Bùi Việt Phương
BÉ KHUN
Ở Chiềng Ly có những ngày mưa buồn đến mục cả gỗ. Người già ở đây bảo thế. Mưa cứ nối nhau từ ngày sang đêm, suối cõng nước đi cả ngày không hết. Suối mệt nhoài, ruộng úng, cá tôm lạc đàn. Thế mà có người vẫn bảo: Buồn thế đã là gì? Sao buồn bằng câu chuyện bây giờ tôi kể đây: Chuyện bé Khun.
Bé Khun không có nhà cửa sao? Có. Bé Khun không có bố mẹ sao? Có. Thế mà bé vẫn trải qua những ngày buồn nhất. Những buổi chiều về bên núi, mắt bé đẫm nước mưa. Những sớm nắng lên, mắt bé vẫn còn đọng nước. Con chào mào trong núi đi kiếm mồi cho con. Đêm qua mưa, con nó đói kêu chiêm chiếp. Vậy mà, khi thấy bé Khun, nó vẫn cố dương cao cái cổ có túm lông đỏ để hót. Hót hết các bài hay nhất, bé Khun vẫn buồn. Con sóc đến chuyền cành. Chưa có quả xoan nó vẫn nhảy. Con dế mèn biết bé Khun nằm sợ tiếng đêm, nó gáy vang, tiếng con dế tha thiết như muốn an lòng bé. Nhưng không con gì làm bé hết buồn được, bé nhớ bố mẹ, nhớ những lúc được yêu thương.
Năm ấy, bé Khun mới lên ba tuổi. Suốt từ khi lọt lòng mẹ sinh ra, cha mẹ luôn âu yếm vỗ về bé. Bé có đôi mắt đen lắm. Đám trẻ con ăn hết mùa na cũng chưa thấy cái hạt nào đen bằng. Đôi mắt mới mở ra đã tinh như con nai bên bờ suối.
Thế rồi một ngày làng bản có chuyện lạ. Ban đầu có một con ngựa lạ từ đâu chạy về. Đám trẻ chạy ra xem, đùa nghịch với ngựa, nó cũng không bực bội. Người già nhìn thấy ngựa thì sinh nghi, tụm nhau lại mà đoán. Người trai tráng trong bản tìm ba ngày mà khắp cả vùng không có ai nhận. Người đi lấy thuốc cũng qua bốn bản hỏi dò. Nếu ngựa của nhà nào đó bị mất thì đã tìm được một nửa bị con hổ ăn dở giấu đi. Thế ngựa từ trên trời xuống ạ? Ngựa trắng muốt, ngựa nhai cỏ nhưng đôi mắt nó khác thường. Một ngày người ta tìm thấy một xác chết trong rừng. Người có y thuật bảo đây không phải xác của một người chết do bệnh dịch. Cái xác có thứ mùi rất lạ. Chết nỗi, trên bàn tay người chết ấy, có một nhúm lông ngựa trắng muốt. Hai người đó chạy về bản. Một người người đi qua suối, họ xuống suối tắm rồi vứt cả bộ quần áo lại bờ suối. Một người leo lên cái chòi canh nương không dám về. Quần áo của người đi tắm suối bị nước quấn về bản. Người ấy về kịp báo tin cho mọi người xong thì đêm đến lên cơn sốt. Người vợ mang thuốc đến đầu giường kể cho anh ta là đám trẻ con và và vài người già trong bản đều lên cơn sốt rồi chết. Người trên chòi đã chết sau mấy hôm. Đại dịch cứ thế tràn về bản…

Hôm ấy, bố mẹ vừa đưa bé Khun về quê dự lễ cưới của một người trong họ. Về đến đỉnh đồi, nhìn cái cảnh tang thương ấy và những dấu hiệu dịch bệnh hiện lên trong vóc dáng những người thân quen, bố mẹ vội vã địu bé Khun ngược dốc quay trở lại. Hễ cứ thấy bóng người phía xa là họ lại vội vã tìm đường khác để tránh. Hai người đi suốt năm ngày, năm đêm, khát chỉ lấy nước trong ống nứa non để uống, đói chỉ ăn quả rừng. Họ đi đến qua bản nào cũng thấy cảnh người ta đem những đồ dùng của người mất đem đốt. Thật đáng kinh sợ.
Nhưng quê gốc của bố Pan của Khun thì xa lắm. Xung quanh có những ngọn núi cao, đường đi khó. Người mới đến vùng này tưởng trên ấy chỉ có sương mù và đá núi, không bao giờ có mặt trời. Bà nội lại đón Khun vào nhà, Khun đã chán nản sau mấy ngày sống ở đây. Chỉ kịp đưa ít bạc trắng, ít thuốc từ lá cây, dặn dò bà nội, bố mẹ Khun lại quay ngược về bản. Họ là những người chuyên chữa bệnh cứu người. Chưa biết đó là dịch gì, nhưng không thể bỏ mặc bản làng.
Những ngày ấy Khun buồn lắm. Thứ duy nhất mang theo từ ngôi nhà sàn nhỏ là một cái cù nhỏ bằng gỗ ổi. Lúc đi, em khóc, mẹ phải đưa em cầm theo. Giờ thì chỉ có cái cù nhỏ ấy làm bạn.
Những sáng thức dậy, những buổi trưa lảnh lót tiếng chim, những chiều dần xuống núi… bao giờ cũng vậy, Khun lắng nghe tiếng chân bước lên sàn, Khun nhìn ra phía cuối rặng tre. Vẫn chỉ có tiếng chân chậm và chắc nịch của bà, vẫn chỉ có dáng ông nhỏ, gầy dẫn đàn bò về, rặng tre thêm nhiều lá khô rụng, xạc xào trong gió buồn tênh.
Khun không nhớ, đã bao nhiêu ngày rồi. Bà thương Khun lắm nhưng Khun nhớ mùi mồ hôi bố, nhớ những món mẹ làm. Nhớ cái lúc được leo lên lưng bố, được bố cõng đi khắp bản, xem bố đánh cá, xem bẫy chim, vui lắm. Nhưng Khun nhớ nhất là lúc cả nhà ngồi bên bếp lửa. Từ lúc bé xíu, đã qua ba mùa đông, bếp lửa nhà em không bao giờ thiếu củi bởi bàn tay chăm chỉ của mẹ. Bên ánh lửa, chờ cho những củ khoai chín vàng, chờ bắp ngô nướng thơm ngọt, miệng Khun lấm lem trong tiếng cười của bố mẹ, không còn thấy lạnh.
Khun cứ mong, mong mãi. Khun chán những lời bà dặn rồi: “Khun ngoan, mấy nữa bố đi lấy được con chim quý màu lông đỏ rực, tiếng nó hót vang cả thung…”. Khun đợi, mãi không thấy bố mang con chim về. Khun chỉ cần bố, bố mang về con chim màu nâu như con sẻ cũng được…
Rồi bà lại bày cho Khun cho chơi bóc măng. Măng như con thú có cái vỏ lông lá, cứ bóc ra, lại gặp lớp vỏ nữa, bóc thêm, bóc thêm lại gặp. Cuối cùng là cái nõn trắng, đem chấm muối thật là ngọt. Nhiều lần bóc rồi mà Khun vẫn muốn bóc tiếp xem trong ấy có gì. Nhưng đến một ngày em đã chán hương vị của măng. Em vẫn chỉ nhớ mùi mồ hôi của bố.
Thật ra, cả bà nội cũng không rõ bao giờ bố mẹ Khun sẽ trở về. Không như mọi khi, lần này dịch bệnh lạ làm cả người và các các con vật chết. Bố Khun là thày lang giỏi, dù đêm hôm, mưa lũ cũng lên đường đi cứu người. Chẳng có gì níu được chân bố Khun cả. Có mẹ ở bên, chắc sẽ đỡ hơn nhưng thật sự nguy hiểm. Nuôi con được bằng chừng ấy, lại nhìn cháu, bà chỉ mong con cháu mình bình an trở về.
Những ngày buồn của Khun cứ dài mãi ra như buồng chuối gày guộc đất đồi kia. Mỗi ngày, nó ra một nải nhỏ, nải này nối tiếp nải kia, càng ngày càng bé hơn, gày hơn, xấu hơn… không có gì đổi thay cả. Khun bắt đầu phá phách. Ban đầu là trêu trọc các vật nuôi, thả con chim ông nuôi trong lồng cho mèo bắt, đến làm hỏng hết đám hạt giống. Bà nội tức lắm nhưng bà không nỡ đánh Khun, bà lại ôm Khun vào lòng vỗ về, Khun càng khóc to hơn.
Một ngày, làng có vụ cháy lớn. Tiếng trẻ nứa nổ, khói mù mịt, tiếng người gọi nhau hỗn loạn. Người ta hò nhau mang nước, lấy cành cây tươi, mang được thứ gì đi thì mang để ngọn lửa không bén tới. Bà mang Khun lên hang đá vì bà sợ ngọn lửa kia, qua một con suối cạn mới lên tới đây là bà yên tâm rồi. Nhưng rồi, bà lại nhớ ra, bà quên cái túi gạo. Giờ tránh được lửa mà không có cái ăn thì cũng đến chết đói giữa núi rừng này. Trước khi quay lại bà dặn Khun:
- Dù bà quay về bản bao lâu, cháu cũng không được rời khỏi chỗ này. Xung quanh còn nguy hiểm lắm đấy.
Bà đi rồi, Khun ngồi ôm cái cù đợi. Để khỏi sợ hãi, bà đã đưa cho em một cây gậy có cái đầu nhọn hoắt. Khun đợi bà từ lúc mặt trời sắp xuống núi, gió lạnh thổi, Khun thấy sợ. Em co ro trong tấm áo, em run rẩy như cái mầm cây non trước cơn gió rét tháng Ba trở lại. Chim rừng cũng đã đi ngủ, nó gọi nhau kêu lích rích trong kẽ lá. Mặt trời chắc cũng có nhà, chắc bếp nhà mặt trời cũng ấm, cũng có ngô nếp, khoai đồi để nướng…
Khun đã đánh rơi cái cù vì run rẩy trước cái lạnh. Cái cù lăn lốc cốc rồi rơi xuống một khe đá. Nhớ lời bà dặn, nhưng Khun không muốn để mất thứ duy nhất mang theo mình từ quê nhà. Khun chạy theo con cù, cái khe sâu quá. Ban đầu Khun sợ và khóc, nước mắt của Khun rơi xuống lã chã. Nhưng rồi Khun hiểu ra, ở đây không có ai, Khun lấy cái gậy để cố sức khều con cù lên nhưng không được. Bỗng nhiên, chân cậu thụt xuống một cái hố. Khun cố nhoai lên mà không được. Càng cố gắng, chân cậu càng lún sâu hơn rồi cả người lăn xuống đó.
Khi Khun tỉnh dậy thì trời ơi! bé đang nằm trong tay bố. Bố mẹ thơm khắp người em, phủi đất bám trên người em. Bố Khun bảo:
- Sao bao người lên đây mà không phát hiện ra. Lúc bố với bà lên không thấy con đâu. Nhìn cái khăn nhỏ con đánh rơi, bố mới biết mà tìm đến cái hố này.
Ngừng một lát, bố nói tiếp:
- Lúc ấy thấy con nằm im, bố không thể tin được, bố tưởng con bị sao rồi, Nhưng tay con vẫn cầm chắc cái cù. Sau lúc đưa con lên, bố tìm thấy cái bình đựng bạc này, trong đó có lời tổ tiên dặn chỉ được lấy số bạc này để cứu bản mình, bản khác khi hoạn nạn…
Khun thút thít khóc trong tay bố. Khi bố mẹ hỏi, Khun chỉ biết nói là, vì cái cù làm từ gỗ thân cây ổi nhà mình. Cái cù có mùi tay cha, tay mẹ, dính đất ở sân nhà mình. Chỗ tay cầm của cái cù một lần bị bén lửa bếp nhà mình cháy xém. Con sợ mất cái cù thì không gặp được bố mẹ nữa…
Ôi, ở miền núi cao này, đường đi thật khó, người ta ngóng mùa xuân qua sắc hoa, qua tiếng sáo. Những em bé ngóng bố mẹ về khi mặt trời gác núi sau một ngày đã là quá lâu rồi. Vậy mà, bé Khun đã phải xa bố mẹ hơn ba tháng trời. Hơn ba mùa trăng, bao lần mặt trời mọc rồi lặn, dài bất tận như buồng chuối, như cây tre ra nhiều đốt. Bé Khun vẫn chỉ một lòng yêu quê nhà, yêu mùi mồ hôi khét nồng cua cha, bếp lửa của mẹ cho đến ngày gặp lại khi bản đã hết dịch và nắng ấm lại về hết những ngày buồn…
B.V.P