Lê Va
THEO CÂU THƠ
TÌM NGAI ĐÁ VÀ MỸ NHÂN XƯA
Hồ Thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà chạy dài từ Tp. Hoà Bình lên tới chân đập Thuỷ điện Sơn La. Với chiều dài theo sông Đà dâng nước có tới trên 200km. Trên những con tầu du lịch mỗi ngày mỗi hiện đại, du khách thoả sức ngắm cảnh sông núi hữu tình. Mọi người thi nhau chụp ảnh. Chỉ vài phút sau, những cảnh đẹp mê hồn đã hiện diện trên mạng xã hội và bay tới muôn nơi. Nhưng, những cảnh đẹp mê hồn ấy mới chỉ là phần nổi của hồ mà ai đến đây cũng thấy. Du khách sẽ vô cùng ngạc nhiên khi biết dưới hàng trăm mét nước nơi đáy hồ, đang chứa đựng một kỳ quan thiên nhiên nổi tiếng: Thác Bờ! Và đặc biệt hấp dẫn, nếu du khách bắt gặp những hình ảnh xưa cũ của thác Bờ, phố Bờ nay đang chìm sâu dưới hàng trăm mét nước!
Sông Đà được mệnh danh là con sông hung dữ nhưng vô cùng đẹp bởi “trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh” nơi miền Tây Bắc của Tổ quốc. Trong trăm bảy mươi thác, trăm ba mơi ghềnh ấy, thì thác Bờ hung dữ nhất, đẹp nhất.
Có mặt tại chính nơi đây từ 43 năm trước (1977) để nhận công tác tại Công an huyện Đà Bắc đóng tại Chợ Bờ, cánh lính trẻ chúng tôi từ đồng bằng lên đã bao lần ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của thác Bờ và rồi có không ít kỷ niệm vui, buồn cùng nó. Chiến dịch chuyển dân, chuyển huyện khỏi vùng ngập lòng hồ sông Đà đã bốc đi tất cả cơ quan, nhà dân. Và những gì để lại, dần chìm ngập dưới hồ nước sâu. Cuộc mưu sinh nhiều lúc cuốn chúng tôi vào quên lãng, quên lãng vẻ đẹp lộng lẫy của thác Bờ kể cả lúc đang ngồi trên tầu du lịch lướt ngay trên thác Bờ. Thế rồi những năm gần đây, nhất là từ khi tỉnh Hoà Bình quy hoạch vùng hồ Thuỷ điện là Khu du lịch cấp quốc gia, các dòng vốn đang đổ về kiến tạo và hàng loạt sản phẩm du lịch vùng hồ đã và đang xuất hiện, tôi chợt nghĩ đến sưu tập ảnh thác Bờ, chợ Bờ...
Nói đến thác, người ta thường hình dung ra một dòng nước đổ từ trên cao xuống cùng tiếng réo và bọt trắng như mây. Thác Bờ thì không thế. Thác Bờ là một quần thể đá khổng lồ lô xô giữa đoạn rộng và quành của sông Đà đoạn chảy qua khu Chợ Bờ, xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình. Một bên sông là dãy núi đá vôi dựng đứng. Một bên là thị trấn huyện Đà Bắc với phố Bờ duyên dáng, chợ Bờ sầm uất, mỏm đá Vua Lê Lợi tạc thơ uy nghiêm, các cơ quan huyện Đà Bắc đứng chân...xa hơn nữa là nơi hai lần đặt tỉnh lỵ tỉnh Bờ tiền thân của tỉnh Hoà Bình dưới thời thuộc Pháp. Và tôi quyết tâm tìm kiếm hình ảnh thác Bờ, chợ Bờ may ra còn lưu giữ đó đây!
Thác Bờ đẹp nhất hòn Ngai
Phố Bờ đẹp nhất cô Mai bán hàng
Neo vào câu thơ này, tôi tìm hòn Ngai trong quần thể đá thác Bờ. Đến đâu, gặp ai là người đã từng ở phố Bờ xưa hoặc có liên quan đến nơi này, tôi đều gợi chuyện và hỏi xem họ có còn giữ, hay biết ai còn giữ được chiếc ảnh nào về thác Bờ. Thế rồi một hôm, tôi nhận được điện báo, tại nhà ông Lê Tùng ở thị trấn Đà Bắc có ảnh hòn Ngai của thác Bờ. Tôi mừng quýnh phi vào. Tại vị trí trang trọng trong phòng khách nhà ông Tùng là tấm ảnh hòn Ngai phóng lớn. Qua câu chuyện mới biết, ảnh này ông Tùng tách và phóng ra từ ảnh gốc của bố vợ là người Tày ở Tân Pheo, cách huyện lỵ gần 70km. Ông phóng to ra làm năm ảnh, đóng khung gửi biếu những nơi cần. Như thế, chỉ một ứng xử của ông Tùng đã thấy ngay sự trân trọng, nhớ, tiếc cảnh đẹp thác Bờ. Điều này càng làm tôi tăng nhiệt huyết trong việc khẩn trương sưu tầm ảnh thác Bờ xưa.

Lại nói hòn Ngai. Đây là một hòn đá lớn có hình thù giống như chiếc ngai vua trong quần thể đá thác Bờ. Những ai đã từng ra thác Bờ chụp ảnh đều cố chụp lấy hình ảnh trong đó có hòn Ngai. Và tấm ảnh ông Tùng nhận từ bố vợ cũng là câu chuyện đáng nói.
Năm 1972, khi đang là cán bộ Công an huyện Đà Bắc, ông Xa Văn Dong được điều động cho An ninh miền Nam. Trước khi lên đường Nam tiến, ông rủ bạn thân Nguyễn Đắc Tơ cũng là cán bộ Công an huyện ra thác Bờ chụp ảnh kỷ niệm. Rồi tấm ảnh được ông mang theo vào Nam chiến đấu. Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, ông Dong trở lại quê hương Hoà Bình và tấm ảnh kỷ niệm ngày chia tay ấy lại theo ông về Bắc, về miền núi Đà Bắc quê ông. Rồi 47 năm sau (2019), khi đã ngoài bảy mươi tuổi, ông lấy tấm ảnh ra gửi xuống phố huyện nhờ con rể là Lê Tùng phóng giúp. Là người sinh ra ở phố Bờ, nhìn thấy hình ảnh hòn Ngai, ông Tùng xúc động đến lặng người. Và một ý tưởng nảy ra trong đầu, một mặt phóng ảnh giúp bố vợ, một mặt lấy riêng hòn Ngai, phóng to ra để treo và tặng Đền Bờ trên hồ Hoà Bình. Theo đề nghị của tôi, ông Tùng đã cho tôi chụp lại ảnh gốc. Đây là tấm ảnh đầu tiên tôi sưu tầm được có hình ảnh hòn Ngai. Và câu thơ: “Thác Bờ đẹp nhất hòn Ngai” đã có chỗ neo đậu!
Phố Bờ đẹp nhất cô Mai bán hàng
Phải nói rằng con gái Hoà Bình đẹp, con gái phố Bờ ngày tôi đặt chân lên Chợ Bờ càng đẹp. Những buổi chiều đẹp trời, dưới chân thác Bờ, trên bãi Cánh Chim như dải bờ biển thu nhỏ, thấp thoáng các cô gái phố Bờ mang quần áo ra sông giặt làm cho thác Bờ đã đẹp lại càng đẹp hơn. Mỗi khi các cô xuất hiện, cánh con trai chúng tôi lại bỏ cả hòn Ngai, hòn Cô Tiên...để đóng mắt vào các cô. Gái phố Bờ đẹp thế mà cô đẹp nhất lại là cô Mai! Thế là chúng tôi tìm hỏi mong tận mắt cô Mai, mới hay, cô đã không còn ở phố Bờ từ trước khi tôi có mặt nơi đây những bảy năm rồi. Thời gian cứ trôi. Nhắc lại chợ Bờ, phố Bờ, thác Bờ...những người trung tuổi lại nhắc lại câu thơ “Thác Bờ đẹp nhất hòn Ngai/Phố Bờ đẹp nhất cô Mai bán hàng” mà thôi. Nhưng khi đi tìm lại ảnh thác Bờ, có ảnh hòn Ngai rồi, tôi càng muốn có ảnh cô Mai để vế thứ hai của câu thơ cũng có chỗ neo đậu.
Một ngày cuối tuần, tôi tìm đến một số gia đình bà con người phố Bờ xưa đang ở Tp. Hoà Bình. Nhờ người chỉ đường đến nhà cụ Lê Văn Thông ở phường Đồng Tiến. Khi còn trên phố Bờ, gia đình cụ Thông làm nghề sông nước. Từ thuyền chèo tay đến thuyền gắn máy cole (gọi là máy đuôi tôm) rồi đến tầu hiện đại, máy lớn sau này. Kể cả khi chuyển gia đình về theo huyện, rồi ra Tp. Hoà Bình, cụ vẫn là một tay lái cừ khôi tiếp một thời gian dài. Gặp lại người quen cũ, hai ông bà ngoài tám mươi mừng luýnh quýnh. Chuyện đang vui, nhưng khi biết tôi đi tìm lại hình ảnh thác Bờ, cụ Thông buồn ra mặt. Cụ nói: Gia đình tôi bao năm sông nước là bấy nhiêu năm gắn bó với thác Bờ. Ngày ấy, tôi cũng chụp ảnh và chở rất nhiều người ra thác chụp ảnh mà giờ tôi không giữ được tấm nào. Mà nghĩ cũng buồn quá. Từ lúc biết thác Bờ rồi sẽ mất bởi chìm dưới hàng trăm mét nước, đến khi nó mất thật cũng phải gần chục năm. Thế mà mình không nghĩ ra để chụp mà giữ lại nhỉ. Tiếc quá! Vâng, đúng là tiếc quá. Và thế nên cháu cố đi tìm bác ơi!
Trong tâm trạng buồn vì không lưu giữ được tấm ảnh nào của thác Bờ, chợ Bờ, hai ông bà tiễn tôi ra ngõ. Đi nửa ngõ, ông Thông à lên, anh vào đây, nhà này cũng từ trên phố Bờ về đây... Cánh cổng sắt nhỏ mở ra. Bên khu vườn xanh, gọn là căn nhà xây cấp 4 từ những năm 1980, hai vợ chồng già bầu bạn. Cụ ông là Nguyễn Đắc Tái sinh 1939, quê Thạch Thất – Hà Nội. Năm 1958, ông Tái lên huyện Đà Bắc công tác Cửa hàng Thương nghiệp tại Chợ Bờ. Năm 1976, ông tăng cường cho ngành Thương nghiệp vào Tây Nguyên. Năm 1981, ông trở lại Hoà Bình công tác và nghỉ hưu năm 1989. Cũng như vợ chồng cụ Thông, ông Tái cũng rất tiếc không giữ được ảnh nào của thác Bờ, phố Bờ. Mãi tới khi tôi đứng lên chào ra về, cụ bà vợ ông Tái mới sực nhớ: À, tôi còn cái ảnh này, nhưng không phải thác Bờ. Nói rồi bà đi vào buồng. Cầm tấm ảnh nhỏ hơn bao diêm đi ra, cụ bà tỏ vẻ ngại ngùng rồi nói: Thác Bờ đẹp nhất hòn Ngai/Phố Bờ đẹp nhất cô Mai bán hàng. Đây, cô Mai đây! Tôi quýnh lên, Trời, bà là cô Mai, cô Mai đây rồi!

Nguyễn Thị Mai quê Quảng Xương, Thanh Hoá. Năm 1959, chưa tròn 17 tuổi, Mai đi thanh niên xung phong mở con đường 12B qua Kim Bôi, Hoà Bình. Năm 1960, Mai được cử đi học ngành Thương nghiệp rồi được điều lên công tác tại Cửa hàng Thương nghiệp Đà Bắc ngay bên thác Bờ. Vào tuổi 18 mang vẻ đẹp rực rỡ lại là nhân viên bán hàng thương nghiệp nên “cái giá” của cô Mai càng cao. Mai cũng không biết ai là người nghĩ ra hai câu thơ trên. Cô chỉ biết hồi đó, đám thanh niên đi qua cửa hàng thường nói to hai câu thơ ấy như một khúc đồng dao. Nhiều khi cô chưa kịp nhìn mặt thì người đọc hai câu thơ ấy đã đi qua rồi. Lúc đầu cũng xấu hổ xen chút hãnh diện. Sau quen dần cũng thấy bình thường. Và thực ra, cô Mai cũng chỉ ở chợ Bờ có hơn 10 năm, năm 1971, Mai được chuyển về thị xã Hoà Bình. Còn về tấm ảnh, bà Mai kể: Ngày ấy cả phố Bờ, thực ra là cả huyện Đà Bắc chỉ có một hiệu chụp ảnh của nhà ông Tài. Tấm ảnh này, tôi chụp tại hiệu ảnh nhà ông ấy nên không có cảnh gì. Năm ông nhà tôi tăng cường vào Tây Nguyên, ông ấy mang theo, rồi tôi giữ lại đến nay, có thể ông nhà tôi cũng không nhớ. Khi anh hỏi ảnh thác Bờ thì đúng là nhà tôi không có thật. Giờ nhớ đến cái ảnh này cho anh xem mà tôi thấy ngại! Tôi trả lời hai ông bà là tôi đang mơ ước tìm được ảnh cô Mai, giờ mơ ước thành sự thật. Đúng, ảnh cô Mai không có cảnh thác Bờ, nhưng nó đã hoá thân vào thác Bờ bằng câu thơ mà giờ đây, hơn 60 năm sau và khi thác Bờ chìm ngập trên 40 năm rồi, nó còn lưu truyền trong nhân gian. Có hình ảnh cô Mai bên hình ảnh hòn Ngai và giới thiệu cho du khách bằng câu thơ “Thác Bờ đẹp nhất hòn Ngai/Phố Bờ đẹp nhất cô Mai bán hàng” thì thú vị biết bao!
Vĩ thanh
Khi tôi ngồi gõ những dòng này thì Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Đà Bắc lần thứ XXV nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã kết thúc đúng 10 ngày. Và trong những ngày qua, tôi nhận được tình cảm, sự quý mến của cán bộ, Nhân dân các dân tộc huyện Đà Bắc qua điện thoại, mạng xã hội và lời chuyển qua người... Vì, cuốn sách ảnh “Bờ xưa” gồm 6 bài viết cùng trên 70 bức ảnh về thác Bờ, phố Bờ... khi chưa ngập dưới đáy hồ đã được Huyện uỷ Đà Bắc lấy làm quà tặng cho gần 300 đại biểu dự đại hội. Theo đó, những hình ảnh, những kỷ niệm về huyện Đà Bắc xưa (huyện có số xã, số dân đông nhất và cả huyện lỵ phải chuyển khỏi vùng ngập lòng hồ phục vụ Công trình Thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà) được toả đến trước hết là các xóm, các xã trong huyện. Nhiều người xa quê do chuyển khỏi vùng hồ vào tận Tây Nguyên biết tin cũng điện ra mong muốn có cuốn “Bờ xưa”. Điều này khiến tôi rất vui và hạnh phúc. Trong gần 4 năm tìm kiếm, với rất nhiều câu chuyện, mỗi tấm ảnh là một câu chuyện thú vị. Tôi sẽ dành thời gian để ghi lại. Cảm ơn cuộc đời đã cho tôi có những năm tháng công tác tại huyện Đà Bắc để được ngắm thác Bờ, phố Bờ, đền Bờ, bài thơ khắc đá của Vua Lê Lợi...để rồi hơn 40 năm sau, tôi đi tìm và có ý giữ lại cho hiện tại và mai sau. Để sửa phần nào cái dại ngày xưa ấy đã không có tấm ảnh nào cùng chụp với Thác Bờ!

TÌM VỀ BỜ XƯA
GẶP GIA ĐÌNH NGƯỜI LÁI ĐÒ NĂM ẤY
Cụ là Đào Văn Thực mà người phố Bờ quen gọi theo tên người con trai cả Đào Văn Thà là cụ Thà. Năm 1958, vào tuổi 40, cụ Thực đưa gia đình từ Hoài Đức lên Chợ Bờ. Một thời gian dài, hai vợ chồng cụ với 4 người con, ba trai, một gái sống trên nhà bè dưới chân dốc Chủa, đối diện với phố Bờ. Vừa kiếm cá, cụ vừa chở đò ngang đưa đón bà con từ phía Ngòi Hoa, Thung Nai đi chợ Bờ. Đầu những năm 1970, gia đình cụ mới chuyển lên phố Bờ và làm nhà bên thác.
Vào giữa những năm 60 của thế kỷ XX, phố Bờ thành lập tổ hợp tác thì gia đình cụ tham gia tổ Ngư nghiệp và làm tổ trưởng (đánh bắt cá sông Đà) bán nghĩa vụ cho nhà nước và được mua gạo theo sổ. Năm 1966, do bạo bệnh, người vợ thân yêu của cụ qua đời. Vượt lên nỗi đau, người đàn ông mới ngoài 40 tuổi ở vậy “gà trống nuôi con”. Sức vóc trung niên cùng 3 con trai Thà, Thành, Thanh đang vào tuổi lớn, gia đình cụ luôn hoàn thành vượt mức nghĩa vụ cân cá cho nhà nước. Không những thế, mùa nước to, bốn bố con cụ lại tất tả vớt gỗ, củi trôi từ thượng nguồn về tự nguyện đo bán cho Công ty Lâm sản theo giá nghĩa vụ (ngoài chỉ tiêu).
Khi còn ở Chợ Bờ (trước 1982), chúng tôi đã biết cụ Đào Văn Thực (cụ Thà) với tài thả cụp, đánh chài bắt cá trên sông Đà, nhất là khu vực thác Bờ. Các cơ quan huyện Đà Bắc cũng thường mua cá của cụ về cải thiện. Mỗi khi xuống bãi sông ngắm cảnh hay tắm mát tại bến Hạ, chúng tôi thường gặp và hỏi chuyện cụ. Rồi huyện lỵ chuyển về Tu Lý, nay là thị trấn huyện Đà Bắc, nhà cụ lại gần cơ quan Công an huyện, nên tôi lại gặp cụ trong các buổi họp triển khai công tác an ninh và các phong trào quần chúng khác …
Khi nghĩ ra việc sưu tầm tư liệu để làm cuốn Bờ xưa, tôi nhớ ngay đến cụ thì vô cùng tiếc vì cụ đã không còn trên thế gian này. Cũng như nhiều người dân phố Bờ trước đây, vợ chồng ông Thành, bà Vẻ là con trai và con dâu cụ Đào Văn Thực rất nhiệt tình cùng tôi tìm lại ảnh cũ, người xưa để giới thiệu vùng Bờ xưa với hiện tại và hậu thế. Tuy thế, cũng phải hàng năm trời, ra vào gặp gỡ nhiều lần, tôi mới được mục sở thị những bằng chứng về việc cụ Đào Văn Thực và các con cứu rất nhiều người và tài sản không may bị nạn tại thác Bờ. Xin đơn cử:
Cụ Nguyễn Ngọc Liêu, sinh năm 1938, hiện ở phường Dân Chủ (trước đây là phường Chăm Mát) được bố con cụ Thực cứu sống trong một lần trổ thác không thành. Nguyễn Ngọc Liêu quê ở Hoàng Hóa – Thanh Hóa ra Hòa Bình làm cán bộ ngành Lâm nghiệp. Việc chính của Nguyễn Ngọc Liêu là y tá đơn vị. Với khí thế “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, y tá Liêu xung phong vào tổ bè xuôi sông. Thời kỳ này, máy bay Mỹ đánh phá ác liệt nên nhiều hoạt động phải diễn ra vào ban đêm, trong đó có cả việc xuôi bè. Thác Bờ với sự hung dữ của nó đến người thạo sông nước còn phải hết sức cẩn thận huống hồ những người như y tá Liêu.
Đang ở trên nhà bè nghe tiếng người kêu cứu lẫn trong tiếng nước réo, cụ Thực hô các con Thà và Thành dậy, xuống thuyền tiếp cận nơi nguy hiểm. Dưới ánh trăng suông, cụ Thực chèo thuyền bám mục tiêu và vớt được người đàn ông to, nặng nhưng đã bất tỉnh vì đuối nước. Sau khi làm hô hấp nhân tạo, bố con cụ đưa nạn nhân vào cấp cứu tại Bệnh viện tại Chợ Bờ. Được cứu sống, anh y tá Liêu chỉ nhớ mình cầm dao chặt dây nín để xuôi bè thì bị chính cái dây đó theo đà văng mà cuốn xuống dòng nước chảy mạnh.
Từ lần thoát chết ấy, Nguyễn Ngọc Liêu thường qua lại, thậm chí ăn ở nhà cụ Thực và coi cụ như người cha thứ hai của mình. Khi cụ Thực chuyển vào huyện mới, cụ Liêu thường xuyên qua lại thăm hỏi rất mực nghĩa tình. Cụ Đào Văn Thực qua đời, cụ Liêu xin được thắt khăn trắng và phục tang cụ. Năm nay đã vào tuổi 83, sức khỏe yếu nhiều, nhưng nhắc đến Chợ Bờ là cụ Liêu cứ rưng rưng nhớ cụ Đào Văn Thực và các con của cụ đã cứu sống mình hơn 50 năm trước.
Cũng trong năm 1967, vào một buổi trưa hè, đang mơ màng trong cái gió lồng lộng mặt sông, cụ Thực nghe tiếng kêu cứu thất thanh. Cụ bật dậy và hò các con ứng cứu. Gần đầu bãi Giữa, luồng Ngang, một người đàn ông mặt tái mét vừa ấp úng vừa chỉ xuống nước. Không chậm trễ, cụ Thực lao xuống dòng nước xoáy. Một cái đầu với mớ tóc vàng đang “giã gạo” trước mặt. Biết là người nước ngoài to, nặng nên cụ Thực hết sức thận trọng tóm người đuối nước và cùng các con đưa được nạn nhân vào bờ. Đó là một chuyên gia người Tiệp Khắc, nhân ngày nghỉ đi thăm thú thác Bờ. Thấy cảnh đẹp, nước trong, vị chuyên gia xuống tắm và không may bị nạn khi gặp xoáy nước. Người phiên dịch được một phen hết hồn. Họ nói với nhau những gì, bố con cụ Thực không biết. Sau lời cảm ơn của người phiên dịch, họ có gửi lại cụ Thực một số tiền, nhưng cụ cương quyết khước từ.
Sông nước thác Bờ hung dữ mà cũng vô cùng nên thơ và vô vàn tôm cá. Chính vùng sông nước ấy đã góp phần quan trọng cùng cụ Thực nuôi đàn con khôn lớn. Đã có hai em nhập ngũ nên Đào Văn Thà - con cả của cụ ở lại hậu phương tham gia công tác dân quân, công an địa phương. Vốn đã quen sông nước từ nhỏ cùng bố, từng cứu nhiều người và thuyền bè gặp nạn nên Đào Văn Thà dùng kinh nghiệm của mình sẵn sàng hỗ trợ, hoa tiêu để thuyền, bè chưa quen luồng lạch qua thác về xuôi. Người con thứ hai của cụ là Đào Văn Thành nhập ngũ năm 1968, qua nhiều chiến trường và không ít lần bị thương. Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 1976, thương binh Đào Văn Thành chuyển ngành công tác tại Huyện ủy Đà Bắc cho tới khi nghỉ hưu với cương vị Phó Ban tổ chức Huyện ủy. Người con trai thứ ba của cụ là Đào Văn Thanh, nhập ngũ năm 1970 và hy sinh tại mặt trận Đức Phổ, Quảng Ngãi năm 1972, đến nay chưa tìm thấy hài cốt; cô con gái út Đào Thị Minh là giáo viên nay cũng đã nghỉ hưu.
Bà Phạm Thị Vẻ, nguyên Hiệu phó Trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện Đà Bắc và là vợ ông Đào Văn Thành nâng niu từng tờ giấy khen không còn nguyên vẹn của bố chồng và anh chồng trong rưng rưng cảm xúc. Giấy khen của Cục Vận chuyển, Phân phối khen cụ Thực dũng cảm bảo vệ tài sản của nhà nước và tính mạng của nhân dân; Giấy khen của Ủy ban hành chính tỉnh Hòa Bình về thành tích của cụ Thực trong phong trào thi đua 4 năm chống Mỹ cứu nước; Giấy khen của UBND huyện Đà Bắc khen cụ Thực trong 6 tháng đầu năm 1967 đã cứu sống được 3 người bị đuối nước; Giấy khen của UBND huyện Đà Bắc khen gia đình cụ Thực hoàn thành chỉ tiêu cá và góp phần giữ gìn an ninh đường sông; Giấy khen của các cấp khen ông Đào Văn Thà (con cả cụ Thực) về thành tích cứu người và thành tích làm cầu phao bến Bưởi … và còn nhiều lắm giấy khen của các cấp tặng cho bố con cụ Thực kể cả khi còn ở Chợ Bờ và khi đã về thị trấn huyện Đà Bắc hiện nay. Qua những phần thưởng đồng thời là những tư liệu quý giá này, chúng tôi biết thêm về Chợ Bờ, phố Bờ, nhất là tại bến Bưởi (bến phà sau này) đã từng có cầu phao qua sông. Từ đây, chúng ta sẽ hướng sự tìm kiếm vào con người, công trình, sự kiện được nhắc tới nhằm làm phong phú hơn tư liệu về địa danh đặc biệt – Bờ xưa!
Một gia đình có công cứu được nhiều người, tài sản của Nhà nước và Nhân dân. Một gia đình tiễn đưa những người con trai ra trận, để rồi hiến dâng một liệt sỹ, đón về một thương binh vì nền độc lập tự do của đất nước. Một gia đình anh dũng trong thời chiến, nhất mực gương mẫu trong công cuộc kiến thiết, dựng xây thời bình và được bà con tin yêu mến mộ… đó là gia đình cụ Đào Văn Thực. Các thế hệ con cháu luôn tự hào và phát huy truyền thống gia đình bởi người cha, người ông, người cụ … Đào Văn Thực (cụ Thà) - người lái đò điệu nghệ cả với nghĩa đen và nghĩa bóng nơi thác Bờ năm xưa. Dưới suối vàng cụ Đào Văn Thực và ông Đào Văn Thà hẳn sẽ mỉm cười mỗi khi dõi về cháu con nơi dương thế!
CỤ CHU - BẾN PHÀ
Có thể nói, những bước chân đầu tiên của tôi đặt lên đất miền núi cao Đà Bắc là Bến phà Chợ Bờ hay thường gọi Bến phà Bờ; người Đà Bắc đầu tiên mà tôi gặp chính là những công nhân Bến phà Bờ, trong đó có cụ Chu là Bến phó. Thế mà đến nay, sau 45 năm (1977 – 2022), tôi mới có dịp tìm hiểu kỹ hơn để viết về cụ - người trọn đời gắn bó với ngành Giao thông tỉnh Hòa Bình, với Bến phà Chợ Bờ.
Cụ là Hoàng Khắc Chu, sinh năm 1921, tại xã Mỹ Xã, nay là phường Mỹ Xã, Tp.Nam Định. Năm 1943 – 1945, cụ làm công nhân tại Sở Lục lộ Nam Định. Cách mạng Tháng 8 thành công, từ năm 1945-1950, cụ làm liên lạc ở Ty Công chính Nam Định, sau là Ty Giao thông Nam Định. Năm 1951, rời quê hương Nam Định, cụ lên công tác tại tỉnh miền núi Hòa Bình. Từ năm 1951-1957, cụ là cán bộ Ty Giao thông Hòa Bình.
Trong chiến dịch Hòa Bình và những năm chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc (từ ngày 14/10 – 10/12/1952), cụ là cán bộ Ty Giao thông Hòa Bình và chuyên làm giao liên dẫn đường cho dân công tải lương từ Ỷ Na (Nho Quan) lên kho Mãn Đức, huyện Tân Lạc. Ban ngày giặc Pháp lùng sục gắt gao nên dân công nghỉ lấy sức. Đến đêm cụ lại dẫn đường cho dân công… cứ như vậy đến khi đánh thắng giặc Pháp tháng 5/1954. Từ tháng 6/1954, cụ về công tác tại Ty Giao thông Hòa Bình.
Năm 1958, cụ Hoàng Khắc Chu được điều động lên làm công nhân Bến phà Chợ Bờ, xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc. Một kỷ niệm mà khi sinh thời, cụ Chu thường kể cho con cháu và mọi người, đó là vào đầu tháng 5/1959, Bác Hồ lên thăm Khu tự trị Thái – Mèo (Tây Bắc). Khi đó đã có phà Chợ Bờ, phà Suối Rút, tuy nhiên ca nô và phà đều còn rất nhỏ và yếu. Những khi nước sông Đà chảy mạnh, phải dùng hai ca nô đẩy phà và mỗi chuyến cũng chỉ chở được một xe ô tô.
Nhiệm vụ cấp trên giao là phải chuẩn bị ca nô, phà thật tốt và phục vụ thật an toàn cho chuyến công tác đặc biệt của Chính phủ. Cụ Chu cùng toàn đơn vị kiểm tra, sửa chữa máy nổ, xà lan và chạy thử nhiều lần cho thật chắc chắn. Tiếp sau, lại có lệnh phải rào phà, đảm bảo bí mật cho ô tô và người trên ô tô. Thế là các ông lại phải huy động nhau lên rừng chặt nứa tép quây kín phà. Chiếc xe ô tô xuống phà cũng bịt kín, nên ngay cả công nhân bến phà cũng không biết trên xe chở ai. Chỉ sau đó ít ngày (khi chuyến công tác đặc biệt của Chính phủ hoàn thành), họ mới biết là đã chở Hồ Chủ tịch qua sông nên ai nấy đều bàng hoàng và ngẩn ngơ tiếc nuối.
Những năm hòa bình mới lập lại, miền Tây Bắc còn không ít phức tạp bởi bọn phản động luôn tìm cơ hội ngóc đầu dậy chống phá cách mạng. Có vùng đã xảy ra xưng đón vua hoặc xuất hiện phỉ … Chính thế, chuyến công tác đầu tiên của Bác Hồ lên Khu tự trị Thái – Mèo phải hết sức bí mật. Có lẽ vì thế mà đến nay, chúng ta không có hình ảnh nào về chuyến công tác này, nhất là khi Bác Hồ qua bến phà Chợ Bờ, Suối Rút. Đó là điều đáng tiếc.
Do tích cực phấn đấu và thành tích nổi bật phục vụ đợt công tác đặc biệt của Bác Hồ nên ngày 03 tháng 02 năm 1960, cụ Hoàng Khắc Chu đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1965, cụ Hoàng Khắc Chu được cấp trên tin tưởng bổ nhiệm làm Bến Phó Bến phà Chợ Bờ. Trong những năm chiến tranh, 2 lần giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, Bến phà Chợ Bờ là một trong những mục tiêu máy bay Mỹ bắn phá ác liệt nhằm cắt đứt đường giao thông từ Hà Nội đi các tỉnh vùng Tây Bắc và sang nước bạn Lào. Do tính chất quan trọng của tuyến giao thông nên Bến phà Chợ Bờ lúc này thuộc quản lý của Quân đội.
Đặc biệt là giai đoạn làm cầu phao qua sông. Tất cả chỉ bằng bương, tre kết thành từng nhịp. Ban ngày tháo từng nhịp đẩy vào giấu ở ven bờ. Đêm xuống dùng ca nô kéo ra, ghép lại thành cầu phao. Vất vả nhất là gặp lũ, mà lại là lũ về ban đêm thì càng khổ và nguy hiểm. Phà hay cầu phao cũng vậy. Ban đêm ca nô lai dắt phà hay từng nhịp cầu ghép lại, đưa xe ô tô chở hàng hóa qua sông Đà để ngược xuôi Hà Nội, Hòa Bình đi các tỉnh Tây Bắc và ngược lại. Ban ngày phải đẩy vào suối Cầu Cẩm thuộc xóm Cánh Gà, xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc giấu, tránh máy bay giặc Mỹ bắn phá.
Vừa làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo bến phà, cụ Hoàng Khắc Chu nổi tiếng là người gương mẫu, liêm khiết. Vợ yếu, con đông, nhưng ông đã không tơ hào của công dù chỉ là lít dầu, cân gạo. Ngay cả khi lái xe từ Tây Bắc qua phà, có ý định cho con cụ nải chuối, chục xoài cũng không dễ.
Năm 1966, máy bay địch đánh phá dữ dội, cụ Hoàng Khắc Chu được giao kiêm chỉ huy cả bến phà và cầu phao Suối Rút cách bến phà Bờ trên chục cây số. Thế là không khác con thoi, cứ xe đạp, cụ ngược xuôi hai nơi. Một lần, máy bay Mỹ bắn rốc két và ném một thùng xăng xuống đúng cổng ngõ, ngay chỗ cụ bà bán quán. Hoàng Thị Lâm, con gái cụ (sau là cán bộ Huyện ủy Đà Bắc) bị thương. Hiện nay còn hai mảnh đạn nhỏ găm trong đầu.
Một vinh dự rất lớn không chỉ đối với Bến phà Chợ Bờ mà là của cả ngành Giao thông tỉnh Hòa Bình. Tháng 9/1966, Bến phà Chợ Bờ vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Trong thành tích lớn lao ấy, có phần đóng góp quý báu của Bến phó Hoàng Khắc Chu.
Nhắc đến cụ Chu, không ít người còn nhớ những kỷ niệm về cụ. Ông Đinh Tiến Thanh, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Hào Lý kể: Trong một lần từ đơn vị bộ đội về phép, ông đi nhờ ô tô tải từ Thị xã Hòa Bình lên đến phà Bờ thì trời tối, sông Đà nước lũ to, không thể nào qua được. Ông Thanh gọi đò. Mặc trời tối nước chảy dữ, cụ Chu vẫn chèo đò từ bên kia sông sang đón. Khi cập bến ông nói, nước sông lên to lại chảy mạnh quá, nhưng nếu không sang, anh lại phải ngủ ở bờ sông (ngày ấy bờ sông không có nhà dân). Nghe cụ Chu nói vậy, ông Thanh cảm động vô cùng. Đúng là cụ Chu mang trái tim của một con người biết thương người. Sang sông rồi ông Thanh còn đi bộ 4 cây số nữa về nhà (Hào Tráng) trong đêm. Tuy vậy, ông rất vui và hưng phấn trước lòng tốt của cụ Hoàng Khắc Chu.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, phát hiện máy bay cháy, phi công nhảy dù xuống khu vực rừng núi xóm Săng. Cụ Hoàng Khắc Chu chỉ huy công nhân bến phà cùng lực lượng bộ đội, dân quân và nhân dân xuyên rừng vây bắt. Không ngờ đó lại là máy bay của ta. Người phi công tên Mỹ bị thương nặng gãy cả hai tay. Với tinh thần khẩn trương, anh Mỹ được võng xuống núi đưa về Bến phà Chợ Bờ để lên xe xuôi Hà Nội.
Không còn khả năng lái máy bay, sau này anh Mỹ chuyển công tác sang ngành bảo hiểm Hà Nội. Những năm đầu huyện lỵ Đà Bắc chuyển về Tu Lý, giao thông đi lại rất khó khăn, đường xấu, dốc cao vô cùng nguy hiểm. Hẳn nhiều người còn nhớ vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra tại dốc Láo làm nhiều người thương vong. Chính ông Hoàng Khắc Hoạch (con trai cụ Hoàng Khắc Chu) đã về Hà Nội tìm gặp ông Mỹ (người phi công nhảy dù và bị thương nặng năm xưa) và được ông Mỹ khẩn trương giúp đỡ về thủ tục, chế độ bảo hiểm cho vụ tai nạn nêu trên.
Sau gần 40 năm công tác, năm 1981, cụ Hoàng Khắc Chu nghỉ hưu. Tuy nghỉ hưu nhưng cụ vẫn được tin tưởng giao làm cố vấn cho Ban lãnh đạo của Bến phà Chợ Bờ. Nhất là giai đoạn này, Bến phà có nhiệm vụ phục vụ xe chuyển dân, chuyển cơ quan huyện ra khỏi vùng ngập lòng hồ Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà.
Năm 1984, hai vợ chồng cụ Hoàng Khắc Chu chuyển về sinh sống tại Tp.Nam Định quê hương. Năm 1986, cụ bà bệnh trọng nên qua đời. Năm sau (1987) cụ Hoàng Khắc Chu lại ngược Hòa Bình, vào Tu Lý sống những năm cuối đời cùng con cháu. Tháng 4/2012, cụ Hoàng Khắc Chu tạ thế, hưởng thọ 92 tuổi. Năm người con của cụ đều công tác tại các cơ quan huyện Đà Bắc và nay cũng đã nghỉ hưu. Với cống hiến của mình, cụ Hoàng Khắc Chu được tặng Huân Chương Kháng chiến hạng Nhất và Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.
Đời thường, cụ Hoàng Khắc Chu là người hiền lành, chất phác, đức độ, vô tư … nên được mọi người tin yêu, kính trọng.
12/2021
(Còn nữa)