THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

TRẮC (PHẦN II - MÊ LINH)

Hà Phạm Phú
 
TRẮC
Phần hai:  MÊ LINH
 
Nhà sư Tát Đạt bốc cho Trắc một quẻ, được quẻ Trạch Sơn Hàm:
Hào sơ âm. Hào hai âm. Hào ba dương. Hào bốn dương. Hào năm dương. Hào thượng âm.
Nhà sư đoán:
“Quẻ Trạch Sơn Hàm chỉ sự cảm nhau của trai gái. Khi nam nữ giao cảm theo chính đạo thì hanh thông..”
 
I-
Lạc tướng Mê Linh kín đáo đón tiếp một khách thương từ Cửu Chân ra.
Ông khách thương đi cùng nhà sư có nước da ngăm đen, tên là Tát Đạt người Hinđi, hiện đang tu tại chùa Khải trên núi Thiên Thai. Nghe nói nhà sư từ Tây Trúc sang Giao Chỉ tu luyện được mấy năm, rồi đi qua Hàm Dương bên Trung Nguyên, giờ lại về Giao Chỉ. Thương nhân người Cửu Chân đem theo một bầy cả chục con voi chở đầy hàng. Bầy voi buộc ở một bãi đất rộng phía sau dinh thự. Đám gia nhân khuân vác hàng hoá chất vào kho đồng thời chuyển các loại vũ khí đóng trong các thùng gỗ, trong các bao tải làm bằng vải sui cho khách buôn.
Chủ nhân nói với khách:
“Thời Lữ Hậu nhà Hán, việc buôn bán giữa Nam Việt Quốc với nhà Hán ở Trung Nguyên bị cấm đoán, hàng hoá khan hiếm. Nay nhân Vương Mãng tiếm ngôi nhà Hán lập triều Tân, việc thông thương được nới rộng. Điều này có lợi cho việc lớn mà chúng ta đang mưu tính. Mọi chuyện ở phương Nam xin tôn ông xếp đặt cho.”
Khách thương nói:
“Người Hán mưu thâm, vừa dùng lợi ích mua chuộc, vừa tìm cách gây thù chuốc oán giữa các thủ lĩnh. Hiện nay ở Giao Chỉ không phải tất cả các bộ lạc đều đồng tâm nhất trí, thói ghen ăn tức ở, kèn cựa nhau, đèn ai nhà nấy rạng làm cho người Việt chúng ta suy yếu. Thưa lạc tướng, nếu chúng ta không nghĩ cách liên kết nhau lại thì nghiệp lớn nhà Hùng sẽ khó thành.”
Chủ nhân:
“Đa tạ, những lời gan ruột vừa rồi thật trúng ý tôi hằng nung nấu. Tôi đang nát óc nghĩ cách làm sao trả lời câu hỏi đó đấy.”
Lúc Lạc tướng và Khách thương trò truyện thì Hoà thượng Tát Đạt ý tứ lánh ra xa. Là người tu hành, Hoà thượng tỏ ra dửng dưng với thế cuộc, những chuyện mưu mô tranh bá đồ vương ngài đều cho lọt từ tai này sang tai khác. Những chuyện Lạc tướng và khách thương nói với nhau đối với ngài có khác gì như gió qua nhà trống. Sứ mệnh của ngài là truyền giáo, thì người Việt hay người Hán nào có khác gì nhau. Giáo lí của nhà Phật là duy nhất, sẽ phổ cập thế giới. Hoà thượng theo đuổi sứ mệnh cứu rỗi chúng sinh, một sự nghiệp đầy lòng nhân từ và bác ái, nhưng vẫn không khỏi có chút thiên lệch. Ngài nặng lòng yêu phong cảnh thơ mộng của Giao Chỉ, ngài thích sự hồn nhiên mộc mạc của đám Lạc dân phương Nam, vì thế mới bỏ Hàm Dương mà quay trở lại. Ngài lặng lẽ tách xa hai vị thí chủ, phóng ánh mắt lướt trên mặt sông Cái nước đỏ như chu sa, thấp thoáng mấy cánh buồm. Ngài tự hỏi mình, những cánh buồm phiêu du kia đi từ đâu và về đâu, có bao người đưa tiễn chúng và có bao người chờ đợi chúng? Không thể biết. Thương thay người đời, họ có khác gì những cánh buồm ấy, trôi trên giòng sông vô định, lấy gì mà giữ hướng? Mãi khi Lạc tướng Mê Linh và khách thương bàn xong chuyện công việc, cùng đi lại phía ngài, ngài mới như chợt bừng tỉnh, thoát ra khỏi một giấc mơ. Nhà sư nói:
“Tôi đi theo thuyền buôn từ Ấn Độ, vượt đại dương, rồi men dọc theo bờ biển xinh đẹp của các vị, thấy đời sống người dân hoang dã như cây cỏ, gặp mưa thì sợ mưa, gặp bão thì sợ bão, ai xéo lên cũng được, khổ sở chỉ biết than thân trách phận. Dân chúng cần được nâng đỡ tinh thần, cần sự vỗ về an ủi, cần được giải thoát?”
Lạc tướng Mê Linh:
“Người tu hành từ xa đến nhận xét thế là tinh. Nhưng dân Lạc Việt chúng tôi làm nghề cấy lúa, trồng dâu, nuôi tằm, biết nương theo sa bồi mà lấn ra biển, tôn thần núi làm Thần Hoàng để chống giặc nước. Dân tôi sống theo tự nhiên…”
Nhà sư nói:
“Những người dân trồng thuỷ đạo thật hồn nhiên, nhưng cam chịu quá, thành ra ngủ mê, cần sự thức tỉnh.”
Lạc tướng nghĩ, nhà sư này nói có điểm chí lí, cần phải thức tỉnh dân chúng. Trùm Lí với những bài hát của mình chẳng phải thức tỉnh sao? Nhưng có điều Lạc tướng băn khoăn, nghe nói sư Tát Đạt đã tu luyện ở Giao Chỉ, rồi bỏ qua Hàm Dương, nay lại trở lại Giao Chỉ, liệu có uẩn khúc gì chăng? Trùm Lí đã từng theo chân nhà sư, e rằng…
Hoà thượng Tát Đạt cắt ngang dòng suy nghĩ của Lạc tướng. Ngài nói:
“Bần tăng nhìn đôi mắt của Lạc tướng thấy từ tâm thoáng rộng, nhưng cũng thấy ý chí ngút trời. Ngài như con thuyền đang hướng ra biển lớn, cần có bánh lái…”
Lạc tướng chưa hiểu ngay ý nhà sư, bèn hỏi lại:
“Nhà sư nói là cần bánh lái?”
Nhà sư nói:
“Bánh lái là cái đạo mà chúng sinh cần…”
Khách thương chen vào một câu:
“Hoà thượng tôn kính, ngài muốn truyền đạo Phật ở Việt Nam?”
Hoà thượng chắp hai tay trước ngực, niệm:
“Mahatat Habatat…”
Lạc tướng nghĩ, vị khách thương nói đúng. Hiển nhiên nhà sư Tây Trúc này tới Giao Chỉ, không chỉ để tu luyện, ngài còn muốn truyền giáo. Người Hán sang Giao Chỉ đem đạo Khổng- Mạnh, dạy biết người sang, kẻ hèn, người sang thì ở trên có mọi quyền hành, kẻ hèn thì ở dưới, phải mang ân huệ người trên, mãi mãi là kẻ hèn. Nhưng sao lại cứ phải mãi như thế, cái tôn ti trật tự ấy có thay đổi được không? Chẳng hạn như Lạc tướng, là giòng dõi nhà Hùng, cha truyền con nối làm lạc tướng. Ở đất nhà Hùng, Lạc tướng cũng như người dân trồng dâu, nuôi tằm, cắt cỏ chăn trâu, cày ruộng Lạc mà ăn gạo, sống với nhau như cha con, như anh em, thân thiết như thủ túc. Đối với người Hán thì Lạc tướng là gì? Lạc tướng là kẻ hèn, là nô lệ. Vậy thì dân đen là cái gì? So với lẽ tự nhiên thật không thuận, như giòng nước bị nghẽn không chẩy được. Hoà thượng muốn truyền đạo, nhưng cái đạo của ngài như thế nào? Lạc tướng bỗng khát khao hiểu biết. Nhưng sự hiểu biết xa như chân trời, càng đi càng xa. Đầu óc con người thì đen đặc như đêm tối, ai có thể giúp thắp sáng một ngọn đèn. Hoà thượng dường như đọc được ý nghĩ của Lạc tướng, bèn nói:
“Người vô đạo thì trí óc như đêm tối. Người hữu đạo thì trí óc như có ngọn đèn thắp sáng, Lạc tướng cứ thử coi.”
Lạc tướng thấy lời Hoà thượng nói như viên đá lửa bật cháy bùi nhùi, bèn thưa:
“Tôi muốn theo học cái đạo của hoà thượng, nhưng không thể bỏ dân đen, có cách nào không?”
Hoà thượng nói:
“Con người sinh ra bước chân vào đời, là bước chân vào bể khổ, cái đạo của phật môn là cái đạo giải thoát khỏi bể khổ. Nỗi khổ nẩy sinh từ tâm, vậy thì diệt khổ cũng bắt đầu từ tâm. Vậy người có thể tu từ tâm. Khi tâm người sáng, người sẽ cứu giúp được dân đen.”
Lạc tướng nghĩ có thể lôi kéo nhà tu hành về phía mình, ông ta có học trò, nếu ông ta theo mình, học trò ắt cũng theo mình. Bèn nói:
“Dân quê chúng tôi, mới từ bóng tối bước ra, thấy nơi nào sáng thì đi về nơi ấy. Tâm hồn dân quê như thanh tre mới chẻ, chưa một nét khắc, một lần khắc lên là còn mãi mãi.”
Hoà thượng Tát Đạt nghe Lạc tướng nói thì mừng rỡ ra mặt. Người huyện lệnh này ý nghĩ vu khoát, tầm nhìn xa rộng, nếu quyết lòng tu hành thì phật môn sẽ nhanh cường thịnh, có thể khiến quốc sự nghiêng về phật giáo. Hoà thượng cất giọng khoan hoà:
“Phật tính của Lạc tướng thật dầy. Bần đạo nhờ có cơ duyên mới hạnh ngộ.”
Lạc tướng vội nói:
“Là nhờ ý chí của hoà thượng, tôi không dám nhận những lời khen ấy.”
Chủ và khách vừa nói chuyện vừa đi vào vườn cây. Trong vườn đã bầy sẵn tiệc. Kẻ hầu người hạ đi lại tấp nập. Cùng tiếp khách với Lạc tướng có bà Thiện. Khi mọi người an toạ thì từ sau vườn, gánh hát mà mọi người quen thuộc tiến ra. Người nữ đi trước hát rằng:
Non cao ai đắp mà cao
Sông sâu ai bới ai đào mà sâu
Rồng Tiên con cháu người đâu
Nước non non nước nỗi đau giống nòi…
Bà Thiện nghe hát, đôi mắt long lanh. Vị khách thương vỗ tay:
“Lời hát đặt hay lắm. Thưởng tiền.”
Nhà sư lim dim mắt, lẩm nhẩm gì đó trong miệng, rồi quay sang Lạc tướng:
“Lời đặt hát lên nghe véo von thật hay, nhưng mới chỉ thấy đám đông, chỉ thấy cộng đồng, chưa thấy con người.”
Lạc tướng đáp:
“Chúng tôi giòng dõi nhà Hùng, thực lòng muốn gây dựng lại giang sơn, nên trăm người phải như một, nhà sư có thể giúp gì cho chúng tôi để tác thành việc đó?”
Nhà sư:
“Đạo của Đức Phật coi mọi người như nhau, đều chìm ngập trong bể khổ, coi thế giới là nơi ở tạm. Đức Phật dạy cho con người biết cách thoát khỏi bể khổ ấy để lên cõi vĩnh hằng, gọi là niết bàn.”
Lạc tướng:
“Đạo ấy thật cao siêu, nhưng bây giờ chúng tôi cần những thứ thiết thực hơn.”
Nhà sư ngửa mặt lên trời:
“Con người khi mới sinh ra, nhìn thấy bờ sông bên kia mà không lội sang được. Phải đợi lớn lên.”
Câu chuyện giữa Lạc tướng và nhà sư bất chợt rẽ sang hướng khác. Không khí giao tiếp trở nên gượng gạo.
Trùm Lí từ phía dưới bước lên, đưa mắt liếc nhìn nhà sư, nhận tiền thướng từ tay Khách thương sau mới cúi chào Lạc tướng. Khi cúi chào, nhanh như cắt, Trùm Lí trao cho Lạc tướng một gói vải nhỏ, bên trong có chứa những điều bí mật. Lạc tướng nhìn Trùm Lí một cách ý nhị. Lạc tướng kéo Trùm Lí ra một quãng xa, hỏi:
“Môn đã sang đến Trường Sa Quốc chưa?”
Trùm Lí đáp:
“Mới lên đường hôm đầu tuần trăng. Khi nào có tin tôi sẽ báo với lạc tướng ngay.”
Lạc tướng bảo:
“Tốt rồi, tôi lúc nào cũng chờ tin của Trùm Lí đấy.”
Tiễn Trùm Lí ra ngoài xong, Lạc tướng nói với bà Thiện cho gọi Trắc và Nhì ra chào khách quí.
Vâng lời, người nhà đưa Trắc và Nhì vào. Hai cô cúi chào khách, định lui ra thì nhà sư giữ lại. Nhà sư nói:
“Tôi nom tướng cô nhà đây thật lạ lùng, bình sinh chưa thấy bao giờ.”
Bà Thiện cúi đầu khẽ thưa:
“Xin hoà thượng chỉ giáo.”
Nhà sư ngắm nhìn kĩ Trắc rồi nói:
“Đạo sinh ra Thiên- Địa- Nhân, người Hán gọi là tam tài, là Trời- Đất- Con người. Ba thứ ấy liên quan mật thiết với nhau, hoà hợp với nhau. Tướng thuật hình tượng hoá diện bộ con người như là vũ trụ, xem vầng trán là trời, xem mũi là người, xem cái cằm là đất. Lại chia diện bộ ra làm tam đình, thượng trung hạ, chính là vị trí của Trời, Người và Đất. Coi tam đình là tam chủ: thượng đình chủ sơ niên vận, trung đình chủ trung niên vận, hạ đình chủ mạt niên vận.”
Lạc tướng thời trẻ từng du họcTrung Nguyên, đã qua Trường An, cũng hiểu được phần nào thuật xem tướng của người Hán. Ông nổi tò mò, muốn nghe xem nhà sư đoán tương lai cho con gái mình thế nào, bèn nói:
“Chúng tôi xin cung kính nghe nhà sư chỉ bảo.”
Nhà sư chậm rãi:
“Diện bộ con người biểu thị dung mạo và nghi biểu, cũng thể hiện sức khoẻ và thế giới nội tâm. Ngũ nhạc, tứ độc của cô Trắc đẹp một cách tuyệt đối, tất cả đều trào ứng, chầu vào nhau. Tam đình của cô đầy đặn, dung mạo đoan chính, thần tĩnh khí hoà. Tướng cô là tướng phú quí, tướng của bậc đế vương, không thể xem thường.”
Dừng một lúc, nhà sư nói tiếp:
“Diện tướng của quí nữ sáng trong như ngọc, đầy đặn như nguyệt, diện bì của quí nữ đậm đà sau này tất sẽ khác thường. Đấy là nói chung, nếu muốn xem kĩ thì cần phải xem thêm ngũ tinh, lục diệu nữa.”
Khách thương nghe nói vậy cũng tỏ ra quan tâm:
“Tôi làm nghề buôn bán, phải quan hệ với nhiều hạng người. Có hạng người nhìn thấy mặt đã muốn bỏ đi ngay. Có hạng người, mình chưa biết gì về họ, mới nói dăm câu ba điều đã thấy tin cậy. Đó chẳng phải là do diện tướng hay sao? Diện tướng ấy đánh động linh cảm của mình… Tôi muốn nghe Hoà thượng giảng cho tầm mắt được rộng mở.”
Nhà sư thấy hứng thú, muốn cho người ta theo đạo học, thì đầu tiên hãy làm cho người ta thích, bèn nói:
“Nói đến diện tướng là nói đến ngũ tinh, lục diệu, ngũ nhạc, tứ độc. Ngũ tinh gồm có hoả tinh là trán, thổ tinh là mũi, mộc tinh là tai phải, kim tinh là tai trái, thuỷ tinh là miệng. Lục diệu gồm tử (tím) khí là ấn đường, la hầu là mày trái, kế đô là mày phải, nguyệt bội là sơn căn, thái âm là mắt phải, thái dương là mắt trái. Ngũ nhạc gồm hoành sơn là trán, hằng sơn là cằm, cao sơn là sống mũi, thái sơn là thái dương trái, hoa sơn là thái dương phải. Tứ độc gồm giang là tai, hà là mắt, hoài là miệng, tế là mũi.”
Khách thương nghe nhà sư giảng giải thì nghĩ rằng, việc xem tướng cũng không phải là cái gì quá phức tạp, chỉ cần nắm được phép coi ngũ lục ngũ tứ là có thể tự giúp mình. Bà Thiện nghe nhà sư đoán diện tướng của Trắc thì vừa mừng vừa lo, mừng vì nghe nhà sư nói tốt, lo vì nhà sư nói tốt quá. Bà bèn tìm cách kéo nhà sư sang hướng khác. Bà nói:
“Thưa hoà thượng, tôi là đàn bà, dù ít học nhưng cũng muốn khai mở kiến văn. Xin hoà thượng hãy đoán cho vị khách thương của chúng tôi đây.”
Hoà thượng cười, hiểu sự tinh tế, khôn khéo của người đàn bà này. Hoà thượng điềm tĩnh nói:
“Xin lạc tướng phu nhân hãy vui lòng chờ, việc đoán tướng mạo cần phải có cái tâm yên tĩnh, cái lí trí khoáng đạt. Như nói về vị khách thương của chúng ta đây…”
Khách thương chen vào câu chuyện:
“Hoà thượng với tôi là chỗ quen thân, đã quá hiểu nhau rồi…”
Nhà sư lắc đầu:
“Diện tướng là cái con người sinh ra đã có, dù có thay đổi theo tháng năm, từ hài nhi, thiếu niên, trung niên đến lão niên thì cái căn cốt luôn chỉ là một, có nói tốt mà không tốt vẫn là không tốt…Thành thử người thầy tướng có danh phận là người biết rõ sự minh bạch, sự công bằng.”
Bà Thiện kiên nhẫn lắng nghe, không thúc giục.
Hoà thượng nói tiếp:
“Bần tăng xin nói về diện tướng của vị khách thương đây:
“Hoả tinh (vầng trán) của quí ngài thật vuông vức, tất có kim chương thuộc hướng nam, thổ tinh (mũi) của quí ngài đáng tiếc không thật dầy, dầy mới là trường thọ… Tóm lại, ngũ tinh của một người như của quí khách thương đây thật rõ ràng, đều cao chiếu, tướng này sẽ làm được những việc phi thường, sáng chói như sao băng.”
Vị khách thương cười to:
“Nhưng mà thưa hoà thượng Tát Đạt, tôi có không ít thương vụ lớn thất bại, sao diện tướng của tôi không để lộ nhỉ?”
Hoà thượng cười nhẹ, như không thấy vẻ châm biếm của vị khách thương, nói:
“Còn ngũ nhạc và tứ độc…”
Bất ngờ Trắc chen vào:
“Bẩm với đại sư, Trắc cháu trộm nghĩ, Con người từ vô thuỷ vô chung mà sinh ra, chạy nhẩy hoạt động, trời đất quay cuồng, ai mà biết trước được?”
Nhà sư giật mình, chú mục nhìn Trắc. Lạc tướng, bà Thiện và vị khách thương nghe Trắc nói đều ngẩn người. Nhà sư khẽ kêu lên:
“Thiên cơ bất khả lộ!”
Bà Thiện sợ làm phật lòng nhà sư bèn đứng dậy, xin phép nhà sư đưa Trắc ra ngoài.
 
II-catru
Đất Chu Diên nằm ở phía tây- nam Mê Linh, lưng tựa vào dải Ba Sơn hùng vĩ, phía trước có sông Hũ trong vắt cuồn cuộn đổ vào sông Cái, từ trên đỉnh Ba Sơn nhìn xuống nom giống như mẹ con Giao Long vờn nhau, cuồn cuộn sóng. Cũng từ trên đỉnh Ba Sơn nhìn xuống, thành Chu Diên hiện lên một hình vuông xinh xắn, xung quanh được bao bọc bằng hào nước sâu, bốn cổng thành quay theo bốn hướng đông- tây- nam- bắc. Buổi sáng, dân chúng làm ăn đi ra ngoài thành, người nhỏ xíu như kiến, di chuyển hết sức chậm chạp.
Ngoài sông Hũ và sông Cái, Chu Diên còn có hệ thống sông ngòi chằng chịt, dân chúng Chu Diên đi lại chủ yếu bằng thuyền. Chu Diên có nhiều ruộng, nhưng nhiều ruộng trũng, ngập nước, lúa chỉ ăn một mùa. Ngoài công việc đồng áng theo mùa, người Chu Diên còn sinh sống bằng cách mò cua, bắt ốc, đưa ra chợ, đưa lên huyện lị bán hoặc đổi lấy những thứ cần thiết.
Huyện lệnh Chu Diên tên Thi là một người nho nhã. Nghe nói, cụ tổ Thi ngày xưa đi theo ông Thuỷ tranh cầu hôn con gái vua Hùng với ông Sơn, nhưng do không lo đủ lễ vật nên bị vua Hùng đuổi ra khỏi cung điện. Ông Thuỷ nghi vua Hùng không công bằng, thách cưới những thứ chỉ ông Sơn có, nên tức giận đem quân đánh ông Sơn hòng cướp lấy công chúa. Cuộc chiến dữ dội kéo dài nhiều năm, quân sĩ hai bên đều tổn thất nặng. Huyện trưởng Mộc, cai quản huyện Vu bây giờ vốn giòng dõi ông Sơn, tính khí ngang tàng, có phần hung dữ, thường ỷ mạnh hiếp yếu. Đất Vu là đất bán sơn địa, nhiều đồi núi, dân chúng phần đông được bữa hôm lo bữa mai, nghèo hèn thì sinh đạo tặc, vì thế thi thoảng vẫn lén sang Chu Diên trộm cắp, cướp phá. Huyện lệnh Thi đã nhiều lần gặp Mộc, bàn cách dẹp nạn, nhưng gặp mặt thì Mộc hứa hẹn cùng hợp tác, đến khi chia tay ai về nhà nấy thì đâu lại đóng đấy.
Hôm đó, một buổi sáng mùa thu, Huyện lệnh Thi dắt tay con trai là Sách, theo tục lệ của bộ tộc gọi là Thi Sách, tiễn ra phía cửa Đông để lên Luy Lâu học tập. Lần đầu tiên Thi kể cho con trai nghe chuyện đánh nhau giữa ông Thuỷ và ông Sơn, kể chuyện dân huyện Vu vẫn thường lén sang Chu Diên trộm cướp. Thi dặn con:
“Các bộ tộc người Việt ở Giao Chỉ còn trong trình độ mông muội, lại hay cướp phá lẫn nhau, vì thế không cường thịnh lên được. Đó là một điều con phải biết.”
Sách là một trang nam nhi khỏe mạnh, đầu óc sáng láng, học nhanh, nhớ giỏi. Nghe cha nói một lần đã hiểu ngay ý tứ của người.
Sách nói:
“Thưa cha, con hiểu, người Nam muốn cường thịnh thì phải bỏ cái lợi nhỏ, bỏ cái oán lớn, liên kết với nhau. Một cây gió dễ đổ, nhiều cây chụm lại bão lớn khó gẫy.”
Huyện Thi hài lòng, nói tiếp:
“Điều thứ hai ta muốn dặn con. Người đi săn muốn bắt được cọp thì phải vào tận hang. Lần này cha cho con lên Luy Lâu nhập học là nhằm tính chuyện lâu dài. Phải học những cái hay của người Hán, phải nắm những cái yếu chí mạng của quân cai trị. Vậy con đi phải giữ mình.”
Sách nghe như nuốt từng lời cha. Từ khi lớn lên, được cha chăm bẵm dạy bảo, Sách luôn kính trọng và tôn thờ cha, xem cha như người tài giỏi nhất trên đời. Mỗi lời cha nói đối với Sách đều như chân lí, đều chỉ về hướng tương lai. Sách thưa:
“Xin cha yên lòng, con luôn đinh ninh lời cha dặn.”
Thấy nói với con đã đủ rồi, Thi gọi đưa cương ngựa tới. Đôi mắt huyện lệnh bỗng thấy nóng lên, những giọt lệ e chừng sắp rơi. Thi gắng kìm tình cảm của mình, nói:
“Đến lúc lên đường rồi đấy con. Con nên nhớ rằng ở nhà nhất mẹ nhì cha, ra đường mới biết người ta phi thường…Thôi đi đi.”
Thi vừa dứt lời thì một viên tuỳ tướng vận võ phục gọn gàng,  dắt theo hai con ngựa tiến lại. Huyện lệnh nói:
“Đô Dương, ta giao phó cậu chủ cho ngươi. Đất lạ nhiều hiểm ác, làm việc gì cũng cần cẩn trọng.”
Đô Dương cúi đầu lễ phép:
“Xin Huyện lệnh không phải bận tâm, Đô Dương sẽ hết mình vì cậu chủ.”
Huyện lệnh nói không đi tiễn thêm nữa. Hai thầy trò Sách thêm một lần cúi chào, rồi mới giật mạnh cương ngựa, phóng đi. Đứng trước cổng thành nhìn bóng con trên lưng ngựa khuất sau làn bụi, huyện lệnh Thi nhìn thấy con đường trước mắt dài xa và ngoắt ngéo, khúc khuỷu. Gương mặt Thi bỗng già hẳn đi so với lần lên Liên Lâu chờ nghe lệnh cống nạp mới đây.
Đô Dương là một viên võ tướng của Thi, cũng là thầy dạy võ của Sách. Dương có vầng trán rộng, gồ lên, đôi mày xếch, chiếc cằm vuông. Đặc biệt đôi mắt rất sáng, tỏ rõ trí lự và thông minh. Là tướng võ, nhưng xuất thân đô vật, hai bắp tay Dương lúc nào cũng cuồn cuộn, biểu lộ một sức sống mãnh liệt. Thi tin cậy Dương không chỉ ở tài võ nghệ mà chính là lòng trung thành.
Dương đã hai lần cứu sống Thi. Một lần khi hai người đi săn gấu trên đỉnh Ba Sơn, thì bất ngờ gặp một toán cướp đóng giả thợ săn chặn đường đòi Thi phải nộp hết quả thực cho chúng. Bọn cướp có năm, trong khi đó bọn Thi chỉ có hai, dùng lực mà đấu với chúng thì chưa chắc thua, nhưng thế nào cũng khó tránh khỏi thương vong. Thi nói với Dương, nghe giọng bọn cướp cùng với cách trang phục của chúng, có thể đoán chúng là người huyện Vu, không nên động võ, phải dùng mưu lừa bọn chúng. Dương nói, xin huyện lệnh phó thác cho Dương việc này. Thi tin Dương, liền gật đầu cho Dương tự chủ trương. Dương tay không bước lên trước, làm ra vẻ chịu khuất phục, cất giọng cầu khẩn:
“Thưa năm vị hảo hán, chúng tôi là dân sơn tràng ở huyện Vu, tính đi săn kiếm ít thịt sấy khô dự trữ cho mùa đông. Tôi nhìn năm vị, biết chắc các vị không phải người phường săn, vì cần ít thực phẩm nên phải làm việc (cướp) này. Người đi săn thì phải thông thuộc đường lối, biết được tính thú, nắm được thói quen sinh sống, cách thức kiếm mồi của chúng. Việc ấy chúng tôi thành thạo. Chúng tôi săn được con nai to, giấu trong khe núi, tính đi gọi thêm bà con tới giúp khênh về. Nếu năm vị hảo hán không chê, chúng tôi xin biếu các vị toàn bộ phần thịt, chỉ xin giữ lại cái đầu, bốn cái chân và chiếc đuôi. Chúng tôi có nghề, sẽ săn con khác…”
Tên cầm đầu cười to:
“Đến cái mạng của hai đứa mày, chúng tao còn chưa định tha, lại còn xin lại cái đầu, bốn cái chân và chiếc đuôi. Chúng mày làm tao tò mò đấy. Mày xin những thứ đó để làm gì?”
Dương chậm rãi nói:
“Con người sinh ra trên đời, làm ăn sinh sống đều được các thần núi, thần sông, thần mưa, thần gió, thần lửa cai quản. Thần núi Ba Sơn ban cho chúng tôi con nai, chúng tôi phải tạ ơn thần. Chúng tôi cúng thần bằng cái đầu, bốn cái chân và chiếc đuôi.”
Tên cầm đầu ngẫm nghĩ một lát, nói:
“Làm sao lấy thịt? Mày đừng có tìm cách lừa chúng tao.”
Dương cười:
“Các người có năm, chúng tôi có hai, muốn lừa cũng không lừa được. Hảo hán có thể cắt người đi với tôi xuống núi xẻ thịt.”
Tên cầm đầu bảo:
“Để cho chắc chắn, chúng tao phải trói tay mày lại.”
Dương không tỏ ra sợ hãi, đáp:
“Chúng ta chưa đọ sức, chắc gì năm người thắng được hai chúng tôi. Sở dĩ chúng tôi sẵn sàng chia cho các người quả thực của mình, vì chúng tôi biết rõ các người không phải thợ săn.”
Dương nói ra những điều mà đám cướp này không nghĩ đến. Chúng cứ ngỡ hai tên thợ săn này gặp mặt chúng ở trong rừng đã hồn siêu phách lạc rồi, nào ngờ… Quả thật nếu đánh nhau chắc gì bọn chúng năm người đã thắng nổi hai gã thợ săn. Xưa nay chúng chỉ chặn đường những khách buôn đi lẻ, những người nhà quê chân yếu tay mềm. Thực chất chúng chỉ là những tên cướp đường, cướp vặt. Thói đời, mềm nắn rắn buông, cảm thấy đuối lí, tên cầm đầu quay lại đám tay chân:
“Hai thằng đi theo nó, kèm bắt nó mổ thịt, rồi đem thịt lên đây. Nếu nó có ý gì khác thì chém ngay. Ba chúng tao ở lại giữ thằng này.”
Dương đưa mắt nhìn Thi. Thi đáp lại bằng ánh mắt tin tưởng, ý bảo cứ tập trung ý chí mà làm, không phải lo lắng gì hết. Dương yên tâm vì huyện lệnh Thi là người võ nghệ xuất chúng, mưu việc như thần, hiện thời đang giữ được thế cân bằng. Sau lưng Thi là một cây cổ thụ che đỡ, đất hẹp, bọn cướp không thể vòng ra sau tấn công. Trước mặt Thi là khoảng đất rộng, bọn cướp chưa áp sát được. Hơn nữa, ngoài ngọn giáo to và nặng, Thi còn có một cây cung lợi hại. Dương nghĩ bọn cướp này nhất định sẽ thua, bèn bước lên mấy bước, nói to:
“Mời hai vị hảo hán đi theo tôi.”
Hai tên cướp lăm lăm cây gươm trong tay, áp sát Dương. Đi được một đoạn Dương nói:
“Nhị vị, nếu đi theo đường vòng thì tốn thời gian, chúng ta đi đường tắt.”
Rồi không để cho hai tên cướp kịp nói, Dương bước về phía sườn núi dốc đứng. Một tên kêu lên:
“Dốc thế này làm sao đi?”
Dương nói:
“Dễ thôi, nhị vị cứ làm theo tôi.”
Sườn núi này dốc đứng, nhưng là sườn núi cỏ. Dương bước tới nhoài mình, tụt xuống dốc. Hai tên cướp đứng trên nhìn xuống thấy Dương mất hút sau đám cỏ lau mọc cao thì lè lưỡi, lắc đầu. Đắn đo hồi lâu, hai đứa đành quyết định tụt xuống theo Dương.
Đám ba tên cướp lưu lại để giữ Thi, chờ mãi không thấy hai tên đồng bọn cùng Dương quay trở lại thì sốt ruột, bèn hạch Thi.
Một tên nói:
“Này thằng sơn tràng kia. Chắc thằng bạn mày bỏ trốn rồi. Nếu nó trốn, chúng tao sẽ thịt mày.”
Thi nghĩ thầm, Đô Dương là cao thủ, hai thằng cướp đường chắc chắn không khó đối phó. Sở dĩ cần phải phân tán chúng ra, vì Thi và Dương muốn nhân việc này dạy cho chúng một bài học. Thi bèn tìm cách kéo dài thời gian, cũng để gây áp lực với ba tên còn lại. Thi nói:
“Con nai lớn, xẻ thịt phải mất thời gian, các hảo hán nên thêm người xuống giúp.”
Tên cầm đầu nghĩ, nếu bớt đi một đứa, thì hai đứa còn lại khó mà khống chế được gã sơn tràng trông giống như thư sinh này. Nhìn đôi mắt gã sáng quắc, có thể đoán rằng, công lực của gã không phải tầm thường rồi. Tên cướp cười nhạt:
“Đừng có mà lừa lão gia.”
Bất ngờ từ phía sau ba tên cướp, vang lên một tràng cười lanh lảnh. Tên cầm đầu giật mình quay lại, mồm há hốc không nói được lời nào. Hoá ra hai tên đồng bọn đã bị Dương trói giật cánh khuỷu, dẫn đến. Hai tên vội sụp xuống, kêu:
“Đại ca ơi, cứu bọn em.”
Tên cầm đầu gầm lên:
“Thế là làm sao? Hai thằng lại bị trói?”
Hai tên mếu máo:
“Chúng ta mắc mưu bọn chúng rồi…”
Thi cười bảo:
“Này năm tên giặc cỏ, nói cho mà biết, để lần sau đừng bắt nạt những người sơn tràng. Chúng tao là những người trông vào hai bàn tay mình kiếm sống, đổi bát mồ hôi mới kiếm được hạt cơm, chúng tao không bao giờ để cho bọn mày cướp trắng. Nhớ lấy và giờ thì cút đi.”
Ba tên cướp vội co giò phóng thẳng, bỏ mặc hai tên bị trói. Thi bước đến cởi trói cho hai đứa, bảo:
“Hai đứa mày về tìm nghề khác mà làm, đi ăn cướp là việc làm bất nhân, không khéo thì mất xác. Đi đi.”
Hai tên cướp gục đầu vái mấy vái, miệng lắp bắp:
“Cám ơn tha mạng, cám ơn tha mạng.”
Lần thứ hai Dương cứu sống ông, cũng là trong một lần đi săn, săn chim bìm bịp, bị rắn độc cắn. Bìm bịp là giống chim quí, chuyên bắt rắn độc, thịt ăn bổ như thịt chim sâm cầm, ngâm rượu uống giúp cho đàn ông gần gũi đàn bà được lâu, mãnh lực tăng lên, cuộc sống ân ái thêm sâu đậm. Hôm ấy, vào buổi chiều, trời nhá nhem tối, phát hiện thấy có chim bìm bịp vừa bay chuyền vào đám tre dại trước mặt, Thi cầm cây cung gạt những nhánh cây che trước mặt, lao lên trước. Bất ngờ ông thấy cánh tay phải bị nhói lên như kiến đốt, nghĩ bụng kiến đốt chẳng hề hấn gì, nên bước tiếp. Nhưng chưa được dăm bước, thì cánh tay phải tê dại, mắt hoa mặt chóng, ông chỉ kịp kêu lên ối trời, rồi ngã lăn xuống đất, bất tỉnh.
Sau đó nghe Đô Dương kể lại, ông mới biết mình bị rắn độc cắn, chỉ chậm một khắc là hết phương cứu chữa. Dương thấy huyện lệnh kêu trời, rồi ngã xuống thì biết ngay là do rắn độc cắn, vội bế ra chỗ sáng. Chỉ trong chớp mắt, cánh tay phải của huyện lệnh từ mầu sáng chuyển sang mầu tím bầm, loang to rất nhanh. Dương lập tức rút con dao găm bằng đồng dắt sau lưng, rạch to vết rắn cắn và ghé miệng hút máu độc ra. Dương cứ hút như thế cho đến khi cảm thấy máu độc không còn gây nguy hiểm cho tính mạng của huyện lệnh nữa, mới vơ một nắm lá cỏ rác, cho vào miệng nhai, nuốt nước rồi rịt lên viết thương. Sau đó, lấy một viên thuốc chuyên chữa rắn độc cắn Dương lúc nào cũng bọc theo người, nhét vào miệng ông. Đợi chừng ăn rập miếng trầu thì huyện lệnh tỉnh lại. Ông hỏi:
“Ta làm sao thế nhỉ?”
Đô Dương khẽ đáp:
“Huyện lệnh bị rắn độc cắn. Bây giờ thì hết nguy hiểm rồi.”
Sau này khi nhắc lại chuyện ấy, Thi thường nói đùa:
“Con rắc độc đó không biết điều, lấy ơn trả oán.”
Từ đó, huyện lệnh coi Dương như anh em ruột thịt của mình.
Lần này Dương được cử đi Liên Lâu, vừa là để bảo vệ Sách, vừa cũng tìm cách nắm lề lối hoạt động của bọn cai trị. Hồi mùa hè Dương đã lên Luy Lâu, tìm thuê một căn nhà trọ ở gần trị sở của Tích Quang trong một dẫy phố yên tĩnh. Từ nhà trọ đến trường chỉ mất một thôi đường ngắn. Nơi ấy, ngoài một số học trò trường quận trọ học, còn có nhiều khách thương từ Trường Sa, từ Hợp Phố qua Giao Chỉ làm ăn trú ngụ, rất tiện cho việc đi lại tìm hiểu nắm tình hình. Lần đó Dương cũng tới coi ngôi trường mà Sách sẽ học. Ngôi trường mới xây, khá khang trang, nơi học tập, nhà thư viện đều theo lối Tràng An. Dương thăm dò còn biết có thầy tận bên Trung Nguyên sang dạy. Nghe Dương thuật lại những việc đã làm, Huyện lệnh cảm thấy an lòng, càng thêm quyết tâm cho Sách đi Liên Lâu.
Sách và Dương chia tay huyện lệnh, ruổi ngựa chạy một thôi dài, gặp nơi phong cảnh đẹp bèn lỏng cương, vừa ngắm cảnh vừa nói chuyện.
Bỗng phía trước có một đám bụi bốc cao. Đô Dương giục ngựa lên ngang với Sách, nói:
“Phía trước có một đoàn người ngựa đang chạy tới. Không biết họ là ai, chúng ta nên tạm lánh sang một bên.”
Sách gật đầu. Hai người ghìm cương ngựa rồi nhanh chóng rẽ vào một lùm cây thấp.
Phía trước xuất hiện một tốp năm kị sĩ phi nước đại tới. Đô Dương chăm chú quan sát. Sách hỏi:
“Ông có nhận ra họ là ai không?”
Đô Dương đáp:
“Không phải bọn người Hán. Hình như có một người tôi quen. Đúng rồi, tôi đã từng tỉ thí với người đó ở Long Biên, đó là một thầy võ rất giỏi, tên Năng Tế.”
Đúng lúc ấy thì năm kị sĩ phóng vụt qua. Đô Dương kêu to:
“Thầy Năng Tế! Thầy Năng Tế!”
Rồi giật cương ngựa đuổi theo. Một lát sau Đô Dương quay lại cùng với thầy võ Năng Tế. Hai người xuống ngựa, chào Thi Sách. Sách vội xuống ngựa, đáp lễ.
Đô Dương nói:
“Thưa cậu chủ, đây là thầy võ Năng Tế, nhiều tay đô vật nổi danh ở đất Giao Chỉ là học trò của thầy. Còn đây là Tiểu huyện lệnh Chu Diên, cậu chủ của tôi tên Thi Sách.”
Sách khiêm nhường nói:
“Thật vinh hạnh được biết thầy. Xin hỏi, giờ đây thầy đi đâu?”
Thầy võ Tế đáp lễ theo kiểu con nhà võ, rồi nói:
“Chúng tôi đi sang huyện Mê Linh theo lời mời của bà Thiện.”
Sách hào hứng:
“Nghe nói Lạc tướng Mê Linh là người kiệt hiệt, có bà Thiện giỏi giang phù trợ, giờ thêm thầy võ Năng Tế về giúp, thật là rồng mọc thêm cánh.”
Thầy Năng Tế đáp:
“Thưa Tiểu huyện lệnh, chúng tôi rất lấy làm vinh hạnh được gặp cậu chủ. Hy vọng sau này chúng tôi sẽ được cậu chủ sai khiến.”
Nói rồi bọn Năng Tế xin cáo từ, vì đường đất còn xa.
Sách chưa bao giờ tới Mê Linh, nhưng đã được nghe cha kể nhiều về mảnh đất phát tích của nhà Hùng. Cha nói, vua Hùng được trời ban cho nghề trồng lúa, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Vua đem nghề dạy cho dân Lạc làm ăn, sinh sống. Cha cũng kể chuyện ông Thuỷ, ông Sơn đánh nhau tranh giành một mị nương. Cha bảo đấy là một sự hủ bại, có lẽ vì thế mà nước Văn Lang suy yếu, để đến nỗi cơ nghiệp nhà Hùng rơi vào tay Thục Vương Tử.
Bất ngờ Sách hỏi Dương:
“Dương có biết hai cô con gái Lạc tướng Mê Linh là Trắc và Nhì không?”
Dương đáp:
“Đó là con gái sinh đôi của Lạc tướng. Tôi nhớ có được Huyện lệnh cho theo dự lễ đầy tôi của hai cô. Dễ đến mười năm trời rồi. Bà Thiện đón Năng Tế về Mê Linh là để dạy võ nghệ cho hai cô ấy.”
Sách không ngạc nhiên, vì con cháu của các Lạc tướng, huyện lệnh, huyện trưởng đều được rèn võ nghệ, được học chữ viết. Sách nói bâng quơ:
“Không biết hai cô ấy có xinh không nhỉ?”
Dương đáp với một vẻ nghiêm túc đặc biệt:
“Lạc tướng Mê Linh là một trang tuấn kiệt, bà Thiện là một người đẹp tuyệt trần, tôi chắc con gái họ phải đẹp.”
Sách bỗng mơ màng:
“Dương này, ta học xong thì nàng mười ba rồi đấy nhỉ. Con gái Việt mười ba tuổi đã đẻ con…”
Đô Dương ngạc nhiên nhìn Sách không nói gì. Hai người cứ để cho ngựa tự dẫn mình đi.
 
III-
Thầy võ Năng Tế nổi tiếng khắp một dải nam sông Cái và sông Hũ được bà Thiện mời về dạy cho Trắc và Nhì đứng đợi ở phòng khách. Lát sau bà Thiện dẫn con gái Trắc và Nhì ra. Bà Thiện nói:
“Theo lẽ thường, con gái phải học nghề canh cửi trước, nhưng gặp khi vận nước như vầy, đành phải học đánh gậy múa côn trước, đặng mà khôi phục giang san. Mong thầy hết lòng chỉ bảo. Hai con, mau chào thầy.”
Trắc và Nhì cùng tiến lên, cúi chào thầy. Trắc nói:
“Thưa thầy, con là Trắc, em con là Nhì.”
Thầy Năng Tế nhìn hai cô học trò nhỏ, con nhà Lạc tướng, thấy tướng mạo phi phàm, nghĩ bụng con nhà giòng dõi có khác, sau này danh phận sẽ không phải tầm thường. Thầy nói chân thành:
“Thầy rất mừng được Lạc tướng phu nhân tin, giao cho trọng trách luyện võ cho hai mị nương. Việc luyện võ phải bỏ nhiều công, phải tốn nhiều sức. Thầy mong…”
Thầy Năng Tế biết, nói chuyện với những người bề trên, những người thông minh thì không cần thiết nói hết những điều mình nghĩ. Trắc thấy ông thầy dạy võ của mình tính khí nhu hoà, dễ gần bèn nói:
“Thưa thầy, con hiểu, học đánh gậy múa côn thì có được sức khoẻ, bảo vệ được mình, nhưng con thấy chưa đủ, con muốn học như Lạc tướng cha khiến được mọi người cùng đồng lòng, như khiến được phường săn bắt sống cọp dữ.”
Bà Thiện nghiêm khắc nói:
“Đó là việc lớn, lâu dài. Con hãy làm thật tốt những việc đầu tiên thầy Tế sẽ dạy con…”
Thầy Năng Tế đỡ lời:
“Thưa bà, cô Trắc tuổi nhỏ trí lớn, thật đáng khen. Nhưng thưa tiểu thư, đánh gậy múa côn không chỉ có dùng sức, còn có dùng mưu, học đến chỗ tinh diệu thì một có thể địch mười. Mỗi một thế võ đều có văn chương trong đó.”
Bà Thiện khen phải, nói:
“Các con hãy theo học thầy cho chăm chỉ, rồi mẹ sẽ cho các con học binh pháp.”
Thầy Năng Tế được lời bèn xin phép bà Thiện, cầm tay hai cô học trò dẫn lên giảng võ đường.
Xin không dài dòng về việc miệt mài học tập của Trắc và Nhì.
Một hôm bà Thiện ghé vào giảng võ đường xem hai con học tập. Thầy Năng Tế thưa:
“Thưa bà, bình sinh tôi chưa gặp người trò nào lại sáng dạ, thông minh, mạnh mẽ như hai mị nương nhà chúng ta, đặc biệt là Trắc. Những thế võ của thầy được Trắc vận dụng chế ra thế võ mới khiến thầy đôi khi cũng phải ngạc nhiên. Đặc biệt khi học binh pháp, Trắc bao giờ cũng có kiến giải độc đáo. Thật là thiên bẩm.”
Bà Thiện rất lấy làm mừng, nói:
“Đa tạ thầy. Tôi sẽ nói lại chuyện này cho Lạc tướng biết, để người yên tâm. Thầy từ bên núi Cha về với chúng tôi, thời gian cũng đã dài, nghĩa thầy trò có khác gì nghĩa cha con, vì thế có việc cơ mật xin giãi bầy cùng thầy.”
Thầy Năng Tế đáp:
“Thưa bà, tôi xin lắng nghe.”
Bà Thiện:
“Lạc tướng là giòng dõi vua Hùng. Giang Sơn nhà Hùng được lập nên có thể sánh cùng nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu. Tần Doanh Chính phái binh đánh xuống Lĩnh Nam cũng không động chạm đến được Văn Lang. Triệu Đà dùng kế lấy Thành Ốc, học theo nhà Hán mà chia đất ta thành quận huyện, lập Nam Việt Quốc, nhưng những người kế nghiệp ươn hèn cuối cùng cũng quì gối dâng cho nhà Hán. Lạc tướng không muốn mình và vợ con mình, dân chúng của mình và giang sơn nhà mình mãi là nô lệ của dị tộc, vì thế đang ráo riết vận động mọi người tìm cách thu lại giang sơn, để người Việt được sống như mình hằng sống.”
Thầy Năng Tế:
“Thưa bà, khi chưa đặt chân lên đất Mê Linh tôi đã được Trùm Lí kể cho biết trí lớn của Lạc tướng. Từ đó tôi đã đinh ninh, chỉ cần Lạc tướng gọi một tiếng là tôi xin nguyện cầm giáo đi đầu.”
Bà Thiện vô cùng vui mừng:
“Trước khi nói chuyện với thầy, tôi đã nghĩ rằng thế nào thầy cũng thuận lòng. Thật là hồng phúc cho nhà Hùng.”
Thầy Năng Tế trỏ về phía cuối giảng võ đường, nơi Lạc tướng lập một trường bắn. Bà Thiện hướng mắt theo, thấy Trắc và Nhì treo những con búp bê Hán, vốn do quan Thái thú gửi tặng, làm mục tiêu để tập bắn cung.
(Còn nữa)
 
 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 5
Trong ngày: 60
Trong tuần: 1066
Lượt truy cập: 31558
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.