Bùi Việt Phương
LẶNG LẼ BẾ KIẾN QUỐC
Có một người từng hỏi tôi: “Theo anh, trong cuộc cách mạng 4.0 này, điều gì đáng sợ nhất đối với văn chương?”. Tôi nghĩ một lát rồi trả lời: “Theo tôi, điều đáng sợ nhất không phải là sự xuất hiện của ChatGPT hay mạng xã hội mà là sự im lặng của người đọc trước những cuốn sách, trước những sáng tác được công bố”.
Nói là vậy, nhưng chính bản thân tôi cũng biết rằng nhà văn (nói riêng) và người nghệ sĩ (nói chung) ngày nay cũng đâu chịu ngồi yên để đợi quy luật “hữu xạ tự nhiên hương” đánh thức người đọc đang ngủ say trong “cánh rừng” sáng tạo. Nhiều cuốn sách vừa được mang ra khỏi xưởng in đã đến ngay buổi tọa đàm, ra mắt sách với những chia sẻ, bàn luận sôi nổi. Người viết coi đó là một bước chuyển mới của đời sống văn học trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, việc độc giả sẽ nghĩ gì sau mỗi sự kiện ấy lại phụ thuộc vào tầm cỡ của người viết và ở cách thức tiếp nhận của họ.
Nói như vậy thì các tác giả đã tạ thế sẽ thiệt thòi lắm chăng? Ở vào cái thời của họ có lẽ đến một bài giới thiệu sách nho nhỏ trên báo cũng đã là khó, đã là hiếm chứ nói gì đến ra mắt, tọa đàm. Tôi nhớ trong tiểu luận Cái chết của tác giả, nhà ký hiệu học, phê bình văn học Roland Barthes đã viết: “Sự viết bản thân nó đã là một thứ tiếng nói đặc biệt, tổng hợp của nhiều giọng nói khó tách rời, và vì văn chương chính là quá trình sáng tạo ra tiếng nói này, một tiếng nói không thể xác định được nguồn gốc cụ thể cho nó: văn chương là thứ không gian trung tính, phức hợp, lạc hướng, trong đó mọi chủ thể đều mất hút, là hố đen nhấn chìm mọi bản thể, trước tiên là bản thể của con người cầm bút viết”. Ở bài viết này, người viết không bàn đến quan điểm của Roland Barthes mà chỉ muốn nói một điều: viết là một cuộc chơi công bằng.
- Thơ Việt ngày càng xuất hiện những thể nghiệm mới, ồn ào, lạ lẫm và quyết liệt bởi nhiều phá cách về mặt văn bản mà giới phê bình chỉ cần thống kê thôi đã… mệt. Nhưng khác với văn xuôi và kịch, thơ có cái hay ở chỗ nó luôn cần những khoảng lặng. Khoảng lặng của chữ nghĩa là đất diễn cho ý tứ với vô vàn liên tưởng thú vị.
Cứ mỗi mùa xuân, nghe lại câu thơ ám ảnh của thi sĩ Hàn Mặc Tử: “Ngày mai trong đám xuân xanh ấy/ Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...” (Mùa xuân chín); hay: “Mẹ bảo mùa xuân đã cạn ngày” (Nguyễn Bính); “Mỗi lần nắng mới hắt bên song/ Xao xác, gà trưa gáy não nùng” (Nắng mới-Lưu Trọng Lư)… chúng ta lại cảm nhận được sự đơn giản thanh thoát của chữ nghĩa có sức gợi hơn nhiều những đại ngôn “sáng choang”.
Tôi bắt gặp khoảng lặng ấy trong rất nhiều bài thơ của cố thi sĩ Bế Kiến Quốc. Nhắc đến thơ ông, bạn đọc hường hay kể về những: Bài hát trồng cây; Hoa huệ; Bóc lịch; Đêm âm nhạc; Hoa loa kèn… những thi phẩm đã “sống” trong tâm hồn mỗi người những thập kỉ qua. Có điều, xuyên suốt các thi phẩm này là một giọng điệu, là một tư duy thơ được tạo nên từ cách sống của ông.
Bế Kiến Quốc sinh năm 1949 tại Hà Nội. Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn, đại học Tổng Hợp Hà Nội, từng làm Trưởng Ban thơ của tuần báo Văn nghệ, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1981). Người cùng thời biết đến ông với mái tóc lãng tử, cặp kính trắng, đôi mắt hiền và điếu thuốc luôn tỏa khói trên tay.
- Có lẽ, Bế Kiến Quốc là một thi sĩ ưa lắng nghe, ông bắt đầu đón nhận từ những thanh âm của mùa màng: “Ai mải miết rắc dâu mặt vải/ Ai nọng tằm ủ kén tay em” (Nghe chèo, đêm xa quê); đến: “Đến quê đây, ăn cái nước sông Đà/ Nếm chùm nhãn đất phù sa nuôi ngọt/ Chịu sức nắng trưa mùa hè thiêu đốt/ Đêm chập chờn nhớ một dòng sông xa...” (Tiếng dòng sông). Trong sự lắng nghe đó có một thứ “mật ngọt” mà người nông nổi, vội vã sẽ dễ bỏ qua. Thử hỏi, những “ủ kén tay em”, “ăn cái nước”, hay thậm chí còn là: “Những cơn đâu nơi cuối rễ đầu cành” (Cuối rễ đầu cành), “Sinh ra ở đâu mà ai cũng anh hùng?/ Tất cả trả lời: Sinh bên một dòng sông…” (Những dòng sông)… chẳng phải là chất thơ đó sao? Nghe được như thế tức là đã tìm ra những tinh túy, là hồn vía của cuộc đời này sao. Nhưng, không phải lúc nào sự lắng nghe cũng ngọt ngào, điều nghe thấy đâu đã tốt đẹp, nhưng thi sĩ vẫn quả quyết vì đó là những gì tha thiết của cuộc sống này:
Vành tai ơi, ta đưa ngươi đi
Đến miệng đời - dù nghe lời đắng chát
Lời thô bỉ, và biết đâu, có khi...
Ta phải nghe, vì ta yêu tiếng hát.
(Tự nhủ)
Nhà thơ Bế Kiến Quốc sống lành trong kí ức bạn bè, ông có thể viết hiền trên trang giấy nhưng đó là sự nền nã để làm nổi bật lên một quyết liệt của suy tư, của “chất nghĩ” khác: “Mải nghe lắng những tiếng gì xa lắm/ Sống trọn mình theo luật của thương yêu “(Đến sớm). Phải chăng “nghe lắng” ấy khác với lắng nghe, khác với lắng lòng. Đó là một trạng thái cảm nhận, chiêm nghiệm bằng kinh nghiệm sống, bằng sự nhẫn nhịn, bình thản mà quyết liệt.
Vì thế, trong thơ ông luôn có những cảm thức với chiều sâu của văn hóa. Có khi là sự sâu lắng trong bản thể: “Đèn ai trong lá xanh không ngủ” (Tự nguyện); “Nõn nòn non mây trắng đứng vô tình” (Sông Chu); “Có nỗi đau chính mình chẳng biết/ Ngấm vào máu - rồi đàn nấc lên...” (Thất huyền cầm). Ông nhận ra, trong màu sen xanh, trong mây trắng, hay chính máu của người chơi đàn (Đàn De-tư-gen của Ka-dăc-xtăng chỉ có bảy dây/ vì người đầu tiên làm ra đàn có bảy nỗi đau..)… đều là sự kết tinh trong mạch nghĩ của thi nhân.
Nhưng ở trường hợp khác lại là sự tự vấn bản thân: “Rồi ta quên... Dòng nước trôi xa mình..” (Đuốc lá dừa); “Anh không biết vì sao anh có lỗi/ Nhưng mãi mãi vẫn còn câu hỏi:/Sao bóng hoa trên tường lại đen” (Hoa huệ). Ngày trước, khi đọc những câu thơ này, tôi nghĩ đó là những gì đọng lại sau cảm xúc yêu đương, thấp thỏm, lo âu. Nhưng khi đã va vấp, đã thấu hiểu hơn một Bế Kiến Quốc khác. Tôi mới hiểu ông dành cái lỗi lầm và sự trách cứ ấy cho mình dẫu thời cuộc hay thời gian mới là thủ phạm.
- Sự lắng nghe không hề thụ động, hời hợt trước cuộc đời này. Ông từng tuyên ngôn về một sứ mệnh muôn thuở của thi nhân: “Ta phải nhìn, vì ta yêu cái đẹp” và: “Ta phải yêu, vì ta tin hạnh phúc” (Tự thú). Nhưng khác với mọi người, sự lặng lẽ của ông sâu sắc ở chỗ, mọi nhiệt huyết, mọi xôn xao đều được lắng kết quả sự cảm nhận, hay nói cách khác, thi nhân đã nghe được từ chính lòng mình một hồ hởi như thế. Thơ Bế Kiến Quốc hay có những cơn mưa bất chợt, những cơn mưa thảng thốt giữa cuộc đời: “Bất ngờ anh sững sờ mưa giữa đường... “ (Hoa sữa); “Mưa tới... Em đi đã một ngày”. (Bài bốn câu số 30).
Đọc lại nhiều bài thơ Bế Kiến Quốc, có một ấn tượng chung đó là những câu thơ ngắn, trải đều trên 3 đến 4 khổ thơ, dễ đọc, dễ nhớ. Cá biệt có những bài dài, quy mô Đêm âm nhạc, Những dòng sông, Trò chuyện với ngôi sao xa xôi… có dung lượng lớn, cấu tứ phức hợp. Nhiều bài thơ mang đến cho người đọc sự trăn trở, đau đáu về mất mát bởi năm tháng cuộc đời. Nhưng đằng sau tất cả là một tình yêu tha thiết với cái đẹp, với cuộc đời này như một động lực để ông viết, viết cho đến giây phút cuối cùng. Chất thơ đã toát lên từ những khoảng lặng bằng một tình yêu như thế:
Có trăm ngàn lý do nhủ rằng đừng quá bước
Nghĩ cho cùng...
Thôi, nghĩ ngợi làm chi
Lời hãy tránh gặp lời, mắt tránh tìm ánh mắt
Hãy giấu mọi vui buồn cho đến lúc ra đi...
Nhà thơ Bế Kiến Quốc lặng lẽ mở ra một trường cảm xúc rồi cũng lặng lẽ đồng nhất mình vào những câu thơ ấy để thanh thản một kiếp người.
B.V.P