc lộ 6A chạy qua, với chiều dài khoảng 30 km. Từ Thung Nai, qua bến phà Bờ, phố Bờ là đến địa phận xã Hào Tráng. Đi hết xã Hào Tráng đến bến phà Suối Rút thì sang huyện Mai Châu. Do vừa có sông Đà, có đường quốc lộ chạy qua, lại nhiều ruộng cấy hai vụ lúa … nên khi đó, xã Hào Tráng thực sự là hậu phương của các cơ quan huyện Đà Bắc. Lương thực, thực phẩm, những nhu cầu thiết yếu, khi đột xuất cần, thì huyện đều ới Hào Tráng.
Sinh ra tại miền núi trù phú, sơn thủy hữu tình ấy, rồi nhiều lần xa quê và đến khi chạy nước lại phải bốc cả gia đình cùng bà con vượt cả ngàn cây số vào Long An, sau chốt lại cao nguyên Di Linh … nỗi nhớ quê hương trong ông Đinh Công Tích không chút ngừng nghỉ. Nhất là mỗi khi có ai nhắc đến Hào Tráng, chợ Bờ, thác Bờ. Thế nên khi gặp hình ảnh, bài viết về Bờ xưa trên mạng, ông đã vượt không gian xa xôi, qua công nghệ thông tin để rồi chia sẻ:
Từ năm 1947, 1948, chú bé Tích đã phải theo bố mẹ chạy vào rừng rồi tản cư vào vùng căn cứ cách mạng Tú Lương tránh Pháp. Cụ Đinh Công Niên (thân phụ ông Đinh Công Tích) vừa chăm lo cho gia đình, cụ Đinh Công Niên, cán bộ tiền khởi nghĩa (thân phụ ông Đinh Công Tích) vừa tham gia hoạt động cách mạng. Sau chiến dịch Hòa Bình giành thắng lợi, cụ mới đưa gia đình trở về Hào Tráng.
Cuộc sống mới mở ra, hợp tác xã ra đời, anh thanh niên Đinh Công Tích sôi nổi tham gia công tác địa phương. Từ bí thư Đoàn xã năm 1958, đến xã đội trưởng năm 1963 và đầu 1965, anh tòng quân lên đường đánh Mỹ. Sau thời gian huấn luyện tân binh tại Trường Quân chính Quân khu Ba, Đinh Công Tích về công tác tại Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Hòa Bình (thời đó gọi là Tỉnh đội). Năm 1965, Đinh Công Tích được điều về Huyện đội huyện Đà Bắc.
Đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Đường 6A khi đó là một trong những trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ hòng ngăn chặn đường hành quân và vận chuyển vũ khí từ miền Bắc qua Lào vào Tây Nguyên của ta. Các cơ quan huyện cùng nhân dân phố Bờ và xã Hào Tráng lại phải sơ tán vào rừng.
Một lần, ngay từ sớm, từng tốp F105 của không quân Mỹ quần đảo vùng trời Tây Bắc. Chúng ném bom hai bến phà Bờ và phà Suối Rút mà xã Hào Tráng lại nằm gọn trong cung đường này. Do sơ xuất, một đám khói từ xóm Lụm bay lên, một chiếc F105 vòng lại, chúng bắn rốc két dữ dội làm Hạt Giao thông bốc cháy, đồng chí Kỳ chiến sỹ quân bưu bị thương gãy chân. Chỉ huy huyện đội cử Đinh Công Tích và Xa Đức Quanh bằng mọi giá đưa thương binh xuống bến phà Bờ (còn gọi là bến Bưởi) để về thị xã Hòa Bình cứu chữa.
thacbo003
Về bến Bưởi tức là phải qua thác Bờ. Việc tìm thuyền và tìm được chủ thuyền có thể vượt thác Bờ là không dễ. Ngay Đinh Công Tích nhà bên sông Đà nhưng cũng chưa một lần xuôi thác Bờ. Xa Đức Quanh là người vùng cao Giáp Đắt lại càng không biết sông nước. Sau hồi suy nghĩ, Đinh Công Tích nhớ ra ông Bùi Văn Vợi, người Thái Bình lên xây dựng kinh tế mới ở xóm Kiến Bình, thạo sông nước và từng trổ bè xuôi thác. (Cụ Bùi Văn Vỡi là Phó Chủ tịch xã Hào Tráng. Cụ thân sinh ra ông Bùi Văn Yêm, Bùi Văn Vang, Bùi Thị Nguyệt, Bùi Thị Bốn, Bùi Thị Bính và Bùi Văn Thắng …).
Tìm được ông Bùi Văn Vỡi, Tích và Quanh cáng chiến sỹ Kỳ ra bờ sông đưa lên thuyền. Trên trời, máy bay Mỹ ì ầm. Thuyền đưa thương binh cố bí mật bám bờ để tránh máy bay phát hiện. Đây cũng là lần đầu tiên Tích và Quanh biết thế nào là trổ thác. Bộ đội không ngại súng đạn, nhưng ngồi trên thuyền nhỏ vật vã tránh lao phải đá, nhiều khi các anh cũng nín thở, nhắm mắt cho đỡ sợ. Với tay lái điệu nghệ, ông Vỡi đã đưa thuyền cập bến phà Bờ. Người bị thương được bàn giao cho đơn vị bộ đội an toàn. Cụ Vỡi quay thuyền đưa Tích và Quanh ngược Hào Tráng. Khi xuôi phải vất tránh đá, bẻ mái chèo, chống, đẩy thuyền vất vả bao nhiêu thì khi ngược lại phải vừa chèo vừa dùng dây kéo thuyền ngược dòng vất vả bấy nhiêu. Thuyền về đến Hào Tráng thì đã 6 giờ tối.
Tháng 8/1968, ông Đinh Công Tích về D59 huấn luyện rồi vào Kon Tum và chiến đấu tại chiến trường Đăk Tô – Tân Cảnh (B3). Tháng 2/1972, Đinh Công Tích nhận quyết định Đại đội phó thuộc Sư đoàn 312 và tham gia chiến dịch Quảng Trị. Đây là lần thứ 2 vào chiến trường miền Nam của ông Đinh Công Tích.
Chuyện làm cụ Đinh Công Tích chủ động liên hệ với tôi (LV) chính là đây. Trước khi vào Nam chiến đấu lần thứ 2, bốn anh em ông Đinh Công Tích, Đinh Công Tân, Đinh Công Ích và Đinh Thị Oanh (ông Tích cho biết, do gấp nên các ông chỉ tập hợp được có 4 anh em) đi bộ 5 cây số từ Hào Tráng xuống phố Bờ chụp ảnh tại hiệu ảnh của ông Tài (Vũ Duy Bổng). Chụp xong, ông Tích lên đường chứ không kịp chờ lấy ảnh. Sau này, gia đình gửi ảnh cho ông. Những tấm ảnh quý giá ấy đã theo ông Tích vào chiến trường.
Năm 1973, ông Đinh Công Tích ra Bắc học trường Quân chính. Năm 1974, ông được điều về Huyện đội Đà Bắc làm cán sự. Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1976, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông Tích xin phục viên khi đã có 12 năm, 8 tháng trong quân ngũ, trong đó có 2 lần vào Nam chiến đấu. Về phục viên, ông Đinh Công Tích tiếp tục tham gia công tác địa phương.
Công trình Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà – Công trình thế kỷ của thế kỷ XX được xây dựng. Hào Tráng quê ông Đinh Công Tích nằm trọn vẹn trong vùng ngập của hồ thủy điện. Phần lớn dân Hào Tráng chuyển về khu đất của Trường TNLĐXHCN Hòa Bình ở Tu Lý và thành lập xã Hào Lý. Sau nhiều lần chuyển vén cũng như tìm nơi mới, ông Đinh Công Tích cùng một số gia đình vào tận vùng nước nổi Long An. Bao đời gắn bó với rừng núi nay đến vùng nước nổi nên vô cùng khó khăn.
Năm 1993, từ Long An, ông Tích cùng đa số bà con tìm đến Cao nguyên Di Linh và trụ lại xây dựng quê hương thứ hai tại xã Hòa Nam từ đó cho đến nay. Dù đi đâu, vào chiến trường miền Nam chiến đấu, xuống vùng nước nổi Long An hay ngược cao nguyên Di Linh của Tây Nguyên nắng gió, ông Đinh Công Tích cũng mang theo và giữ rất cẩn thận những tấm ảnh chụp tại phố Bờ. Nay, những tấm ảnh ấy lại được bổ sung vào tập sách ảnh “Bờ xưa 2”, kịp ra mắt dịp kỷ niệm 40 năm chuyển dân, chuyển cơ quan huyện Đà Bắc nhường chỗ cho hồ Thủy điện Hòa Bình (1982 – 2022).

thacbo004
                          
 BỜ XƯA - VUI BUỒN MỘT THUỞ
 
Thời chưa đắp đập thủy điện, phố Bờ thanh bình lắm. Dân cư chưa đông. Xe máy chỉ có vài chiếc honda 67. Các cơ quan huyện chủ yếu đóng trên taluy dương (phía tay phải tính từ bến phà Bờ lên). Có thể nói, đặc sản của tiếng động thời đó ở phố Bờ chính là tiếng réo của thác Bờ và tiếng ô tô Đoàn 2 và Đoàn 20 chạy qua tung bụi mù khắp phố. Bù vào sự vắng vẻ ấy là cán bộ các cơ quan đa số ở tập thể, ăn tập thể, sinh hoạt tập thể và gần gũi với các gia đình ở Phố Bờ.        
Công an huyện Đà Bắc thời đó có 39 cán bộ. Tuy nhiên chỉ có một người có nhà riêng cạnh cơ quan là chị Triệu Thị Quyết (mẹ của đồng chí Bàn Kim Quy, Phó chủ tịch UBND huyện Đà Bắc hiện nay). Còn lại tất cả từ lãnh đạo trưởng phó Công an huyện đến chiến sỹ tập sự đều ở luôn cơ quan. Năm 1976, tỉnh Hòa Bình sáp nhập với tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình. Tháng 10 năm 1977, bốn anh em Minh, Nha, Va, Thú là những cán bộ đầu tiên được điều từ miền xuôi lên nhận công tác tại Công an huyện miền núi Đà Bắc. Trước đó cả đơn vị chỉ có một người Kinh là bà Phạm Thị Tâm quê Thái Bình làm cấp dưỡng. Bà Tâm có một mẹ, một cô con gái và cũng ở luôn cơ quan.
Ở tập thể, đơn vị đa số là thanh niên, là lính trẻ. Thời bao cấp, lương thực, thực phẩm rất khan hiếm và phải xếp hàng mua bằng tem phiếu. Công an huyện đông quân lại ăn ở tập trung nên thường được giới thiệu đến các xã Hào Tráng, Vầy Nưa để tự liên hệ mua lợn về mổ. Bộ lòng thì ăn bữa tươi, thịt lợn ướp muối, mỡ rán để ăn dần. Ngoài tiêu chuẩn được phân phối, thi thoảng anh em đơn vị góp tiền mua thêm thực phẩm bên ngoài. Những dịp cán bộ chiến sỹ đi công tác các xã về, cơ quan đông đủ rất vui, song cũng nảy sinh những chuyện mà đến nay nhớ lại vẫn chưa hết buồn.
Tôi xin kể mấy kỷ niệm vui buồn thời đó:
  1. Ba ba nuốt chân chó
Thời ấy, ở phố Bờ bán rất nhiều cá, cá to, ngon do những thuyền câu, thuyền chài, đánh cụp, đánh rọ ở sông Đà, nhất là khu vực thác Bờ kiếm được. Cụ Thà nhà trước cửa Công an huyện là một trong những tay sát cá có tiếng. Kiếm được con cá to, cụ thường gọi bán cho các cơ quan. Một hôm, Công an huyện mua một con ba ba rất to của cụ Thà. Đám thanh niên trẻ chúng tôi xúm lại xem mấy bác lớn tuổi hơn làm thịt con ba ba. Nhà bếp nuôi mấy chú chó rất khôn. Thấy người xúm vào bếp, mấy chú cũng quẩn chân người, đuổi không chịu ra.
Trong lúc chờ rượu để cắt tiết con ba ba, chàng Lò Văn Đúm người Đoàn Kết (vừa mới đi xã về hôm trước) cầm ngay chân con chó vàng dúi vào miệng con ba ba. Lập tức con ba ba cắn chặt bàn chân con chó và thụt đầu vào. Vừa đau, vừa bất ngờ, con chó hốt hoảng kêu váng lên và chạy khắp vườn. Càng động con ba ba càng cắn chặt chân chó quyết không chịu nhả. Cả cơ quan được một trận cười no nê. Rồi một người hô, gõ thùng, gõ thùng cho nó nhả ra. Mấy tay lính trẻ liền đứa vung xoong, đứa bát sắt gõ rinh lên tạo một dàn âm thanh loạn xạ mà chẳng ăn thua. Ba ba lì lợm, chịu quăng quật và trung thành với cái chân chó. Mãi sau, ông Hà Văn Tùn trưởng CA huyện mới cầm đoạn nứa khô đang cháy đốt vào đít con ba ba, lúc đó con chó mới được giải thoát. Cho đến tận cả tháng sau, chúng tôi không thấy con chó vàng bén mảng xuống bếp nữa.
  1. Gói quà Tết độc nhất vô nhị
Cho tận đến khi huyện lỵ Đà Bắc từ Chợ Bờ chuyển về Tu Lý thì cả huyện không có nổi một mét đường nhựa. Tiếng là quốc lộ 6 chạy qua gần 20 km (từ Thung Nai qua phà Bờ, chạy dọc xã Hào Tráng đến phà Suối Rút là sang đất Mai Châu) nhưng cũng chỉ là đường cấp phối mà thôi. Một trăm phần trăm cán bộ đi xã công tác hay cán bộ cơ sở lên huyện, người dân đi chợ … đều đi bộ. Gần thì cố một ngày cho đến. Xa thì tối đâu, nghỉ đấy mai đi tiếp. Đi lại khó khăn cộng với đời sống vất vả nên không ít cán bộ nhất là người vùng cao bỏ cơ quan về nhà.
Huyện Đà Bắc chia làm 3 vùng, trong đó vùng cao gồm 7 xã vùng Đức Nhàn cũ là: Đồng Nghê, Suối Nánh, Mường Tuổng, Đồng Chum, Mường Chiềng, Giáp Đắt và Tân Pheo. Mỗi khi có dịp qua nhà, những cán bộ vùng cao lại không muốn xuống. Thời ấy cũng không có cách gì để gọi họ, nên đơn vị chỉ có biết chờ thôi. Nhất là dịp Tết Nguyên đán, thường thì đến tận tháng Ba, cán bộ vùng cao mới quay trở lại đơn vị. Lúc họ chưa về cơ quan thì lãnh đạo rất bực, nhưng khi họ xuống thì lại chỉ biết thăm hỏi, động viên mà thôi. Chính trong một dịp về Tết như thế, tại Công an huyện chúng tôi xảy ra một chuyện cười ra nước mắt.
Năm ấy, mãi tới giữa tháng Ba, ông LVT người Giáp Đắt mới “hết phép” Tết và trở về đơn vị. Vốn là người béo ụi ịch, giọng nói khó nghe, mặt lại hay nhăn nhó … nên những lúc vui, anh em hay trêu đùa ông. Hôm ấy, vừa về đến cơ quan, ông Toàn chửi um cả lên. Lúc đầu mọi người tưởng ông đùa, nhưng sau thấy mặt ông lúc đỏ gay, lúc lại gần như tím tái nên ai cũng ái ngại mà không rõ có chuyện gì. Đợi ông T trấn tĩnh, ông Hà Văn Tùn (cùng là người Tày) mới lựa lời hỏi han sự tình. Hóa ra …
Trong năm, trước khi về nghỉ Tết, cũng như tất cả cán bộ vùng cao, ông T mua sắm nào mứt, nào chè, thuốc lá và những thứ trên quê ông không có. Được thứ nào, ông gói ghém cẩn thận và xếp gọn vào ba lô con cóc để hôm sau bắt đầu cho một hành trình đi bộ về Giáp Đắt quê ông. Non chiều ngày thứ ba, ông về đến nhà. Cả nhà mừng ông về và đón lấy ba lô từ vai đi xa. Việc này đã trở thành thường xuyên mỗi khi ông về nhà chứ không chỉ ngày Tết.
Sau khi nghỉ, đỡ mệt, ông T lấy các gói hàng tết ông mang về chọn ra, thứ thì dùng ngay, thứ để dành, thứ chia cho con cháu … Và ông ngờ ngợ trước một gói vuông gói rất cẩn thận bằng giấy báo. Cầm lên thấy nặng tay mà ông chưa nghĩ ra là gói gì. Khi xé mấy lớp giấy báo ra thì hỡi ôi, đó là một nửa hòn gạch nung. Vậy là, trong khi ông chuẩn bị về Tết, đứa quỷ nào trong cơ quan đã quá nghịch mà gói “món quà” đặc biệt này rồi bí mật nhét vào gần đáy ba lô của ông. Hôm sau, một cuộc họp cơ quan để rút kinh nghiệm sâu sắc việc này. Cánh lính trẻ chúng tôi vừa sợ, vừa thương ông mà lại không nhịn được cười. Cứ nghĩ đến đi bộ đường xa, cái khăn vắt vai còn nặng huống chi cả nửa hòn gạch nung. Đúng là một trò nghịch quái quỷ.
  1. Bài học nhớ đời
Công an huyện Đà Bắc thời còn trên Chợ Bờ thì một trăm phần trăm là nhà tranh tre, mái lợp gianh hoặc lá cọ. Nơi tạm giữ đối tượng là một nhà kê nhỏ bằng gỗ, chia làm 4 ngăn, khóa ngoài và đặt ngay cạnh nhà ở, làm việc của cán bộ. Lần ấy, Công an huyện bắt một vụ trộm. Đối tượng bị tạm giữ tên là Khởi người Chương Mỹ. Được một hôm thì tên Khởi cạy ván vách trốn ra. Khi phát hiện không còn tên Khởi trong nhà tạm giữ, ông Đặng Văn Liềm, người Dao và là Phó trưởng Công an huyện phụ trách cảnh sát huy động cả cơ quan chia quân truy lùng.
Đang lúc nước sôi lửa bỏng, cậu tập sự HĐD người Lương Sơn đứng giữa sân, trước mặt ông Phó trưởng Công an huyện Đặng Văn Liềm và hỏi cứ như không: “Bác ơi, thế lúc nó trốn nó có chào bác không?”. Quá bực, quá bất ngờ, ông Liềm tiện tay cho HĐD một cái tát lệch mặt. Đối tượng thì trốn thoát. Phó huyện và chiến sỹ đều bị  kiểm điểm. Sự việc sau đó cũng rắc rối một thời gian. Thật đúng là không cái dại nào giống cái dại nào. Một câu đùa không thể chấp nhận trong một hoàn cảnh đặc thù như thế.
Trụ sở huyện chuyển về Tu Lý một thời gian thì HĐD xin ra quân. Nghe nói sau này cũng làm đến chức chủ tịch một xã và rồi cũng vướng vòng lao lý do liên quan đến đất đai ở địa phương!
(Còn nữa)
 
 
                       
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 8
Trong ngày: 89
Trong tuần: 895
Lượt truy cập: 162639
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388
- Ban Biên tập: (Email: vanphutho25@gmail.com)
- Phó trưởng Ban: Nhà văn ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG - 0912 383 207
- Nhà văn, nhà báo: NGUYỄN XUÂN HÙNG - 0912 184 021  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
 
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ NGUYỄN NGỌC TUNG - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- QĐ thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24/9/2025.
- QĐ lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11/10/2025.