THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

BỜ XƯA - BIA LÊ LỢI

Lê Va

BIA LÊ LỢI 
Địa danh Bờ xưa có những điều độc đáo. Độc đáo không chỉ ở bản nguyên của nó mà còn độc đáo ở sự khác biệt và thân phận chìm nổi theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từng di tích. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin nói về Bia Lê Lợi.
Một quần thể đá khổng lồ lô xô từ bờ đến choán cả lòng sông tạo vẻ đẹp kỳ vĩ và ta gọi thác Bờ. Cách gọi thác Bờ không phải không có những băn khoăn và đâu đó còn tranh luận. Một nguồn nước từ trên cao đổ xuống mới gọi là thác. Còn nguồn nước bị cản lại do đá nổi lên ở giữa dòng thì gọi là ghềnh.
Như vậy, quần thể đá khổng lồ nổi choán giữa dòng sông Đà đoạn ở chợ Bờ thì phải gọi là ghềnh Bờ mới đúng. Khi tôi xuất bản tập sách ảnh “Bờ xưa” thì cũng đã có người trao đổi lại về cách gọi này. Tuy nhiên, không biết từ bao giờ, con người đã gọi là thác Bờ. Cách gọi này không chỉ qua lời nói mà nó đã đi vào bao áng văn chương, sách vở và trở thành quen thuộc. Có mấy ai gọi ghềnh Bờ?
Cũng chính trong quần thể đá khổng lồ tạo nên thác Bờ thì có Bia Lê Lợi. Gọi Bia Lê Lợi là gọi tắt. Thực ra là phần đá có khắc bài thơ của vua Lê Lợi mới đủ và đúng. Có người nghĩ, bài thơ khắc trên vách đá phải là vách của một núi đá cao. Lại có người nghĩ bia Lê Lợi phải là một tấm bia rời, khắc thơ rồi dựng hay ốp vào đá … Đây cũng là sự khác biệt. Nếu không nói kỹ thì có người, ngay cả người ở Hòa Bình, người sinh ra khi Chợ Bờ chưa ngập chìm trong hồ nước mênh mông có khi còn nhầm lẫn, huống chi khách du lịch phương xa.
Quần thể đá nêu trên có hai phần. Phần dưới sông tạo thành thác Bờ. Phần trên bờ tạo thành bãi đá trên cạn cũng vô cùng đẹp. Ở đó cũng có hang, ngách và vô vàn mỏm đá, ngọn đá lô xô. Người ta đã chọn một trong những ngọn đá nhỏ, cao gấp đôi đầu người, đục đẽo tạo một mặt phẳng khoảng 1,5 x 1,0m rồi khắc bài thơ của vua Lê Lợi vào đó.
Thời gian vua Lê Lợi thân chinh đưa quân đi dẹp giặc loạn Đèo Cát Hãn và dừng chân ở Chợ Bờ (do tầu thuyền lớn không thể vượt thác) là năm Nhâm Tý (1432). Bài thơ của vua Lê Lợi được khắc ngay khi đó hay sau này mới khắc thì không có tài liệu nào ghi, ngay cả trên bia, dưới bài thơ cũng không có. Bài thơ như sau:
 
Dịch nghĩa:
Kỳ khu hiểm lộ bất từ nan
Lão ngã do tồn thiết thạch can
Hào khí tảo thanh thiên chướng vụ
Tráng tâm di tận vạn trùng san
Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tu kế cửu an
Hư đạo nguy than tam bách khúc
Như kim chỉ tác thuận lưu khan.
 
Dịch thơ:
Ngập ghềnh hiểm hóc chẳng từ nan
Già vẫn nguyên còn sắt đá gan
Hào khí nghìn mù đều sạch quét
Tráng tâm muôn núi cũng bằng san
Biên phòng tất khéo mưu phòng lược
Xã tắc nên trù kế cửu an
Ghềnh thác ba trăm lời cổ ngữ
Nhưng nay dòng thuận chỉ xuôi nhàn.
 
Công trình Nhà máy Thủy điện Hòa Bình trên sông Đà khởi công xây dựng. Toàn bộ huyện lỵ và hàng ngàn hộ dân của huyện Đà Bắc phải chuyển khỏi vùng ngập tạo nên hồ nước mênh mông, phục vụ cho việc phát điện của nhà máy. Nhận thấy, Bia Lê Lợi là một di tích lịch sử và văn hóa quan trọng, nên ngành Văn hóa đã quyết định đục, cắt phần ngọn đá khắc bài thơ của vua Lê Lợi chuyển về dựng tại sân Nhà văn hóa thị xã Hòa Bình.
 Trong quá trình điền dã sưu tầm ảnh Bờ xưa, tôi gặp được bức ảnh kèm theo câu chuyện thú vị liên quan đến Bia Lê Lợi. Trước khi nước ngập, một tốp thợ đá là những thanh niên trẻ từ Thanh Hóa được thuê ra cắt mỏm đá Bia Lê Lợi. Phương tiện thi công lúc này chủ yếu đục tay nên rất công phu và tốn thời gian. Chính thế, tốp thợ đá phải ở lại Chợ Bờ một thời gian.
screenshot_232 
    Phố Bờ thời đó đã thưa vắng do một số cơ quan và gia đình dân chuyển đi. Đôi vợ chồng trẻ Việt – Chiến làm ở Cửa hàng Lương thực huyện, đối diện với Bia Lê Lợi. Một ngày nghỉ, chị Chiến bế đứa con trai đầu lòng chưa đầy tuổi ra thác Bờ chơi và gặp đúng lúc ông Vũ Tài chủ hiệu ảnh duy nhất tại phố Bờ đang chụp ảnh cho khách. Thấy đứa trẻ bụ bẫm, đáng yêu, mấy chú thợ đá tha thiết xin chị Chiến cho họ được chụp kiểu ảnh cùng đứa trẻ. Thế là ông Vũ Tài bấm máy. Đứa trẻ ấy là Phạm Đức Vượng, năm nay đã vào tuổi 40.
Hồ Hòa Bình được quy hoạch khu du lịch cấp quốc gia. Các hạng mục trên hồ được đầu tư, xây dựng, trong đó có khu tâm linh tổng hợp có tên gọi “Thác Bờ Linh Từ”. Khu này thờ từ bà Chúa Thác đến Vua Lê Lợi. Thế là khối đá có bài thơ của vua Lê Lợi lại được chuyển từ Tp. Hòa Bình lên đồi Hang Thần, xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc. (Tôi sẽ có bài viết riêng về khu tâm linh này vào dịp thích hợp).
Như vậy, Bia Lê Lợi nguyên bản tại Chợ Bờ xưa vẫn còn và nay được chuyển về khu vực Chợ Bờ xưa – nơi nó phát tích.
 
NGHĨ BÊN TƯỢNG BÀ CHÚA THÁC BỜ
Tiếp cận hồ sơ xây dựng Khu đền thờ tại đỉnh đồi Hang Thần thuộc xã Vầy Nưa trên hồ Hoà Bình, thấy chỉ có hạng mục dựng tượng bà Chúa Thác Bờ người Mường Đinh Thị Vân, tôi đã nêu băn khoăn: Tại sao chúng ta chỉ dựng tượng bà Đinh Thị Vân mà không dựng tượng bà người Dao cùng bà Vân giúp Vua Lê Lợi trên đường dẹp giặc loạn Đèo Cát Hãn trên miền Tây Bắc, trong khi các tài liệu chính thống của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Hoà Bình hiện nay nhắc tới hai bà?
Từ đó, những băn khoăn về bà người Dao dần hé mở.
Từ bản Sưng đến hang Sưng chỉ chưa đầy 30 phút đi bộ trên con đường nhỏ xếp đá qua cánh rừng già thâm nghiêm. Đường xuống hang nay đã được xây bậc và có tay vịn chắc chắn. Hoà trong tiếng suối róc rách chảy xuyên lòng hang và tiếng lá rừng lao xao trên đầu là giọng già làng Lý Hồng Si vang vọng.
Ông kể: ''Ngày xưa, không nhớ rõ đời nào, nhà bà Hoàng Lan trong bản có ba cô con gái đẹp người, ngoan nết. Một hôm đẹp trời, ba cô con gái xin phép mẹ vào rừng hái hoa, bắt bướm. Chiều muộn mà không thấy các con về, linh tính điều không may xảy ra với các con, gia đình bà Hoàng Lan huy động dân bản đi tìm.
Tìm khắp rừng không thấy, họ tìm xuống hang. Hang sâu lại thông sang mé hướng xuống phía sông Đà, mà đoạn sông Đà ấy có thác Bờ nổi tiếng đẹp và hung dữ. Đêm đã sâu, mọi người mải đốt đuốc đi tìm ba cô gái. Bà Hoàng Lan ở lại khoang rộng của hang chờ tin con.
Mãi không thấy con về, bà đã hoá đá âu sầu, mòn mỏi ngồi đợi con đến nay. Từ đó hang Sưng được gọi theo tên bà - Hang Hoàng Lan. Lại có truyền thuyết, sau này, ba người con gái Dao bản Sưng "đi lạc" ấy đã trụ lại khu vực Chợ Bờ bên sông Đà và cùng người Mường nơi đây phò vua giúp nước. Nghe đến đây, tôi trộm liên tưởng đến sự khuyết thiếu về truyền thuyết bà Chúa thác Bờ…
Trong tài liệu về Đền Chúa Thác Bờ do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Hoà Bình phát hành có ghi: "Năm Nhâm Tý (1432), vua Lê Lợi dẫn quân theo sông Đà lên Tây Bắc dẹp giặc loạn Đèo Cát Hãn. Gặp phải thác Bờ hung dữ nên nhà vua dừng lại huy động quân lương và đóng thuyền vượt thác”.
Khi xưa, từ Kinh kỳ lên Tây Bắc chưa có đường bộ mà chủ yếu đi bằng đường thuỷ. Từ sông Hồng tới ngã ba sông tại Việt Trì, thuyền rẽ sang sông Đà và ngược lên Tây Bắc. Vặn mình giữa núi rừng hùng vỹ, sông Đà với "trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh", trong đó thác Bờ hay còn gọi ghềnh Bờ hung dữ nhất. Chính thế, đoàn thuyền của nhà vua tới chân thác Bờ thì phải dừng lại (bến Hạ).
Để tiếp tục ngược sông chỉ còn cách đóng thuyền mới rồi hạ thuỷ bên trên thác Bờ (sau này gọi là bến Thượng). Nhờ sự giúp đỡ của nhân dân trong vùng, mà công đầu thuộc về bà Đinh Thị Vân người Mường và một bà người Dao (không rõ tên người và quê quán) đã giúp Vua Lê Lợi đóng thuyền, huy động lương thực tiếp tục ngược sông Đà dẹp loạn. Chiến thắng trở về, Vua sắc phong thưởng công lao của hai bà…".
Về bà người Mường Đinh Thị Vân, gần đây tôi được nghe truyền thuyết do ông Đinh Công Báo - Bí thư Huyện uỷ Đà Bắc kể: Một hôm, tộc trưởng Đinh Công Niều  tổ chức cùng tuỳ tùng đi săn. Đến cửa rừng thì nghe tiếng trẻ con khóc. Ông Niều cùng những người đi săn theo tiếng khóc tìm đến bên mó nước thì thấy một bé gái nhỏ. Tìm khắp xung quanh không thấy người. Ông Niều dừng cuộc săn và mang đứa bé gái về nuôi. Lạ thay, vợ chồng ông Niều lấy nhau đã lâu mà chưa có con, nhưng khi có đứa con gái nuôi nhặt từ rừng về thì vợ chồng ông có liền con trai, con gái. Cô con gái nuôi được đặt tên Đinh Thị Vân hay ăn, chóng lớn và càng lớn càng xinh đẹp, thông minh. Chẳng mấy chốc Đinh Thị Vân như bông hoa rực rỡ giữa núi rừng.
Chính trong những ngày Vua Lê Lợi dừng quân tại vùng ven sông Đà huy động quân lương vượt thác. Do đi dẹp giặc nên nhà vua không đem theo tỳ thiếp và người con gái đẹp Đinh Thị Vân đã lọt vào mắt nhà vua trong lúc cô đang huy động quân lương giúp Vua dẹp giặc. Thuyền trên bến thượng đã đóng xong. Quân lương đã đầy đủ nên nhà vua tiếp tục lên đường dẹp giặc. Khi chia tay, Vua Lê Lợi có trao lại một số vật trọng để Đinh Thị Vân cất giữ.
Năm ấy lũ dữ ập về gây lụt lội lớn. Nhiều nhà dân bị lũ cuốn trôi. Đinh Thị Vân cùng những người trong gia đình cố giữ những vật trọng của Vua trao nhưng không được. Đinh Thị Vân bị nước cuốn trôi qua thác Bờ. Thi thể của bà dạt vào bãi cát dưới chân thác mà sau này người ta gọi là bãi Cánh Chim. Thi thể người em trai của bà thì trôi dạt sang bờ đá phía bên kia (Thung Nai ngày nay). Người dân mai táng bà Đinh Thị Vân trên bãi bồi ven sông Đà. Còn người em thì được mai táng bên bờ sông đối diện.
Thương tiếc người con gái Mường xinh đẹp, nết na, trên đường chiến thắng trở về, nhà Vua sắc phong cho bà Đinh Thị Vân. Sau này, người dân lập đền thờ bà Đinh Thị Vân bên cạnh thác Bờ và gọi là đền Bà Chúa Thác Bờ. Và nơi mai táng người em trai bà Vân được xây Đền Cậu (Đền Thung Nai ngày nay)".
Khi tiếp cận hồ sơ xây dựng Khu đền thờ trên đồi Hang Thần thuộc xã Vầy Nưa chỉ có hạng mục dựng tượng bà Chúa thác người Mường Đinh Thị Vân, chính tôi đã nêu băn khoăn, tại sao chúng ta chỉ dựng bà Đinh Thị Vân mà không dựng tượng bà người Dao cùng bà Vân giúp vua dẹp giặc, dù trong tài liệu đều nhắc tới hai bà?
Và tôi lại nghĩ, nếu bà con người Dao trong khu vực hỏi về việc này thì chúng ta trả lời sao đây? Vấn đề tôi nêu ra cũng nhận được sự "ừ nhỉ" của ai đó rồi cũng qua mau vì khó, vì bà người Dao không ai nhắc đến tên tuổi quê quán... Thế là tại Khu đền thờ xây mới hiện nay với tên gọi "Thác Bờ Linh Từ" vẫn chỉ có tượng của Vua Lê Lợi và bà Đinh Thị Vân chứ không có tượng bà người Dao.
Đúng là trong khu vực Chợ Bờ từ xưa đến nay có hai dân tộc sinh sống lâu đời và số người đông nhất là người Mường và người Dao. Người Mường ở thấp ven sông Đà gồm xã Hào Tráng, Thung Nai, Ngòi Hoa và các xóm Vầy, Nưa, Trà Ang, Cánh Cửa… của xã Vầy Nưa. Người Dao ở cao hơn quanh lưng chừng núi Biều. Tôi nghĩ, dù là truyền thuyết, nhưng người xưa đã chính trị hơn chúng ta rất nhiều. Việc tạo dựng hình ảnh hai bà người Mường và người Dao cùng giúp vua dẹp giặc là thể hiện sinh động sự đoàn kết các dân tộc cùng yêu nước phò vua giữ yên bờ cõi. Thế còn chúng ta hiện nay thì sao?
Thật may mắn cho tôi trong đợt điền dã bản du lịch cộng đồng xóm Sưng lần này, tôi được nghe truyền thuyết về ba người con gái Dao từ xóm Sưng theo đường hang Hoàng Lan mà xuôi xuống vùng Chợ Bờ. Họ cùng người Mường tham gia giúp vua Lê Lợi trên đường dẹp loạn Đèo Cát Hãn, trong đó cô gái út của gia đình người Dao thường gọi cô Ba xinh đẹp và giỏi giang.
Liên tưởng về người con gái dân tộc Dao (không rõ tên trong tài liệu của ngành văn hóa) cùng bà người Mường Đinh Thị Vân giúp vua dẹp giặc loạn, có thể chính là cô Ba, người con gái dân tộc Dao từ xóm Sưng, liệu có giải tỏa được khúc mắc nêu trên?
Vấn đề này mở ra hướng nghiên cứu để giải đáp khúc mắc mà truyền thuyết còn khuyết thiếu. Chúng ta đang mắc nợ không chỉ tiền nhân mà mắc nợ chính chúng ta và các thế hệ con cháu chúng ta sau này
screenshot_233
 MÒ THÁC BỜ TRÊN CẠN
Ngược dốc Cha vào Đà Bắc, tôi tìm đến gia đình cụ Vũ Tài, chủ hiệu ảnh duy nhất của phố Bờ thời chưa đắp đập thuỷ điện. Thật buồn là cụ Tài đã mất cách đây hơn hai năm. Tìm trong nhà cụ cũng không được tấm ảnh xưa cũ nào (?). Con cụ Tài giới thiệu gia đình cụ Vĩnh hiện đang ở thành phố Hoà Bình – người dạy cụ Tài chụp ảnh, nhưng con cháu cụ Vĩnh cũng không kiếm đâu ra ảnh thác Bờ. Rồi nghệ sỹ nhiếp ảnh Hoàng Lai, hội viên Hội nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam, một tay máy xông xáo trên sông Đà và sau này ông giành nhiều giải thưởng về ảnh nghệ thuật. Tiếc thay, Hoàng Lai cũng không có ảnh thác Bờ.
Rà lại danh sách những người đã từng ở Chợ Bờ xưa, tôi nhớ đến một anh tên Dư Xuân Sung ở Viện Kiểm sát huyện Đà Bắc. Ngày ấy, anh Sung có máy ảnh, có thể anh còn ảnh thác Bờ. Nhắc đến anh Sung ở Viện Kiểm sát thì nhiều người nhớ, nhưng số điện thoại của anh Sung thì ngay cả người cơ quan cũ cũng không có. Vì sau chuyển huyện năm 1982, anh Sung đã nghỉ công tác. Thông qua một số cán bộ kiểm sát nghỉ hưu, tôi biết được anh Sung ở huyện Ứng Hoà – Hà Nội. Thế là tôi tìm về Viện Kiểm sát huyện Ứng Hoà hỏi và biết anh Sung còn sống và đang ở xã Đội Bình.
Từ đường 21B đi qua nhiều làng mạc, những cánh đồng xa hút, tôi chợt nghĩ, giờ đường nhựa và đường bê tông thế này mà còn thấy xa, thế thì những năm 70, 80 của thế kỷ trước, khi còn công tác tại huyện miền núi Đà Bắc, mỗi lần anh Sung về thăm nhà chắc chắn vất vả lắm. Xã Đội Bình nơi gia đình anh Sung sinh sống giáp Kim Bảng – Hà Nam. Anh Sung còn khoẻ nhưng tai đã có phần nghễnh ngãng, mà anh cũng trên 75 tuổi chứ có ít gì.
Anh Sung nói oang oang, ngày đó chuyển lòng hồ khó khăn quá, tớ xin về hưu non. Sau tớ lại quay lên Đà Bắc lang thang chụp ảnh kiếm cơm cho con. Đúng là tớ chụp rất nhiều ảnh thác Bờ rồi quăng quật, giờ chẳng còn gì nữa. Thôi... ảnh chả còn, nhưng mấy chục năm anh em mới gặp lại nhau, chú ở uống rượu với anh mai hãy về...
Danh sách người liên quan đến phố Bờ luôn được bổ sung và ngày càng dài ra. Đồng thời số người loại khỏi danh sách cũng tăng lên sau khi tôi đã liên hệ mà họ không có ảnh. Người được bổ sung vào danh sách tiếp tục đem đến hy vọng, người loại khỏi danh sách cũng giúp tôi yên tâm về họ để lại tìm người khác.
Năm 1977, tôi lên Đà Bắc (Chợ Bờ) nhận công tác. Tôi có biết một anh cùng lứa tên Thọ, con ông Nguyễn Tuấn Đức cắt tóc ngay chợ Bờ. Năm sau thì Thọ đi học lái xe ở Sơn La và định cư trên đó cho tới nay.
Nghĩ, người xa quê có thể giữ lại kỷ niệm về thác Bờ, tôi tìm hỏi số điện thoại và liên lạc với Thọ. Thọ nói: “Tôi không có ảnh nào, nhưng nhà bác tôi tên là Tuấn ở thị trấn Hát Lót có một ảnh thác Bờ đang treo ở phòng khách đấy”.
Mừng quá, tôi cùng Lê Quốc Khánh (nay là Phó Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Hoà Bình) lên đường. Vào nhà cụ Tuấn phải qua sân Công an huyện Mai Sơn rồi đi thêm một đoạn dài nữa. Tới nơi, chưa kịp nhìn chủ nhà, tôi tia mắt ngay khắp phòng khách và nóng người lên khi bắt gặp ảnh người thanh niên rất đẹp trai ngả người trên một hòn đá nơi thác Bờ, phía sau là dòng nước sông Đà và lô nhô đá thác.

 screenshot_234

Thời tiết đầu hè đã làm nóng khí hậu miền Tây Bắc, nhưng do tuổi cao, sức yếu, cụ Tuấn làm bạn cùng chiếc giường với đầy đủ chăn, đệm đã lâu. Nghe thấy có khách phố Bờ, cụ nhỏm dậy như người bình thường sau giấc nghỉ trưa.
Sinh ra và lớn lên tại phố Bờ. Năm 1958, chàng thanh niên 20 tuổi Vũ Ngọc Tuấn đi công nhân giao thông. Khi Trường Đào tạo lái xe Tây Bắc mở tại Sơn La, Vũ Ngọc Tuấn được điều về làm cán bộ tổ chức của trường. Năm 1978, ông Tuấn xin cho cháu là Thọ (khi đó Thọ đang ở phố Bờ) vào học tại Trường Đào tạo lái xe Sơn La. Học xong, Thọ định cư tại Tp. Sơn La cho đến nay.
Cụ Tuấn như khoẻ ra khi nhắc tới thác Bờ. Cụ kể, cụ là em ruột của chủ hiệu ảnh duy nhất tại phố Bờ - Vũ Tài. Khi còn thanh niên, cụ được ông anh chụp cho nhiều ảnh tại thác Bờ. Lần cuối cụ về thăm cụ Vũ Tài tại thị trấn Đà Bắc (huyện mới sau chuyển lòng hồ) cũng đã mấy năm rồi. Khi cụ Vũ Tài mất, cụ Tuấn cũng đã yếu nên không về chịu tang ông anh được.
Lựa mạch cảm xúc đang trào dâng khi nói về Chợ Bờ của cụ, tôi hỏi, thưa bác, hai bác còn giữ được nhiều ảnh về thác Bờ không ạ?. Tay run run, cụ Tuấn vừa thở hổn hển vừa lật dưới gối lấy ra một bọc, mở bọc lấy gói nhỏ hơn, nhỏ hơn, rồi tới gói giấy bóng đã xỉn màu, nhỏ như bao diêm...
Nhìn cụ lật mở những gói là gói, tôi và Lê Quốc Khánh cũng nín thở trong hồi hộp chờ đợi một kho báu mình khao khát tìm kiếm bấy lâu nay. Dưới tay cụ Tuấn, trong những gói kia là những ảnh nào? góc nào của thác Bờ? Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu tôi. Là người đã từng đặt những bước chân đầu tiên trong đời công tác tới Chợ Bờ, rồi bao lần ra thác Bờ vẫy vùng...nên ảnh nào của thác Bờ là tôi nhận ra ngay. Rồi tôi và Khánh cùng ồ lên. Trời ơi, không phải một ảnh, hai ảnh, ba ảnh...mà có tới hơn 10 ảnh cụ Tuấn chụp ở thác Bờ lần lượt được bày ra.
Hẳn những người lớn tuổi đều biết, ngày ấy để chụp được một kiểu ảnh quả là khó khăn. Máy ảnh hiếm lại chụp bằng phim, rửa ảnh trong buồng tối, rửa xong mới biết ảnh nào được, ảnh nào không. Do đó, đa số người chụp thì chụp mặt chứ không mấy người chụp lấy cả cảnh như sau này. Chính thế, trong quá trình tìm người phố Bờ xưa, tôi cũng gặp một số người có ảnh cũ, kể cả ảnh chụp ở thác Bờ, nhưng hoàn toàn không có cảnh thác, dù chỉ một phần nhỏ. Thậm chí, có ảnh chụp người đứng tịt vào vách đá như đứng trước một cái phông đá vậy.
Vô cùng cảm ơn cụ Vũ Ngọc Tuấn đã lưu giữ hơn mười tấm ảnh có cảnh thác Bờ. Ảnh cụ Tuấn bám vào mỏm đá Đầu gấu; ảnh cụ cùng bạn đứng ở bờ sông mà hậu cảnh là một phần thác Bờ...Và vô cùng quý là hơn mười bức ảnh cụ Tuấn giữ từ năm 1958 đều ít nhiều có cảnh thác Bờ. Niềm hạnh phúc quá lớn đối với người lần mò quá khứ như chúng tôi. Từ chỗ khao khát nhìn thấy một ảnh thác Bờ theo giới thiệu của anh Thọ, giờ tôi có những hơn mười ảnh. Có lẽ, ông Trời đã phù hộ tôi trong việc này. 
Nhưng có điều thật tiếc xen lẫn ân hận, khi cuốn sách ảnh “Bờ xưa” được xuất bản, tôi gửi lên tặng thì mới hay cụ Vũ Ngọc Tuấn vừa rời cõi tạm về với tổ tiên. Xin nhiều lần xin lỗi cụ về sự chậm trễ này của cháu cụ Vũ Ngọc Tuấn nhé!
Theo danh sách người quen, tôi lại tranh thủ lân la tìm gặp trên điện thoại hoặc ngoài đời. Một lần vào thị trấn Đà Bắc, tìm đến anh Nguyễn Văn Hùng là chỗ quen biết từ thời còn công tác trên Chợ Bờ. Biết tôi đi tìm ảnh thác Bờ, anh Hùng tủm tỉm mà chưa thấy nói gì. Lần sau tôi vào, anh Hùng lấy ra cho tôi ba ảnh nhỏ, trong đó có ảnh của bố anh (đã mất) cùng bạn là công nhân Bến phà Bờ đứng dưới gốc cây si chùm rễ phủ xuống mái đền bên thác Bờ; ảnh dì của anh lúc còn rất trẻ ngồi trên thuyền dưới chân thác Bờ.
 screenshot_235
Và thật thú vị với ảnh của chính anh Hùng khoác ba lô đứng trên một mỏm đá thác Bờ giơ tay như tạm biệt ai đó? Về tấm ảnh này, anh Hùng kể, năm 1974, trong ngày nhập ngũ, sau khi nhận quân trang tại Huyện đội Đà Bắc, anh xin phép ra thác Bờ và nhờ ông Tài chụp cho tấm ảnh kỷ niệm. Chụp xong anh về đơn vị, mãi tới khi huấn luyện xong, được về tranh thủ, anh mới nhận ảnh và giữ được cho đến nay.
Thấy tôi trò chuyện với anh Hùng, anh Hoạch nhà bên cạnh tự tin khoe:  “Nhà em có ảnh thác Bờ, năm ông già em (là cụ Chu- Bến trưởng Bến phà Bờ thì tôi biết) lái ca nô đẩy phà lên tận chân thác Bờ để đoàn làm phim quay cảnh trong bộ phim “Hai bà mẹ”, nói về tình hữu nghị Việt Nam  - Lào”. Tôi càng hy vọng và khấp khởi chờ đợi. Tôi nghĩ một khi đứng trên phà giữa sông Đà mà chụp thì tất sẽ được cảnh rộng của thác Bờ.
Thế rồi sau nhiều lần gượng hỏi, hỏi có khi đến phát ngại, anh Hoạch hứa sẽ tìm, rồi kết lại là không biết để đâu nữa. Tôi cứ hì hụi tiếc và vẫn tiếp tục hy vọng anh Hoạch sẽ tìm thấy ảnh như anh nói.
Đúng là do thời gian quá lâu. Nếu tính những tấm ảnh chụp mới nhất về thác Bờ thì cũng đã gần 40 năm. Ảnh đen trắng, không ép thật khó bảo quản. Hơn nữa do hệ luỵ của việc chuyển dân khỏi vùng ngập lòng hồ, mà không chỉ chuyển một lần nên càng khó giữ ảnh. Lại nghĩ, thỉnh thoảng mình tìm quyển sách nào đó trên giá sách nhà mình, giấy tờ trong tủ, trong hòm mà toát mồ hôi, còn ngại... huống chi họ tìm cái thứ mà họ chỉ mang máng nhớ là có, còn chính xác để ở đâu thì họ chịu. Vì thế, không có cách nào khác là phải kiên trì.
Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hoà Bình có một hội viên rất trẻ là Phạm Thuý Quỳnh, người được giải Nhất truyện ngắn của cuộc thi “Cây bút tuổi hồng” do Hội phát động. Trong không ít truyện ngắn của Quỳnh có đề cập đến thác Bờ. Thấy lạ, tôi hỏi thì Quỳnh nói được ông ngoại kể cho nghe chứ Quỳnh có biết gì về thác Bờ. Tôi tìm đến ông ngoại của Quỳnh thì hoá ra là ông Việt, vợ là Chiến cùng là cán bộ Cửa hàng Lương thực huyện Đà Bắc khi xưa.
Thị trấn Đà Bắc ngập, ông Việt chuyển gia đình lên tận Mường Chiềng, cách huyện lỵ trên 70km, nay ông bà lại về thị trấn Đà Bắc. Ông Việt đưa tôi xem một bức ảnh khá đặc biệt. Trong ảnh, bốn thanh niên trẻ, cởi trần, tóc dài quần loe, người ngồi giữa bế một em bé chừng vài tháng tuổi bên thác Bờ. Ông Việt giải thích, đây là bốn thanh niên thợ đá trong Thanh Hoá được thuê ra cắt mỏm đá khắc bài thơ của Vua Lê Lợi mang về thị xã Hoà Bình trước khi nơi đây chìm ngập (tôi đã viết trong bài Bờ xưa -nói thêm về Bia Lê Lợi). Thời gian thi công, họ gặp và bế đứa con đầu của ông bà chụp ảnh. Giờ họ ở đâu, ông Việt cũng không biết. Thằng cu trong ảnh là Phạm Đức Vượng, năm nay cũng vào tuổi bốn mươi rồi...
Rà tiếp trong danh sách những người đã từng có mặt tại phố Bờ xưa thì cái tên Phùng Trúc Khê hiện lên. Tôi nhớ ông Khê không chỉ bởi cái tên ấn tượng mà còn vì khi ở phố Bờ ông làm nghề sửa chữa đài tại hiệu sách gần chợ Bờ. Và ông cũng là một trong những “tay chơi” ngày ấy. Hỏi thăm về ông, có người nói ông chết lâu rồi; người lại nói ông về quê từ lúc chuyển huyện ... may sao một nhà thuyền mách, ông Khê còn sống, đang ở trên xóm Hạt, xã Yên Hòa.
 screenshot_236
Trong một chuyến cùng các văn nghệ sỹ điền dã dọc hồ Hòa Bình lên tận địa phận Sơn La, khi xuôi dòng, tôi nói nhà tầu ghé bến Hạt để tôi tìm gặp ông Phùng Trúc Khê. Mấy chục năm xa nhau, nếu không có lý do “mò tìm” thác Bờ thì làm sao tôi nhớ con người này, nhất là nay ông đã già yếu lắm. Hỏi đến ảnh thác Bờ, ông Khê nói như reo, tôi có, tôi có, có cả anh (LV) trong ảnh nữa đấy!
Thực tình tôi biết ông nhầm tôi với ai (trong ảnh), nhưng điều đó không quan trọng bằng việc tìm thấy ảnh có thác Bờ. Rồi tôi đón từ tay ông hai tấm ảnh và mừng quýnh lên khi đúng là ảnh chụp tại thác Bờ. Những nhân vật trong ảnh, tôi đều nhận ra, dĩ nhiên không có tôi trong đó. Việc “nóng” đã xong, giờ tôi mới ngắm nghía và thăm hỏi ông bà. Mới hay khi nước ngập, ông bà cũng hết chỗ nọ đến chỗ kia rồi cắm chân ở xóm Hạt này cho đến nay. Con cái trưởng thành, mỗi đứa mỗi nơi, hai ông bà chăm nhau những năm tháng về chiều.
Nhìn lên ban thờ nhà ông Khê, thấy có tờ 500 ngàn đồng tiền Việt Nam dán trên tường, tôi hỏi, ông cho hay: Năm tròn bảy mươi, Hội Người Cao tuổi tới chúc mừng thất thập và tặng hơn 500 ngàn đồng (lẻ vài chục). Tôi nghĩ, tiền thì có đến hàng tỷ ăn cũng hết. Mình vất vả thế mà còn sống đến bảy mươi tuổi, được mừng thọ ... nên tôi quyết định không tiêu tờ 500 ngàn này, dán lên vị trí trang trọng để nhớ!
Thưa quý bạn đọc. Công việc tìm tòi, viết lách nó hay ho thế đấy. Tôi “mò” Bờ xưa đã được thác, được ghềnh, được những bóng hồng lung linh đáy nước ... giờ lại chứng kiến một người dán tiền thật lên tường chứ không tiêu. Cái lý ông nghĩ ra hẳn chứa đầy cái tình trong đó. Tôi nghĩ, đầu óc nhà văn bay bổng đến mấy chắc cũng không nghĩ ra chi tiết này!
Thật quá thú vị. Đúng là chịu khó đến với dân thì sẽ có mọi thứ. Cảm ơn cuộc đời. Cảm ơn Nhân dân!
                                                              (Còn nữa)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 2
Trong ngày: 1
Trong tuần: 737
Lượt truy cập: 17143
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.