THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

NHỚ THẦY HỌC CŨ

Đỗ Hàn
               
NHỚ THẦY HỌC CŨ
 
    Tôi nhớ những ngày chớm hè năm ấy! Để chuẩn bị cho công tác hè của Thanh thiếu nhi, chúng tôi, những cán bộ Đoàn ở các trường được tập trung đi tập huấn ở Trường Đoàn Phú Thọ. Nhận tin từ quê: Thầy Cầm Giang mất. Thầy mới 59 tuổi! Chúng tôi không về ngay được, chủ nhật mới về viếng Thầy, công việc chôn cất đã xong. Trên ban thờ chỉ còn di ảnh. Đôi mắt ấm áp với khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu của Thầy đăm đắm nhìn mấy đứa học trò cũ.
    Ngày ấy, đường về quê tôi lỏng chỏng những sỏi đá. Con đường làm trong chiến tranh đã hỏng, chưa sửa chữa gì.  Đường về nhà thầy ở thôn Khách Nhi còn vất vả hơn nhiều. Những vạt mía chĩu ngọn, xoà xuống con đường nhỏ đổ gạch vỡ, mấp mô những ổ trâu, ổ gà. Ấy thế mà thầy tôi đã lóc cóc đạp xe trên những con đường ấy trên 30 năm, khi thì về chôn vợ, chăm con, khi lên lớp giảng bài, khi đến nhà chăm sóc bệnh nhân…
  Hai mươi năm đã qua, kể từ ngày nhà thơ Cầm Giang qua đời- mùa hè 1989, đã có rất nhiều thầy, nhiều anh chị là bạn văn, bạn giáo của Thầy viết về Thầy, về nhà thơ Cầm Giang. Những lời ưu ái ngợi ca cũng nhiều. Nhưng cũng có một số bài lại có cách nhìn không tránh khỏi lệch lạc. Nhà văn Hoàng Quảng Uyên từng viết: “ Cầm Giang đã tạo nên một miền thơ Tây Bắc”. Đúng là sau này khi lớn lên, được đọc Cầm Giang, được nghe nhiều về ông, chúng tôi càng thấy nể phục và đặc biệt là thầm hạnh phúc khi được làm học trò nhỏ của ông.cam-giang-vanvn
  Nếu nói thầy Cầm Giang dạy Văn thì chưa đúng hẳn. Tôi nhớ, ngày ấy nhà trường có Tổ Xã hội, Tổ Tự nhiên. Tôi là lớp trưởng nên cũng thường được lên phòng họp của các thầy cô. Tuy thời khoá biểu ghi rõ: Dạy Văn - thầy Cầm Giang, dạy Toán (Hình) - thầy Nguyễn Văn Bình, dạy Toán (Đại) - thầy Văn Đăng Cát, dạy Vật lý - thầy Lê Hoài Lam, dạy Thể dục - thầy Đỗ Quang Huy,v.v… Nhưng tôi nhớ có mấy ngày thầy Bình đi họp trên huyện, chúng tôi được thầy Cầm Giang dạy hình học. Thầy vẽ hình, phân tích, chứng minh… “siêu” không kém gì các thầy cô khác.
   Đọng lại trong tôi là những buổi thầy nói chuyện ngoại khoá về Truyện Kiều. Năm 1971, 1972 máy bay Mỹ bắn phá ác liệt. Quê tôi nằm trọn giữa ba bến phà chiến lược qua sông Hồng. Hàng đêm, từng đoàn xe, pháo ầm ầm qua phà sang Sơn Tây rồi từ đó qua Hoà Bình, theo đường mòn Hồ Chí Minh vào chiến trường. Trọng điểm bến phà như thế nên năm trên chín thôn của xã Vĩnh Thịnh đã hứng chịu 14 quả bom tấn của Mỹ. May sao, đó đều là bom nổ chậm nên công binh đã kịp về tháo gỡ. Chúng tôi đội mũ rơm, xách đèn ống bơ, học đêm dưới nhà hầm.
  Truyện Kiều thầy tách ra từng chủ đề: Cái đẹp của thiên nhiên, của con người… Cái “ác”, cái “thiện, cái nhân nghĩa”v.v…Mỗi một chủ đề như thế, thầy lại giành một buổi chiều thứ 5 của một tuần trong tháng nói chuyện cho chúng tôi nghe. Có buổi, chúng tôi ngồi bệt trên nền chùa thôn An Lão, nghe thầy bình Kiều. Trời tối hẳn rồi mà học sinh ba lớp 7 chúng tôi cứ lặng đi. Khi ông Thống (trông chùa) lên thắp nến trên ban thờ Phật, trò vẫn chăm chắm nghe thầy. Ánh nến lắt lay trên những bức tượng Phật đỏ tía vừa làm chúng tôi rờn rợn, vừa làm chúng tôi thích thú liên tưởng đến những nhân vật Từ Hải, Hồ Tôn Hiến…
     … Sau này, khi tôi đã làm giáo viên, được gặp  thầy nhiều hơn, có những cuộc gặp rất tình cờ.Tôi nhớ nhất buổi gặp thầy trong một đêm đi xếp hàng mua gạo!
Ngày ấy, mỗi giáo viên được phân phối mỗi tháng 13 cân gạo. Người già và trẻ em ăn theo thì tuỳ theo tuổi mà Nhà nước quy định 5 hay 7 cân gì đó. Đi mua gạo là cả một nỗi cực nhục. Phải dậy từ hai, ba giờ sáng, đến cửa hàng mậu dịch, thò tay qua cái cửa có song sắt, đặt sổ trên mặt cái bàn ọp ẹp . Sáng ra, may được mua sớm.
Đêm ấy, trời rét buốt. Quãng 2 giờ sáng, tôi đến đặt sổ đã thấy thầy ngồi co ro trên hè cửa hàng gạo. Chiếc áo bông đã sờn, quay phía lưng ra, che ngực. Tôi nhận ra thầy nhờ chiếc áo bông ấy.  Hai thầy trò trải một chiếc tải ra ngồi, ngực chùm tấm nilong tránh gió. Dưới bóng đèn điện đỏ quạch treo trước cửa kho gạo. Thầy hỏi tôi:
- Anh viết được nhiều chưa?
Thầy gọi tôi bằng “anh”, nghe vừa lạ lẫm vừa làm cho tôi thấy mình lớn bổng lên. Thì ra thầy vẫn theo dõi mỗi bước đường tôi đi!
Tôi vội vàng khoe:
 - Em viết nhiều là khi trong quân ngũ, viết cả thơ cả truyện thầy ạ! Cũng được đăng trên Văn nghệ quân đội và  đọc ở đài phát thanh…
- Tôi cũng đã được đọc rồi! Nhưng từ ngày về làm giáo viên, có viết nữa không?
Tôi thành thật:
- Cũng không có thời gian thầy ạ. Thầy tính, bù đầu với soạn bài, lên lớp, rồi lo cơm áo, gạo tiền…
Thầy hắng giọng rồi buồn buồn nói:
- Cái nghiệp bút mà lơi ra là ngại lắm đấy! Không viết liên tục là dễ đứt quãng lắm. Dừng viết rồi, sau ngồi viết lại , khó khăn vô cùng! Tôi đã trải qua những ngày như thế!
…Ngày học thầy, chúng tôi còn nhỏ. Không biết, mà cũng không dám hiểu về hoàn cảnh nhà thầy. Chỉ thấy người lớn trong thôn nói:
- Cái ông Giang ấy, trông mặt mũi phúc hậu thế mà khổ! Vợ chết sớm, một mình nuôi ba con nhỏ! Thật đúng là cảnh “gà trống nuôi con!”
Rồi lại có tiếng xì xầm:
- Ông ấy ghê lắm đấy! Con nhà địa chủ đấy! Từ Thanh Hoá, trốn quê, bỏ vợ ra đây !
Một lần mẹ tôi bảo:
- Ông giáo Giang sắp lấy cô Chắt – bà nhấn mạnh - Chắt Lược, ở xóm Mèo, người họ Đỗ nhà mình đấy! Cái cô ấy cũng vất. Lấy chồng bao nhiêu năm mà chẳng có con. Bây giờ về ở với ông giáo Giang khéo lại hay!
Rồi có lời đồn :
- Ông Giang chữa bệnh giỏi lắm! Bệnh gì đến ông ấy chỉ cần hai hay ba mũi tiêm là khỏi hẳn. Không biết ông ấy tiêm thuốc gì mà tài thế!!
Có người ra vẻ hiểu biết hơn:
- Tôi biết thừa cách chữa bệnh của ông ấy rồi! Đau đâu là tiêm đấy. Dân mình hay bị sốt. Mà sốt là viêm nặng rồi!!! Kháng sinh liều cao ông ấy cứ tảng mạnh vào là khỏi !!! Nhưng ông ta khôn lắm, lấy B1 làm nước cất nên không sợ choáng! Tôi đã nhìn ông ta tiêm rồi mà!
  Không hiểu những chuyện ấy đúng sai, hư thực thế nào, chỉ biết rằng thầy rất đông bệnh nhân. Thầy điềm đạm nên cũng có nhiều người tìm đến chữa bệnh.
Suốt mấy năm học, tôi chưa thấy thầy nổi nóng bao giờ. Thầy thường bước vội vào lớp, đặt chiếc cặp to đùng lên bàn rồi hỏi cả lớp: “ Các em , các em có biết hôm nay tôi gặp gì không ?” Cả lớp lặng im chờ đợi! Thầy thường sẽ kể một chuyện gì đó rồi dẫn chúng tôi vào bài học. Có hôm thầy kể: “Hôm nay trên đường đi, tôi gặp một cậu bé cứ ghì chặt dây chạc, kéo căng ra, cố lôi bằng được chú trâu qua đường, chú trâu không chịu sang, trong khi đó một đoàn ô tô đang đứng chờ, bấm còi inh ỏi!!!”- Chờ cả lớp lặng xuống, thầy bảo: “Thế đấy, nhà nông ta tham gia vào cuộc sống hiện đại không khéo lại cản trở cuộc sống ấy cũng nên!” Rồi thầy dẫn dắt từ câu chuyện đó vào tác phẩm Cái sân gạch của Đào Vũ lúc nào không hay. Chúng tôi há hốc mồm lắng nghe, quên cả ghi chép. Có buổi thầy đang say sưa giảng. Một bạn ngồi gần cửa sổ mơ màng nhìn ra ngoài. Ngoài kia là bãi mía xanh mát mắt, đôi chim chích choè líu ríu. Thầy đến gần bạn đó, khẽ vỗ vỗ lên mặt bàn: “Kìa em! Sao thế?” - Thầy dừng một lát rồi cao giọng đọc - “Người một nơi, hồn một nơi… Bơ vơ lạc lõng bốn phương trời… thế em?”. Cả lớp cười ồ lên. Thầy chầm chậm bước về bục giảng. Rồi có bạn trong một buổi học đêm, gục xuống bàn, ngủ gật. Thầy  đến bên. Cả lớp nín thở nhìn thầy, chờ một tiếng quát gọi! Nhưng không. Thầy khe khẽ vỗ lên vai bạn và đọc to: “Giấc Nam Kha thấy bầt bình, bừng đôi mắt dậy, hoá mình tay không…” Cả lớp rào lên thích thú rồi học tiếp thật thoải mái.
…Cái đêm rét run người, ngồi chờ sáng để mua gạo ấy, tôi chưa hiểu và ngấm hết sự sâu sắc của thầy nên rất ngây thơ hỏi:
- Ngày trước,thầy viết và được in có dễ  dàng không ạ?
- Đấy lại là cả một vấn đề anh ạ! Có bài viết một mạch, hai ba mươi phút là xong. Nhưng cũng có bài đến 10 năm sau vẫn ám ảnh, băn khoăn vì một chữ chưa ưng  ý. Viết rồi mà không được in, không được đăng báo thì cũng buồn . Nhưng để được đăng báo, được in thành sách thì cũng không đơn giản !!!
Giọng thầy bỗng trầm xuống, đưa tôi về thời học trò:
- Viết hay đã khó, hay mà hợp với thời cuộc càng khó! Điều đó phải cân nhắc từng câu, từng chữ đã đành! Nhiều khi phải “khéo” nữa! Thơ mình viết, gửi in có khi phải ghi bút danh khác. Thậm chí náu dưới danh nghĩa dịch từ câu hát, lời cầu khấn của người thiểu số… Ngày tôi ở Tây Bắc, được in nhiều nhưng cũng gặp nhiều trớ trêu. Tập “ Thành Rồng, Thành Hổ” ra đời, đã có không ít tiếng xì xèo. Nào là Chủ nghĩa cá nhân nhiều quá, nào là không có nhiều bài ca ngợi, động viên…Rồi các bài thơ được in trên báo trung ương và mấy tập sau cũng có tiếng này tiếng nọ.  Một lần, một câu thơ mình đã ghi là: Dịch từ câu hát của đồng bào Thái: “Nếu không lấy được em, anh sẽ làm cướp giữa rừng, làm ma giữa bản”. Trao đi đổi lại mãi mới được in . Một đồng chí lãnh đạo của Ban Tuyên huấn khu Tự trị lúc ấy đã để mắt đến, ông khăng khăng khẳng định: “Người Thái không có câu nói nào kiểu đó! Tôi là người Thái chính cống đây mà đâu có nghe bao giờ?”.  Đến khi biết tôi là người Kinh. Ông càng thành kiến. Ông cho rằng tôi đã bôi xấu dân tộc ông. Rồi ông cho người  tìm hiểu lý lịch của tôi. Đến đó những chuyện tôi trốn nhà đi bộ đội thì không được nhắc đến. Chuyện gia đình tôi là địa chủ, chuyện tôi bỏ cô vợ tảo hôn ở Thanh Hoá thì được thổi bùng lên. Thế rồi thông báo gửi về nơi tôi công tác. Rồi những tiếng xì xầm: Tôi là kẻ dấu mặt, khai man lý lịch với tổ chức, thay tên đổi họ… định leo cao làm cán bộ. Anh biết không, đồng chí cán bộ tuyên huấn ấy cũng làm thơ. Chà, giờ nghĩ lại…- Thầy lắc lắc đầu, im lặng!
Tôi thấy mắt Thầy chớp chớp, nhìn về phía bóng đen hàng cây trước mặt mà như xa thăm thẳm! Thầy nói tiếp:
-Tôi xuất ngũ, về làm công nhân ở Thái nguyên, định không viết nữa. Nhưng làm sao buông bút được ? “Đã mang cái nghiệp vào thân…” rồi! Nhưng lúc này viết cái gì cũng gờn gợn, cũng lo lo. Tôi gắng viết sao cho đẹp, cho đúng đường lối mà đâu đã được yên? Cái “lý lịch xám màu” đeo đẳng tôi về tận nơi dạy học! Tôi biết, ngày ấy ở quanh tôi, nhiều đồng nghiệp, nhiều anh chị lãnh đạo vẫn nhìn tôi như một “kẻ có vấn đề”! – Thầy bỗng cười, cái cười buồn đến nao lòng…
Thảo nào, thầy tôi là cán bộ y tá giỏi trong quân đội và ở mỏ Cẩm, rồi là giáo viên giỏi nhiều năm ở Vĩnh Phúc, giáo viên giỏi toàn Miền Bắc, nhưng chưa bao giờ giữ chức vụ cao hơn chức tổ trưởng. Và, thầy tôi chưa bao giờ được đưa vào xét là đối tượng cảm tình Đảng!
         Tôi lặng đi mấy phút rồi hỏi thầy:
-Thế cái chuyện in “Nhớ vợ” với “Em tắm”, thấy ghi là dịch thơ, mà tên tác giả là Cầm Vĩnh Ui và Bạc Văn Ùi là thế nào ạ?
Thầy cười đôn hậu:
- Thì vẫn trong cái mạch ấy cả! Anh không thấy sao? Đang đánh giặc tơi bời, đang động viên bộ đội yên tâm đi chiến đấu lại nói chuyện “nhớ vợ”, xin về…rồi dọc cả giấy khen của trên trao… ai chấp nhận được? trừ khi anh bộ đội đó là người thiểu số!!!
Tôi gật gù, lẩm nhẩm đọc lại mấy câu thơ giản dị mà hút hồn người…
         Có lần thầy thân tình bảo tôi:
- Nghề giáo đã nhọc nhằn, nghề cầm bút còn cực nhọc gấp bội anh ạ! Anh cũng nên lượng sức cho mình!
Những hôm như thế tôi lại thấy mình thật bé bỏng trước người thầy đáng kính và gần gũi. Quá khứ lại ùa về.
…Tôi nhớ như in sân trường ngày ấy. Cả trường đắm trong bầu không khí thơ ca. Từ cổng trường đi vào là các câu thơ hay dự thi . Thầy Giang và tổ Xã hội “phát minh” ra cách thi ấy và phát động ra toàn khối lớp 7. Mỗi tuần, mỗi học sinh tìm, chọn một câu thơ hay nhất mà mình thích. Các câu thơ được viết vào một mảnh giấy kẻ ô ly, gấp làm bốn, kẹp vào đầu một thanh tre, cắm dọc từ cổng trường vào. Các thầy cô sẽ lần lượt đi chấm. Chọn được câu thơ nào hay nhất trong tuần thì thông báo lên bảng tin và đầu tuần sau trao giải. Giải thưởng chỉ là hộp bút chì (ngày ấy chưa có bút bi) hay một cuốn vở 36 trang. Nhưng không khí nhà trường sao mà náo nức. Tôi nhớ ngày ấy thơ Tố Hữu được chọn và dự thi nhiều nhất. Thơ của Nguyễn Bính hay Xuân Diệu ai mà tìm được câu nào thì hay vào giải.
Sau đó, các thầy tổ Tự nhiên cũng tổ chức thi những lời giải toán hay, làm cho sân trường lúc nào cũng náo nức.
Trên tường lớp, thầy Giang cho kẻ những câu thơ màu đỏ, đóng khung vuông vức . Tôi nhớ các dòng chữ: “Chú ý nghe giảng, sáng mắt sáng lòng”, rồi “Hăng hái phát biểu, chóng hiểu nhớ lâu” hoặc “Học giỏi không kiêu, thầy yêu bạn mến”,v.v…
Những câu răn như thế, còn ấn tượng trong chúng tôi đến bây giờ…
Đọng mãi trong tôi là hình ảnh thầy Giang thường đạp chiếc xe Trung Quốc màu đen (dân quê gọi là xe “Trâu”) đến trường. Thầy cao, to, phải chừng trên mét bảy, tóc húi cua. Mùa hè thầy thường mặc chiếc áo bộ đội, màu ngả vàng, cổ vuông. Mùa đông, thầy “diện” hẳn một chiếc áo bông to, màu cỏ úa, trên đầu là chiếc mũ bông kiểu bộ đội biên phòng. Những ngày mưa, thầy  thường đi đôi ủng cao su đen. Sức thầy khỏe, nên làm việc gì cũng ít ai bằng. Những buổi học sinh  các lớp lớn lao động, thầy thường luôn tham gia. Thầy gánh hai sọt đất đầy, chạy phăm phăm. Nhiều thầy cô nhìn theo ngưỡng mộ. Thầy đến lớp rất đúng giờ , ít khi đến sớm quá, mà cũng không bao giờ vào lớp muộn. Có buổi trưa, thầy trải nilong dưới gốc bàng, giở cơm nắm ra ăn. Một nắm cơm độn ngô, chủ yếu là ngô.   Ăn xong, thầy ngả lưng nghỉ ngơi dưới gốc bàng và chiều lại lên lớp bồi dưỡng học sinh giỏi.
Tôi là học sinh được thầy dạy thêm vào các buổi chiều như thế!
Cũng chính từ những buổi chiều học thêm ấy mà thầy đã nhen trong tôi sự say mê sáng tạo. Một câu thơ chúng tôi viết:
     “Tấm ván cầu ao thôi bập bềnh
      Bậc gạch hồng ai đó đãi ngô vôi…”
Đã được thầy mang ra phân tích cho cả tổ Xã hội  nghe và hàng tháng sau thầy còn nhắc.
  Thầy “bắt” học sinh lớp bồi dưỡng phải tự nâng cao mình bằng cách phải đặt ra mục tiêu: Mỗi ngày đọc và thuộc ít nhất 5 câu thơ. Nhiều ngày, nhiều năm sẽ có một vốn hiểu biết về thơ kha khá .Với thầy: Đọc và thuộc thơ cũng là hiểu biết!
Đến giờ tôi vẫn giữ thói quen đọc thơ, có khi đọc nhiều hơn thế. Nhưng thuộc thì có lẽ không còn được như ngày xưa! Tôi tự hỏi: Phải chăng vì thơ bây giờ nhiều quá hay do trí nhớ của mình giảm sút ?
   Năm 1985 tôi ra quân,  Ngày ấy, đất nước vẫn trong thời bao cấp, chưa bước vào đổi mới. Đời sống giáo viên gặp muôn vàn khó khăn, lương tháng chỉ vừa đủ mua yến gạo ngoài chợ. Tôi vừa dạy học, vừa kẻ vẽ thuê, làm thêm tối ngày, ít  có thời gian  về thăm quê và thăm thầy. Mà về thăm thì thầy thường không có mặt ở nhà. Được biết thầy đã nghỉ hưu cách đấy hai năm. Thật khó mà tưởng tượng được thầy phải bươn chải thế nào để nuôi đủ 8 miệng ăn? Thầy và bà Chắt được thêm 3 em nữa là Vĩnh, Yên, Hoá. Các em đều còn nhỏ; ba em  con bà Kiên (đã mất) là Thái, Nguyên, Nhi cũng chưa ai có nghề nghiệp gì! Bà Chắt là xã viên Hợp tác xã, thu nhập chẳng được bao lăm. Cả nhà trông tất vào đồng lương hưu và túi thuốc chữa bệnh của thầy.
Có một buổi sáng hai thầy trò đã đong được gạo rồi, khi buộc lên xe thì tải gạo của thầy xô lệch đi, lạt buộc bị đứt, một ít gạo chảy xuống. Thầy lập cập buông xe đạp và túm lấy miệng tải. Mọi người xúm lại giúp Thầy. Xong xuôi, tôi bỗng thấy thầy tìm một miếng bìa cactông vun gọn những hạt gạo lẫn sỏi đất, cho vào một tờ giấy báo gói lại, buộc lên xe. Tôi ngạc nhiên nhìn thầy. Thầy vỗ vỗ vào bọc gạo lẫn sỏi rồi nói nhỏ với tôi: “Mang về cho gà em ạ! Gà quê mình có được ăn gạo bao giờ đâu?” Hai thầy trò đạp xe đi mà lòng tôi cứ bẫng hẫng.
   Câu nói của Thầy làm tôi chạnh nhớ đến câu chuyện được nghe các thầy khác kể lại. Thầy Phùng Ngọc Liên, thầy Lê Đình Quảng là những thầy dạy giỏi văn của Tỉnh, cũng là đội ngũ giáo viên “màng lưới” với thầy Cầm Giang – nghĩa là những người chuyên đi bồi dưỡng giáo viên khác và bồi dưỡng học sinh giỏi. Các thầy kể: Ngày ấy đi họp ở đâu, muốn báo cơm là phải nộp tem phiếu, mà nộp nhiều thì lại giảm tiêu chuẩn đong gạo ở nhà . Chỉ những lần kết thúc đợt tập huấn, Ty Giáo dục mới tổ chức nấu cơm liên hoan cho giáo viên. Gọi là liên hoan nhưng chỉ có thêm đĩa cá kho hoặc đĩa trứng rán bên cạnh đĩa lạc rang muối và đĩa rau muống xào có sẵn. Cơm thì vẫn độn ngô đỏ ửng cả rá. Những lần như thế, có một vài mâm ăn không hết cơm. Thầy Giang bảo khẽ hai thầy: “Các anh ăn chầm chậm, chờ tôi, cho tôi được ăn no một bữa !”. Thầy Liên đứng dậy bê những rá cơm từ các mâm khác mang về. Cơm độn ngô với chút nước sốt cà chua, thầy tôi chậm dãi nhai rất ngon lành.
Giờ mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn thấy ứa nước mắt.

  lahanGần đây, tức là những năm 2000 này, một số báo đã viết về nhà thơ Cầm Giang, nhưng có tác giả đã tả thầy như một người thiếu tế nhị, dễ dãi trong ăn uống. Thầy Phùng Ngọc Liên đọc được, rất bất bình. Thầy nói với tôi: “Mấy tay viết bậy quá, không hiểu sao họ bịa ra được những chuyện như thế về ông Giang!”
  Tôi viết bài này với lòng tri ân của một trò nhỏ với người thầy đáng kính - Thầy Cầm Giang- không dám luận bàn về văn chương của thầy. Nhưng có thể khẳng định rằng: Tôi được học thầy Cầm Giang chỉ hai năm lớp 6 và lớp 7 (Hệ 10 năm) tại trường cấp 2 xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, nhưng tôi có chút gì hơi hướng văn chương, có hứng thú cầm bút chính là từ hai năm học này.
Với riêng tôi, thầy là hai lần thầy !
   Tôi đang viết bài này ( năm 2014) thì được Lương Cầm Vĩnh - là Phó Chánh Văn phòng Huyện uỷ gọi điện báo tin: Anh trai cả Lương Cầm Thái là bác sỹ, đang làm chuyên gia bên Angiêri, đợt tết này về, dự định sẽ đưa vợ con sang đó. Chị Lương Nguyên đang dạy học ở Vĩnh Yên. Chị ấy còn giữ nhiều tài liệu và bản thảo của bố em, hôm nào anh về, qua tìm hiểu thêm! Nhà em may chăng có chú Hóa là có máu văn thơ như bố em thôi…
Hôm nay, (năm 2025 ) thì Cầm Thái và Lương Nguyên đã hoàn thành chức nghiệp, người nghỉ hưu ở Hà Nội người ở Huế. Cầm Vĩnh đang làm giám đốc ở một cơ quan thuộc tỉnh Phú Thọ. Cầm Hóa đã là nhà thơ Lê Gia Hoài mà không ít bạn đọc trong và ngoài tỉnh đã biết đến.
  Tôi mừng vì sự trưởng thành của các em - con của Thầy tôi – Nhà thơ Cầm Giang!
Nơi chín suối chắc thầy tôi cũng yên lòng!
                                                                             Vĩnh Yên, Tháng 10/2025
                                                                                              Đ.H
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 15
Trong ngày: 272
Trong tuần: 1286
Lượt truy cập: 46766
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.