Đỗ Hàn
TRĂNG QUẦNG
CHƯƠNG V - TRĂNG MỜ
Trăng
Vẫn treo trên trời đêm ấy
Nhưng không ai nhìn lên nữa.
Người ta bận
Xếp hàng chờ khẩu phần Cắt áo cờ
Gọi nhau bằng tiếng “đồng chí”
Và giấu trong lòng những toan tính chưa khô.
Cách mạng thành công.
Lịch sử sang trang
Mọi thứ như rực rỡ lên
Trống mở lối, cờ rợp trời Mà trăng thì…
Không được ai gọi về.
Nhượng Tống
Cũng không tự xưng
Không đòi danh, không giành chức
Chỉ âm thầm đứng ở lề đường
Nhìn người đi qua
Mỗi bước chân là một đoạn ký ức bị gạt bỏ.
Anh sống
Mờ dần đi như vết mực cũ
Trong những bản thảo không được in
Những bài thơ bị bỏ quên

Trăng mờ
Không phải vì mây
Mà vì người ta dựng đèn neon
Để soi sáng chính mình
Không cần ánh sáng nào khác nữa!
Có lần
Anh gửi bản thảo cho một nhà in
Người ta trả lại
Chỉ ghi ba chữ:
“Không phù hợp.”
Không phù hợp...
Là cách người ta giết một tâm hồn
Mà không cần súng đạn.
Anh vẫn viết
Tự nhủ: “Không ai đọc cũng không sao”
Ta viết để nói rằng ta đang sống!
Dẫu cuộc đời chưa yêu.
Anh vẫn viết Mặc tay đã run
Mặc mắt đã nhòe
Trăng đã mỏng như một hơi thở chiều.
Bé gái anh - đứa con duy nhất
Thường không biết
Cha mình từng là người chép sử
Từng dịch “Thượng Thư”
Từng trò chuyện với bóng trăng suốt mười năm
Không một ai nghe.
Bầu trời Hà Nội cuối thập kỷ bốn mươi
Xám như màu áo tù
Có người đi trên phố
Nhưng không còn nhớ Nhượng Tống là ai.
Trăng mờ
Là khi anh đứng giữa dòng lịch sử
Mà không thấy tên mình.
Anh vẫn tin
Dù không ai tin anh nữa
Rằng:
“Người giúp người, thì thế giới không cần súng”.
Rằng:
“Một bài thơ viết bằng lòng nhân, sẽ tồn tại lâu hơn một đạo luật”.
Nhưng lịch sử đã chọn tốc độ
Không chọn chiều sâu
Chọn ai hét to
Chứ không chọn người im lặng.
Trăng anh - Không mờ vì yếu
Mà mờ vì không ai chịu dừng lại để nhìn lên.
Có những chiều
Bước một mình qua cầu Long Biên
Nhìn dòng sông chảy
Như tuổi trẻ anh từng trôi qua đó
Cũng trong một cơn mộng
Cũng từng rực sáng
Như trăng mười sáu Rồi rơi vào sương.
Không ai biết có một người
Đã từng năm năm lưu đày vì chống giặc
Mười năm ngồi viết sách
Hun đúc trí cho dân
Không ai biết có một người
Chỉ chịu nhượng một phần cho Tống Ngọc
Kẻ tài hoa bậc nhất thế gian…
Người không thích giành tranh
Nhưng vẫn mang chí lớn
Chí của trai thời loạn
Gửi vào dòng thơ thiêng:
“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Mắt xanh nhìn thẳng giặc Tàu,
Gan vàng nung sắt một màu kiên trung.
Cười ngang kiếp sống bần cùng,
Thà làm quỷ nước Nam không làm vương xứ Bắc!
Đầu đội trời, chân đạp đất,
Dạ như sắt đá, lòng như băng sơn.
Một tấc không lui, một phân chẳng nhụt,
Vì non sông quyết dứt đường về…” [1]
Anh tìm lại bạn bè
Những bạn bè đã mất
Anh tìm người đã khuất
Trong tập sách không trang
Không phải ai sinh ra cũng để làm sao băng
Không phải ai sinh ra cũng để làm tia nắng
Có người
Sinh ra để là ánh sáng dịu
Trong một căn phòng nhỏ
Không tên
Không lời ca tụng
Chỉ một vầng trăng
Vẫn treo đó.
Nhưng hãy tin:
Dù trăng có mờ trong mắt người
Thì vẫn sáng
Trong mắt trời.
Trăng vẫn gửi lời trong gió bấc:
“Sống còn không thể trông trời được
Ta liệu mà thương lẫn lấy nhau…” [2]
-------------------
[1] Bài thơ “Chí làm trai” được cho là của Nhượng Tống (1939)
[2] Bài Khóc Nguyễn Thái Học của Nhượng Tống (1933)
(Còn nữa)
Người gửi / điện thoại

