Phan Mai Hương
ĐƯỜNG CHỢ GÁNH GỒNG
Tôi vẫn không hiểu làm sao chỉ ngã từ trên giường xuống đất mà khiến một người cả đời không cần nửa viên thuốc cảm cúm như bà lại nhanh chóng bay về cõi mây trắng. Bố nói, gần trăm tuổi trời, bà đi nhẹ nhàng thế là thương con cháu lắm, ước sau này… Rồi bố lặng im. Bà vốn chiều bố. Hồi nhỏ bố chỉ có việc học, mười bảy mười tám tuổi chưa phải cầm chổi... Tôi kể cho mẹ nghe là ngủ mơ thấy bà về, bà mặc áo màu nâu sẫm. Mẹ lừ mắt gạt phắt, trẻ con cấm nghĩ ngợi vớ vẩn, ngồi trong lớp thì để tâm vào mà học hành, đến là mệt với chị em chúng mày. Nói xong mẹ xỏ chân vào ủng ra vườn tưới rau. Tôi thấy mẹ tận tâm lo hết việc nhà chồng, nhưng rất ít khi nhắc đến bà.
Trong trí nhớ từ thuở ấu thơ, tôi chưa từng thấy bà thong thả an nhàn phút nào. Từ tuổi biết nhớ, tôi đã thấy bà luôn tất bật gánh hàng và chợ búa, chiếc đòn gánh cong cong đường parabol luôn vắt ngang trên vai. Chiếc đòn gánh bằng tre của bà lên nước bóng loáng, chuốt lẹm gần hết phần bụng xơ, còn lại phần cật nên dẻo quánh và mềm mại.
Bà mải mốt bước sải, hai đầu quang gánh lên xuống nhịp nhàng đều đặn theo nhịp chân, mặc dù cồng kềnh lồng gà vịt nặng trĩu trên đôi vai mỏng manh như lá lúa. Phải nói thêm, nếu so với chuẩn “hoa hậu” thì bà là một người đẹp, hơn bảy mươi tuổi rồi mà nước da vẫn trắng mịn màng, cái miệng nhỏ xinh, chắc hồi con gái bà có hàm răng trắng đều tăm tắp hạt bắp. Bà kể, thời của bà, nếu không nhuộm răng đen và ăn trầu thì bị coi là không đẹp, khó lấy chồng. “Thế sao bà không nhuộm răng cho xinh hơn người ta.” Bà cười cốc đầu tôi, cha bố cô. Rồi bà kể nhuộm răng phải theo quy tắc cầu kì lắm. Thuốc gồm lá và rễ cây thầy lang chế theo công thức gia truyền, ngậm thuốc đủ trăm ngày, khi ăn uống được bỏ ra, ngày một bữa cháo loãng nuốt chửng, bởi vì nếu nhai sẽ làm bong thuốc. Lại phải kiêng đồ nóng, đồ tanh, đồ lạnh, việc kiêng khem kéo dài cả năm trời. Khi răng lên nước đen nhánh rồi phải thường xuyên đánh bóng mặt răng bằng miếng cau khô thì mới đẹp. Bà bảo nhuộm răng mà không cẩn thận tỉ mỉ thì màu không bắt, nó nham nhở nhuôm nhuôm xấu xí vô chừng. Vì cách thức nhiêu khê rắc rối cho nên muốn nhuộm được răng phải nhà giàu, hoặc có mẹ cha hoặc người hầu chăm sóc. Bà vốn phải xa nhà tự kiếm sống từ nhỏ, làm sao nhuộm được răng? Bà cũng không ăn trầu. Bà bảo, con người ta sống trên đời này, nghiện cái gì khổ cái đấy, tự dưng mình là nô lệ của nó, đấy như bố mày ấy, đi đâu cũng kè kè cái điếu cày, hôi hám cả cái con người ra, bà nói mãi bố mày mới bỏ được thuốc lào đấy, nếu không có trận ốm thập tử nhất sinh.
Lân la kể mãi, bao giờ cũng đến lúc bà khoe mái tóc dài đến khoeo chân cuốn trong khăn nhung the đen nhóng nhánh, xưa tóc mây óng ả, giờ tóc bạc vẫn chặt lọn tay. Bà bảo cái răng cái tóc là góc con người, con gái nhớn nhao rồi đầu tóc quần áo phải gọn gàng, đưa đầu đây bà xem có con chấy nào không? Vừa vạch tóc ra tuốt chứng chấy cắn tanh tách, bà lẩm bẩm con mẹ nhà mày ẩu đoảng chả ngó đến tóc tai con cái gì cả, quần áo nhà cửa toàn mùi nước đái khai mù, ở yên đấy bà đun nồi bồ kết gội đầu. Bà nói đúng, tôi không cãi, mảnh sân đất nhà tôi mọc rêu trơn nhẫy khai mù, tối nào lũ em tôi cũng ra hiên ngồi tè vì sợ ma. Mẹ quát tháo dọa roi nhưng chúng sợ ma hơn sợ roi, vả lại lúc tè mẹ không biết, mẹ còn chúi mũi vào soạn giáo án và chấm bài, lúc nào tôi cũng thấy mẹ bận rộn bài vở.
Gội đầu xong bao giờ tôi cũng mè nheo, ơ sao cháu không đẹp như bà nhỉ. Bà cười cha bố cô, đẹp mà làm gì, mài ra ăn được đâu. Sống mà không có tiền thì mới chết, chứ xấu thì chả chết ai nào. Rồi bà lúi húi mở cái túi nhỏ xíu cài tận trong lưng quần ra cho xem chuỗi nhẫn vàng đến vài chục cái. Bà bảo, khi nào cháu đi lấy chồng bà sẽ cho vài chiếc để vốn là ăn. Giờ thì bà phải tích cóp để sau này ốm nằm một chỗ còn có tiền thuê người cháo lão thuốc thang. Có tiền là có người hầu mình. Cái nhà chị Mai thợ may ngõ Bờ Sông nó bảo bà ốm mệt cứ gọi cháu, nhưng bà bảo có cháu gái rồi. Sau này hầu bà, có gì bà cũng dành cho hết. Tôi bảo, bà không cần phải cho cháu đâu, để đấy dưỡng già. Tôi ngả vào lòng bà tin cậy và thoải mái, yên tâm vô chừng. Tôi không thích nghe bà nói sau này chết sẽ như nào, người già khó hiểu thật…
Cổng trường tôi học có cây phượng già lẫn vào hàng phi lao vi vu gió, lưng còng ngã rạp sát mặt đê, giờ ra chơi chúng tôi ngồi trèo vắt vẻo. Bà gánh hàng xuống chợ nhìn thấy, gào ầm lên gọi tôi xuống. Mấy đứa bạn hỏi, cậu quen bà ấy à, tôi vờ như không nghe thấy, bơ luôn bà đang kiên nhẫn nghỉ gánh đứng đợi. Lúc lâu không thấy tôi ra, bà lại cất gánh lên vai. Tôi len lén nhìn theo hút bóng bà tới chỗ rẽ đường vào chợ, lũ bạn mải chơi đùa chả đứa nào để ý đến bà bán gà vịt nghỉ gánh dưới chân đê. Tiết học cuối là môn Văn, chả chữ nào lọt vào đầu, bởi cái đói thắt ruột chộn rộn đàn kiến bò bụng. Tôi mải nghĩ đến miếng bánh đúc gạo mịn màng nổi gồ lên hạt lạc béo bùi, con bún rối trắng nuột nà gói trong miếng lá chuối xanh tươi, và bà mướt mải mồ hôi đứng đợi.

Trưa đi học về, bố nhắc chiều con Vy lên dọn hàng cho bà. Hàng của bà là gà vịt ngan ngỗng nhốt trong những chiếc lồng đan bằng tre nứa, cồng kềnh và dính cứt gà màu đen trắng lấm tấm. Bọn gà, vịt, ngan, ngỗng ấy luôn quang quác inh ỏi, đập cánh phành phạch. Có lần con ngan cái già thản nhiên cong mông lên phẹt một bãi tướng bắn hết cả vào quần áo tôi, mùi thối hoăng. Con ngan già khốn kiếp ấy không biết tôi có đúng một bộ quần áo mồi. Mỗi buổi học về, tôi hì hục giặt giũ, vuốt phẳng phiu rồi mới phơi, tôi không thích mặc quần áo nhăn nhúm. Tôi thấy việc buôn bán gà vịt của bà cứ nhếch nhác bẩn thỉu, không sang trọng như quầy bán vải vóc của bà Đường, hay thơm phức như quầy bánh kẹo của cô Lan.
Đang giữa đông, hơn năm giờ ráng chiều vàng hoe, trong chợ đã sậm tối, dáng bà nổi bật giữa dãy lồng gà vịt. Tôi bị xị xưng xỉa ngồi xuống chiếc ghế gỗ mòn nhẵn bóng loáng hơi lõm xuống, nét mặt chỉ hơi tươi lên khi bà đưa cho chùm nhãn. Trước mặt tôi là chiếc lồng cật nứa nhốt hai con gà mái. Bọn gà ấy chắc phải ấp nở nhiều lứa rồi, cánh và đuôi của nó xơ xướp tã tượi. Cạnh đó là hai chiếc lồng nhốt mỗi lồng hai con vịt, thi thoảng lại vục mỏ sục sạo vũng nước rồi lắc lắc mỏ, nước bẩn bắn lên tung tóe như mưa. Tôi nghịch vứt vỏ nhãn vào, hai con vịt hứng chí đập cánh phành phạch, đạp bừa phứa, bùn nhão vung lên như hoa cà hoa cải, bắn vào quần áo mặt mũi. Vội vàng, tôi đứng lên núp sau quầy hàng khô kế bên.
Bà có khách mua gà. Ông khách dáng cao lòng khòng, mặc bộ quần áo bộ đội đã sờn, đi dép cao su, đầu đội mũ lá, dắt xe đạp phượng hoàng nam cao ngồng xanh cánh trả đã lấm tấm bong sơn. Ông khách đi vào dãy bán gà vịt một cách rón rén. Lời mời chào vồn vã nổi lên nhao nhao: ‘‘Bác mua gà cháu đi ạ…’’, ‘‘Anh ơi, xem gà của em này’’ khiến ông lúng túng. Ông phân vân nhìn xung quanh rồi ngó xuống bu gà hỏi con gà này bao nhiêu hở cụ. Ông chọn bà cụ bán hàng chứ không phải chọn gà. Bà đưa tay lên quệt nhanh vệt bùn bám, tay túm chân con gà mái nâu hoa mơ, lôi ra khỏi lồng. Bà bảo con gà này ốm rồi, chú ăn tôi lấy nửa giá thôi, hay chú mua vịt đi.
Ông khách ngần ngừ cám ơn rồi đi sang chị bán gà bên cạnh. Tôi thấy chị ta túm hai chân, lấy cái giẻ để trên nan lồng lau thật nhanh mặt con gà, một tay vuốt cổ dựng mỏ và vuốt miết vào mào. Xong xởi lởi mồm năm miệng mười, đây nhá anh xem con gà mái này nhá, béo lắm đấy, vừa đẻ một lứa, chim ra ràng gà mái ghẹ là ngon nhất, tối chợ rồi em bán rẻ cho, cứ yên tâm con này béo lắm, anh nhìn xem mào đỏ chon chót đây này. À cổ vẹo vì nó bị chèn trong lồng chật quá đấy mà, may còn chưa đạp nhau gẫy chân đấy. À, mà nó vẫn đói nguyên nhá, anh sờ mà xem, diều nó mềm nhũn đây này, chứ mua chỗ khác thì mất cái diều vài ba lạng. Miệng nói tay nắn chỗ cái diều to phồng mềm nhũn của con gà, trong khi cổ nó vẫn ngoẹo sang một bên, mắt lờ đờ. Ông khách cứ ngẩn ra nghe chị ta nói và mắt nhìn chăm chú vào con gà. Đúng ra là ông khách không kịp nói chen vào, mà còn biết nói gì nữa vì chị bán gà nói đúng quá rồi. Cuối cùng ông khách hỏi con gà bao nhiêu tiền.
Ông khách đi khỏi, chị bán gà lục bị cói lấy chai nước rửa tay dính đầy lông gà và mảnh vỏ ớt đỏ rực. Gói ớt chỉ thiên rơi theo vãi xòa ra nền đất. Ông khách không thể biết chị ấy xoa ớt vào cái mào thâm tím của con gà, khiến cho nó hồng hào lên.
Trong dãy hàng gà vịt bà bán được ít nhất. Các hàng bên cạnh không thích bà bởi tính thẳng và bán đúng giá, gà vịt ốm khỏe thế nào bà không giấu giếm, có gì nói đấy. Chợt nghĩ đến ông khách mua gà, tôi mong con mái nâu hoa mơ không chết trước khi bị cắt tiết.
Hôm sau đến lớp, nghe cái Vân kể chuyện vợ chồng hàng xóm nhà nó cãi nhau, vì ông chồng đi chợ mua phải con gà rù, mang về đến nhà nó chết thẳng tưng cứng cựa, không kịp cắt tiết. Bà vợ mắng xối xả, rằng chả biết cái gì cứ suốt ngày thơ với văn, ra chợ mắt cứ tít lên con đĩ bán gà nói như nào cũng nghe. Ông chồng nói, mình đun nước thịt luôn đi, lúc mua con gà đã chết đâu. Bà vợ nói to hơn, thế thịt gà rù ngon hay gà lành thì ngon, số tôi khổ vớ phải ông chồng trên mây trên gió. Nghe tiếng cánh cửa đóng sầm, tiếng lục cục dao thớt dưới bếp, chắc bà vợ đun nước làm lông con gà chết. Nghe cái Vân kể chuyện hàng xóm, tôi không nói gì nhưng tôi thầm hãnh diện về bà biết bao nhiêu. Chợt nhớ nhiều lần bà bảo tôi, con người ta làm gì đều có trời biết đất biết, không chỉ riêng nghiệp buôn bán, làm việc gì cũng là có nhân quả hết, cứ việc đúng mà làm thì chẳng sợ ông trời nào hết.
Cũng mùa đông năm ấy, sương muối kéo dài, gà lây nhau rù, đang chạy nhảy mổ thóc ở sân bỗng quay tròn mấy vòng như lên đồng rồi lăn ra chết, khi mổ thịt vẫn trắng phau nhưng máu đọng đầy bụng. Trên đường đi học về tự dưng tôi nghĩ đến đàn gà của bà. Chạy sang, bà đang nhồi cơm tỏi cho gà ăn. Xong bà vào bếp trút hết gà kho gừng vào cặp lồng bảo tôi mang về. Lúc đi qua cỗ quan tài tôi dừng lại lục lọi xem na và chuối dấm đã chín chưa. Đấy ngay cả việc bà mua sẵn cỗ quan tài cũng là chuẩn bị chu đáo cho ngày chết. Tôi kêu lên, bà ơi na và chuối chín nhũn rồi đây này. Bà nói giọng tiếc rẻ, thôi chết bà quên, con xem quả nào ăn được, con mang về cho các em ăn với, vứt đi phí hoài, phải tội chết.
Tôi về tới nhà, chưa kịp nói gì thì mẹ quát ầm ĩ, mày chơi bời gì mà đến bữa không về ăn cơm. Mẹ tôi lẩm bẩm, quả ngon lành thì không cho, sắp thối nhũn ra vứt đi thì tiếc, không ăn nổi thì mới cho. Tôi bảo mẹ là tại bà quên đấy mẹ ạ. Mẹ quát, im ngay, nói leo tao cho mấy roi đấy, nhớ chưa.
Tôi len lén mang cặp lồng thịt gà xuống bếp, không biết vì sao mẹ nổi giận. Mẹ quát lớn, mày mang cái gì về nhà thế. Tôi bảo bà cho thịt gà kho. Hừm chắc lại gà rù chết chứ gì, chứ tự dưng bà mày thịt gà đâu, gà nào bà mày chả mang chợ bán, tao lạ gì? Tôi cãi mẹ, bà muốn ăn gà thì thịt, không phải đợi gà rù mới thịt như nhà mình. Mẹ nổi giận, mày dám cãi à, nhỡ gà rù lây sang gà nhà thì sao. Đứng im cho mẹ quật hai roi, không khóc mà trong lòng ấm ức, tôi không đáng bị đánh đòn. Tôi cũng thấy mẹ không công bằng với bà.
Tiết lập đông, sương muối lạnh buốt cắn vào tận xương. Hành lang bệnh viện vắng tanh. Cô bác sĩ trẻ bước ra từ buồng hậu phẫu, tay bê khay, trên có gói vuông bọc vải trắng rảo nhanh về cuối hành lang, nơi có nhà xác. Cô bác sĩ sẽ đặt cái gói này lên cái bàn kẽm lạnh ngăn ngắt, úp lồng bàn lại, thế là xong việc. Tuy là bác sĩ, mới đi làm được mấy ngày, nhưng khoa sản thiếu người, cô phải kiêm luôn việc của hộ lí. Tới đầu giờ chiều ông Ky lùn sẽ đến để mang cái xác trẻ sơ sinh này đi chôn.
Ông Ky Lùn có nước da sần sùi đỏ ửng như vỏ cam sành, thân hình kì dị, vai u gồ lên, người lùn tịt, chân ngắn vòng kiềng bước đi khuỳnh khoàng như con gấu. Vật bất li thân của ông là chai rượu và cái thuổng đào đất. Việc của ông Ky Lùn là đào cái hố nho nhỏ để chôn xác những trẻ sơ sinh, ở mảnh vườn cuối bệnh viện giáp với cánh đồng. Khi rảnh rỗi, ông rấp dây lang, vồng lá mọc lên xanh um thì cắt về nuôi lợn, cuối vụ đào những thúng củ đỏ tía béo mẫm. Ông bớt cho các cô khoa sản vài nồi luộc, còn lại ông cho vào bao tải vác về nhà. Chỗ củ khoai lang ấy cũng đủ cả tháng luộc ăn sáng cho lũ con bảy đứa của ông. Sáng nay ông Ky lùn không đến, đôi khi ông cũng bận việc nhà, nhưng chắc chắn buổi chiều ông sẽ có mặt, chưa khi nào ông vắng ở khoa sản quá một ngày, kể cả lễ tết. Không biên chế, nhưng mọi người đều coi ông là nhân viên chính thức của khoa sản.
Cô bác sĩ đang mở khóa cửa nhà xác thì có tiếng gọi thất thanh, bác sĩ ơi đợi tôi. Người đàn bà cỡ tuổi sáu mươi hớt hải chạy tới, trên khuôn mặt trái xoan lăn tròn những giọt mồ hôi. Bà nói trong nước mắt, xin cô cho tôi nhìn mặt cháu tôi. Cô bác sĩ nói vẻ thông cảm, con bé chết rồi, bà xem làm gì. Bà năn nỉ, cho tôi nhìn mặt cháu tôi lần cuối, con đầu cháu sớm cô ạ.
Cô bác sĩ miễn cưỡng mở gói vải ra, bé gái nhỏ xíu trắng nhợt như con cá mắc cạn, đầu trọc lốc chỉ to hơn cái bóng đèn, mắt nhắm nghiền. Bà nhìn mặt cháu gái hồi lâu như muốn ghi nhớ hình ảnh cuối cùng của con bé. Chợt bà có linh cảm đôi môi nhỏ xíu hình như mấp máy còn vương chút sinh khí? Bất giác, bà đưa tay lên đầu nhổ một sợi tóc để ngang mũi cháu gái. Sợi tóc động đậy, bà mừng rú lên ôm lấy cái gói vải từ tay bác sĩ, trời ơi cháu tôi còn sống, cô đưa giả cháu tôi đây! Cô bác sĩ giằng lại, chiếc khay rơi xuống nền gạch lạnh lẽo, loảng xoảng hắt lên một âm thanh chói tai. Bà áp chặt cháu gái vào ngực, hổn hển nói giọng van vỉ, cháu tôi vẫn còn sống, tôi xin cô đấy, cô cho tôi xin một lọ sâm Cao Ly. Cô bác sĩ từ tốn giảng giải, từ hôm đẻ ra đến nay đã ba ngày rồi, không bú, không ỉa đái, không khóc, sao mà sống được, lại là con gái nữa chứ, bà đưa đây tôi làm nốt cho xong việc nào.
Bà vẫn ôm chặt cháu vào ngực, hà hơi thổi vào miệng bé, giọng năn nỉ, tôi xin cô đấy, cháu tôi vẫn còn thở, cô cho tôi xin lọ sâm nước, may ra cháu tôi được làm người. Cô bác sĩ liếc ra hành lang vắng lặng và cúi xuống nhặt cái khay rồi bảo, thôi được bà bế cháu theo tôi về phòng thuốc! Bác sĩ đưa lọ sâm nước và dặn, bây giờ bà nhỏ một giọt, cứ sau một tiếng đồng hồ thì nhỏ tiếp một giọt, cầu may thôi bà ạ, nếu con trai còn có sức, đằng này có cân hai cả tã lót, con gái bảy tháng không sống được đâu, à bà nhớ sưởi ấm cho con bé nhá, rét thế này người lớn cũng chết rét ấy chứ, có thế nào bà cứ gọi, nay cháu trực. Giọng nói cô bác sĩ đã mềm mại, ân cần.
Bà mừng quýnh, vâng cô cho tôi xin, cảm ơn cô, cầu giời cầu Phật may ra thì cháu tôi sống được. Cô bác sĩ vừa quay vào sắp sếp các lọ thuốc trong tủ, bà liền nhỏ vào cái miệng bé tí xíu như lỗ đồng xu ba bốn năm giọt liền, bà không đếm. Bà linh cảm cháu gái bà sẽ sống.
Bế con bé về phòng, liếc nhìn con dâu trẻ đang vùi mặt vào chăn khóc nức nở vì ngỡ con gái đã chết, bà hối hả lục túi đồ lấy áo len, chăn bông quấn. Bà chạy đi xin hai chai nước truyền đã dùng hết, đổ nước nóng vào, kẹp hai bên sườn cháu gái, dùng tã khéo léo buộc lại. Hai chai nước nóng cùng con bé trong bọc tã lót chăn bông, bế mới vừa tay.
Bà bảo con dâu, từ mai tao không đi bán hàng nữa, tao ở nhà bế con bé cho, con bé mà chết thì bố nó giết tao. Làm mẹ gì mà vụng thối vụng nát? đến cho con bú mà cũng không biết thì đẻ con làm gì? mấy ngày giời con bé không hột sữa vào người chẳng đói lả đi à, may mà tao đến kịp…!
Từ lúc ấy mắt bà không rời cháu một giây nào, tay khư khư cầm chai sâm liên tiếp nhỏ giọt vào cái miệng bé tí xíu, cảm giác môi con bé như động đậy. Sáu tiếng đồng hồ nặng nề trôi qua ngỡ như dài bằng sáu năm. Bà hồi hộp không dám mừng khi thấy môi cháu như hồng lên sự sống. Mặc kệ sự mong chờ thắt ruột thắt gan, con bé cứ nằm im lìm trong bọc tã. Chốc lát, cô bác sĩ lại chạy sang hỏi han sao rồi bà? Chai nước hơi âm ấm, bà lại mở bọc tã thay bằng chai nước nóng khác. Bà bế cháu gái nhẹ nhàng ấp vào ngực, cái bọc cựa quậy rồi ọ ẹ, rồi oe oe! Bà mừng rỡ chạy sang phòng trực, ôi bác sĩ ơi cháu tôi khóc rồi, cháu tôi sống rồi...!
Sau này nghe mẹ kể, buổi sáng sớm thấy nhâm nhẩm đau bụng nghĩ động thai, ngờ đâu vừa đi đến viện thì tôi chui tọt ra. Sau vụ xuống nhà xác hụt ấy suốt ba tháng trời ròng rã, mẹ và bà thay nhau ôm tôi cả ngày lẫn đêm, không dám đặt xuống giường sợ tôi chết rét. Tôi không chịu bú. Mẹ vắt sữa ra bát và bón bằng thìa. Bà mắng mẹ, đần và vụng thế không biết cho con bú mà cũng đẻ? Suốt đời, mẹ không quên câu mắng ấy, mặc dù mẹ đã đẻ thêm hai đứa em sau tôi nữa. Mẹ tự ái ghê lắm. Vì thế tình cảm mẹ chồng nàng dâu vốn đã lỏng lẻo nay thêm xa cách. Tôi không hiểu người lớn, khi nào cũng nói bận rộn bao việc vậy mà cứ nhớ mãi những thứ linh tinh vớ vẩn. Tôi buồn khi bà không đến nhà tôi chơi hoặc ăn cơm mà chỉ ngang qua đưa cho cháu quả na, chùm nhãn xong về luôn. Mẹ chỉ lên nhà bà khi tết nhất giỗ chạp. Ngày thường có việc gì liên quan đến bà thì mẹ có tôi và bố để sai khiến. Trẻ con chóng quên, tôi vẫn yêu bà và không hiểu nổi tại sao mẹ không yêu bà như tôi.
*
* *
Vào mùa mưa, mái nhà lợp bằng ngói phế phẩm, loại ngói cong vênh hoặc cháy sém đen bố xin mua ké khi xây trường giột suốt. Nếu mưa không gió thì dột vài chỗ, có gió nước mưa hắt qua xiên xuống, trong nhà như ngoài trời. Mẹ bắc thang trèo áp mái, bố cầm cái sào dài ngoẵng kẹp mảnh giấy dầu, ni lông, mảnh nứa đưa lên để chèn vào. Tôi xem chỗ dột nước chảy ồ ồ xuống thì lấy xô chậu thùng hứng, đầy bê đổ ra sân. Lần nào mưa xong bố cũng nói gắng xây lấy gian nhà. Mẹ lo lắng bảo đào đâu ra tiền, vay nợ thì không dám, cũng không ai có cho nhà mình vay, mà vay rồi phải nghĩ làm gì ra để trả. Vài đồng lương chưa hết tháng đã hết tiền, ba đứa đang tuổi ăn tuổi lớn, chịu thôi.
Bố ngồi thừ bên chén trà nguội ngắt, bắt đầu tính toán làm theo kiểu của mình, mua gom từng xe cải tiến xỉ than, vài cân xi măng và vôi. Mỗi chiều từ trường về, bố mải miết trộn vữa đóng gạch, cần mẫn như kiến tha mồi, từng ki gạch xỉ cũng lớn dần theo năm tháng. Đống đá bổ móng đổ ở gốc ổi là mua rẻ của mấy chú công nhân công trường thủy điện mang bán trộm, chị em tôi trèo lên đống đá là với tới chùm ổi chín. Khi đào hố tôi vôi, bố cấm tiệt không cho trèo ổi. Không biết khi nào bố đủ tiền xây nhà.
Sáng chủ nhật bà xuống. Bố đang đóng gạch ngẩng lên hỏi bà không đi chợ à. Bà bảo nay có việc nghỉ chợ, cái Vy đâu rồi, Vy ơi, vừa nói bà vừa lật chiếc mẹt nhỏ lục thúng, đưa cho chị em tôi túm vải thiều và cái chân giò lợn. Trước khi cất gánh lên vai bà nói với bố, anh làm gì cũng phải giữ sức khỏe đấy, thiếu đâu tôi bù cho anh chị, đổ cái mái chắc chắn vào cho nhà khỏi dột. Vy ơi, chiều lên bà nhờ việc này nhé.
Nghe lời tôi lên, bà đưa xấp giấy ghi nợ bằng giấy vở học sinh và bảo đi đòi tiền. Bà dặn địa chỉ và đến gặp người ta thì nói như thế này… Tôi đến nhà ông Thiện thợ mộc, gọi cửa mãi mới mở. Tôi chào ông và nói mình là ai, rồi đưa mảnh giấy ghi nợ, nói thêm bà cháu bị mệt, ông cho cháu xin lại số tiền đã vay. Ông dừng tay và bảo hiện không có tiền, về nói với bà khi có tiền sẽ mang sang, không phải đến đòi đâu. Tôi nhìn trong nhà thấy bàn ghế giường tủ đẹp đẽ, chắc ông không túng thiếu. Tôi còn đến vài địa chỉ nữa, tất cả họ đều nói không có tiền hoặc không có ý trả nợ. Tôi nghĩ vì bà đã già, sống một mình, thân cô thế cô dễ bắt nạt.
Tôi về, đưa lại tập giấy vay nợ, bà chọn một cái đưa cho tôi bảo về đưa bố. Tôi đọc tờ giấy thấy ghi nợ vay sáu thuyền muối, quy ra vàng là bốn lạng, thời điểm vay tháng 1 năm 1940, người vay nợ ở Tuyên Quang. Bố tôi cầm giấy lên Tuyên đòi nợ, nhưng người vay đã chết, con trai ông ấy nói không biết gì chuyện nợ nần này. Sau mấy ngày, bố tôi trở về với vẻ mệt mỏi. Mẹ bảo, bà có tiền cứ giắt kĩ vào vành váy, keo kiệt với con cháu, nghe thiên hạ nịnh lừa cho hết tiền. Bố nghe, than, khổ thân bà, ăn chả dám ăn tiêu chả dám tiêu, ki cóp cho cọp nó xơi. Lão Thiện thợ mộc bất nhân nhất cầm của bà cụ năm triệu đồng, lấy trừ nợ cỗ quan tài bảy tám trăm ngàn đắt khét ra, còn lừa gỗ vàng tâm, tâm gì mà có mọt gặm. Tính ra ban đầu là hùn vốn mua gỗ làm chung, lão ấy đóng đồ rồi bán chia lãi, lão ấy tệ là lừa bà cụ cả vốn lẫn lãi. Bố ngậm ngùi nói.
À, thế con mụ Mai bác sĩ thì sao, cũng cầm kha khá tiền của bà đấy thôi? Mẹ tôi nói, giọng đầy tức tối.
Thì bà cụ cho mụ Mai vay tiền là nể mà cho vay thôi, vì bà muốn tiêm thuốc bổ, thì lại phải nhờ mụ ấy mua thuốc, rồi gọi mụ ấy sang tiêm hộ, nhờ vả người ta thì được, chả nhẽ khi người ta hỏi vay tiền lại không cho? Thì cũng tại mẹ mày không qua lại, nên bà phải nhờ người ngoài…! Rồi chừng như biết lỡ lời, bố nói lảng, à mẹ nó này, hôm rồi bà đưa thêm tiền đổ cái mái nhà đấy, bà nhắc làm cẩn thận, đừng tiếc tiền, nếu thiếu bà đưa tiếp, phải xem thợ làm cho chắc chắn chẳng có mưa lại dột. Nói xong bố im lặng, vì biết nói thêm câu nữa là cãi nhau, nhịn cho êm nhà cửa, chỉ cần nói thế là mẹ tự biết.
Hôm đổ mái bà mang đến cân gạo nếp, con gà làm sẵn, nải chuối, chùm vải thiều, gói hoa ngọc lan và dặn đồ xôi luộc gà, thắp hương thổ công trước sau rồi ăn. Tôi hỏi, trưa bà qua ăn cơm ạ. Bà bảo bố con nhà mày cứ ăn cơm đi, bà còn răng đâu mà ăn thịt gà, bà có bún và bánh đúc cũng tiện cả cho lũ gà vịt nữa. Bà nói tôi mới nhớ bà gãy hết răng chỉ nhai bằng lợi không.
*
* *
Tôi nằn nèo mượn cuốn tạp chí, vì đã quen nhẵn mặt tôi nên dù khó tính lắm nhưng cô nhân viên thư viện trường cũng đồng ý. Tôi giấu cuốn tạp chí xuống dưới chồng sách giáo khoa, chứ để trong cặp sách, lũ em mà lục thấy lôi ra mách bố thì tôi chết đòn. Bố sợ tôi mải mê đọc sách mà sao nhãng việc học.
Chủ nhật, mấy mẹ con ngồi xúm xít trò chuyện và chải tóc bắt chấy. Tôi bảo mẹ, con biết tại sao bà nói mẹ vụng thối vụng nát rồi. Mẹ lườm, mày biết gì, chỉ nói leo là giỏi. Tôi vội nói, con biết thật mà, là do con đọc cái này, mẹ đọc đi. Tôi đưa cho mẹ cuốn tạp chí Tài hoa trẻ, mẹ đọc trang bốn mươi lăm nhá, bài ‘‘Cách chăm sóc trẻ sơ sinh vào mùa đông.’’ Mẹ cầm cuốn tạp chí và cắm cúi đọc, mặc kệ mấy chị em tôi vẫn chí chóe trêu nhau. Đọc xong tôi thấy mẹ ngồi thừ ra chiều suy nghĩ, nét mặt mẹ dịu hẳn xuống, mẹ hỏi tôi mượn sách ở đâu.
Đêm khuya, đã lên giường nằm nhưng chưa ngủ, tôi nghe mẹ nói nhỏ với bố, tiếng mẹ từ trong buồng vọng ra vẫn âm vang trong ngôi nhà. Bao nhiêu năm tôi oán bà là không phải mình ạ. Tôi đọc bài báo này mới biết, thế ra là hồi con Vy không biết bú là vì trẻ mới sinh cơ hàm chưa phát triển, môi nẻ, lại lạnh nữa. Bà mắng tôi vụng thối vụng nát, nói ra thì cũng đúng, vậy là bao nhiêu năm đã qua… Mẹ bỏ lửng câu nói rồi thở dài. Bố bảo, sắp đến giỗ đầu bà rồi đấy, đúng là người sống thì lâu mà chết chẳng mấy chốc!
Đêm ấy, tôi lại mơ thấy bà nội thong thả bước thư thái nhàn hạ, trên đầu chùm hoa phượng nở đỏ thắm. Dưới lòng sông con nước lũ đỏ ngầu dềnh lên, nước mấp mé chực vỗ mặt đê. Mẹ bảo, cả nhà này chỉ có con Vy là mơ thấy bà về, như thể bà nội chỉ là của nó thôi.
P.M.H