THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

DỆT MỘNG SÔNG THƯƠNG

Nông Thị Ngọc Hòa

NGƯỜI VẪN VỀ DỆT MỘNG Ở SÔNG THƯƠNG

   Giữa những ngày thu lịch sử, năm 2025, với nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, tôi được tặng một món quà vô giá, do Nữ sĩ Bàng Ái Thơ trao tặng tận tay, đã cho tôi niểm vui khôn tả. Người ta từng biết nữ sĩ Bàng Ái Thơ là ái nữ của Thi sĩ, Hoạ sĩ Bàng Sĩ Nguyên, nhưng có thể không nhiều người biết Bàng Ái Thơ là cháu gọi Thi sĩ, Nhà giáo, Nhiếp ảnh gia Bàng Bá Lân là bác ruột. Mỗi khi nhắc về gia đình mình, nữ sĩ Bàng Ái Thơ luôn kể với thái độ trân trọng, ánh mắt, khuôn mặt cứ ngời lên vẻ tự hào. Tôi thật may mắn khi được tặng một số tuyển tập của Thi sĩ, Hoạ sĩ Bàng Sĩ Nguyên - những tác phẩm viết nhiều về đề tài dân tộc, miền núi với cảm xúc và cách thể hiện không lẫn vào ai. Tôi được ngắm những bức tranh của hoạ sĩ, những tác phẩm hội hoạ với nhiều đề tài, trên nhiều chất liệu của Ông cũng thật đặc biệt, khi dùng chính những ngón tay của mình thay vì dùng cọ. Ông vẽ như sự hối thúc trong tâm thức, như rút toàn bộ năng lượng gửi vào hoạ phẩm.

   Tác phẩm Bàng Bá Lân Thi tuyển - ấn phẩm được in tại Montreal QC, Canada, với 222 bài thơ trải trên 396 trang in, đẹp về hình thức và độc đáo về nội dung. Được biết số lượng sách đem về Việt Nam khoảng mươi cuốn, mà tôi được tặng riêng 1 cuốn thì niềm vui của tôi càng nhân lên gấp bội.

Tôi đã giành đủ thời gian để đọc và cảm nhận Bàng Bá Lân Thi tuyển.Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 là những bài thơ viết trước năm 1975; phần 2 là những bài thơ viết sau năm 1975. Chủ yếu là viết bằng tiếng Việt, một số ít bài viết bằng tiếng Pháp và chính Ông dịch sang Tiếng Việt. Thơ của Thi sĩ Bàng Bá Lân được sáng tác trên nhiều thể loại: Thất ngôn bát cú: “ Bẽn lẽn nàng Trăng khép áo sương/ Bóng hoa thược dược giỡn chân tường/ Trong cây nghe cựa mầm sinh lực/ Dưới cỏ buồn ca khúc đoạn trường/ Tha thướt liễu buông làn tóc mượt/ Thì thầm gió kể chuyện yêu đương/ Kim cương từng chuỗi treo cành ướt/ Một thoáng trăng ngời trong mắt vương.” ( Đêm xuân ), thơ Đường luật, thơ Tứ tuyệt, thơ Lục bát, thơ tự do… nhưng đặc biệt thành công ở thể thơ Lục bát. Những câu thơ Lục bát của Ông cứ lung linh, tưởng như phi lý, mà đẹp đến không tưởng: “…Sóng hôn chân khóm tre già/ Mái tranh tắm ánh trăng ngà đêm thâu/ Tường rêu in một nét sầu/ Ánh trăng non ngủ trên tàu chuối xanh…” ( Vô đề)… Thậm chí có những câu thơ Lục bát khiến nhiều người lầm tưởng là ca dao: “Trời cao,  mây bạc, trăng tròn/ Dế than hiu quạnh, tre buồn nỉ non/ Diều ai gọi gió véo von/ Cành xoan đùa ánh trăng suông dịu dàng/ Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?”  ( Trăng quê - Rút trong tập thơ đầu tay của Thi sĩ do Thanh Hoa Tùng Thư xuất bản năm 1934 tại Hà Nội ). Bài thơ đã lan toả, truyền vào nhân gian thì câu “ lại múc trăng vàng” đã được thay bằng câu “múc ánh trăng vàng”. Âu là sự giao thoa giữa bản gốc và bản của nhân gian thật đáng yêu. Sự nhầm lẫn của nhiều người cũng thật đáng yêu.

Tôi thầm bái phục ai đó đã “gọi” thi sĩ Bàng Bá Lân là: “Nhà thơ của đồng quê”. Quả đúng là như vậy! Hầu hết những thi phẩm của Ông viết về đồng quê đặc biệt thành công, như thế những hình ảnh cây đa, bến nước, con đò; những mượt mà mạ non, những phơi phới lúa con gái, những mùa lúa vàng như nắng, phưng phức thơm lặn sâu vào da thịt, cứ hiện ra tự nhiên trong thơ Ông như một tất yếu không thể nào khác được.

          Đọc thơ của Thi sĩ Bàng Bá Lân, ta thấy trong đó thấp thoáng và hiển lộ rất nhiều “ bóng hồng”. Những óng ả lưng ong, rực rỡ phấn son của Hà Nội, Sài Gòn, những áo tím mộng mơ thuớt tha, giấu “gương nga” nghiêng nón phía Trường Tiền: “ …Nào ai, ai nhớ ai quên/ Bài ca xứ Huế là thiên nhạc tình/ Dòng Hương mãi mãi còn xanh/ Giọng hò mái đấy buồn tênh… gợi buồn!” (Bài ca Xứ Huế - Kỷ niệm lần đầu đến Huế- tháng Tư 1959 ); những mắt biếc, má hường chín mọng ở miệt vườn: “ … Có ai về miệt Bến Tre/ Hỏi thăm nàng ấy vườn kia vài lời…/ Xa xôi nhớ mãi vườn dừa/ Thương về nàng ấy bây giờ thương ai? (Vườn dừa Miền Nam tháng 6/1954); những tay chèo khua nước long bong và vút lên giọng hò lay động sông nước Cửu Long xôn xao mùa nước nổi: “ Em là con gái Đồng Nai/ Hàm răng em trắng, khổ người em duyên…/ Đầu mày cuối mắt em tươi/ Để thương để nhớ cho người xung quanh…” ( Cô gái Đồng Nai ); những yếm thắm, áo nâu non, những vệt bùn vương không che nổi lúm đồng tiền xoay xoáy gió đồng chiêm: “… Chiều quê trong lúa xanh non/ Có cô yếm thắm xinh giòn ngây thơ…” ( Cô yếm thắm - 1943 ). Ở đối tượng nào, chàng Thi sĩ Họ Bàng cũng gửi gắm những nhớ nhớ thương thương trong từng con chữ, những tri kỷ tri âm, những thoáng gặp cũng làm chàng bâng khuâng, thẫn thờ, mê đắm và thốt lên:                           “…Ôi tóc huyền mơ! Suối tóc huyền!/ Lược ngà ve vuốt nõn nà duyên/ Kim cương lóng lánh rèm mi biếc/ Châu ngọc ngời tuôn ngọn tóc mềm/ Mành tóc che mờ nửa mặt hoa/ Cong cong mềm uốn cánh tay ngà/ Cổ tròn trắng muốt, đường ngôi nhỏ/ Châu ngọc tuôn ngời như … lệ sa” ( Em gội đầu ).

          Chàng Thi sĩ đa tình có những vần thơ tặng những người xinh đẹp như tiên sa, như vô thực; nhưng tận sâu thẳm đâu đó trong trái tim thi sĩ đa tình vẫn dành những tình cảm chân thành, biết ơn sâu sắc cho người vợ tào khang: “ … Tuổi mình mới tròn gương có lẻ/ Về cùng ta, ôi bé bỏng sao! Khi ăn ở, lúc ra vào/ Nết na, thuỳ mị, ai nào không ưa/ Mình cũng có ít mơ nho nhỏ/ Những mong ta sẽ cố thực hành/ Thương ôi! Ta để tan tành/ Vì ta vốn kiếp trời sinh hững hờ:/ Suốt ngày trắng ngẩn ngơ ngơ ngẩn/ Chỉ mơ màng thơ thẩn không đâu… /Vì ta điêu đứng đã nhiều/ Nhưng mình vẫn một lòng yêu mặn nồng/ Hỏi: “ Có ghét lấy chồng thi sĩ/ Không nói năng, mình chỉ lắc đầu/ Thế ra trăm khổ ngàn đau/ Mình không than thở gì đâu, hở mình?…” ( Kiếp sau ví lại gặp mình, 1957). Những câu thơ buốt ruột, những câu thơ đớn đau, như lời sám hối, lòng tàm quý thức tỉnh trước sự hi sinh không toan tính, không trách móc, giận hờn của người con gái Bắc Giang lấy chồng thi sĩ.

bangbalan020

   Đọc cả tập thơ của Thi sĩ tài hoa, thi sĩ đa tình Bàng Bá Lân với bao bài thơ “ thi gan cùng tuế nguyệt” - Tôi đặc biệt quan tâm tới bài thơ duy nhất viết về người đặc biệt của Ông với lời đề từ: Kính dâng hương hồn mẹ hiền: “ Cô Mỹ thôn Ngô Xá/ Mình tơ óng dịu dàng/ Nhu mì ai cũng mến/ Khen ngoan đẹp nhất làng…/ Lòng yêu mơ gửi xóm Đoài/ Có chàng trai trẻ áo dài ngâm thơ…/Ngày xuân, áo mới lê thê/ Lệ tràn sung sướng cô về xóm tây/ Dăm thước vườn trống trải/ Nhà rơm một mái xiêu / Nhưng mộng lòng đã toại / Đâu dám quản chi nghèo/ Đảm đang xuôi ngược sớm chiều/ Lòng mơ một chiếc võng điều mai sau/ Giọng ấm chàng đọc sách/ Thao thao tưởng nước nguồn/ Văn chàng hay nức tiếng/ Lòng nàng như pha son/ Nhường chàng nửa đĩa dầu con/ Kề trăng quên ngủ tay giòn quay tơ/ Tài cao nhưng vận rủi/ Ba khoa rồi năm khoa/ Lều chiếu tủi khăn gói/ Hoa râm mái tóc già…/ Trăng xưa kề đầu ngõ/ Guồng xưa vẫn bén dây/ Mơ xưa không còn nữa/ Da héo bọc tay gầy/ Bà Đồ tất tả đông tây/ Lo chồng con được tháng ngày ấm no/ Chăm chồng không chút thờ ơ/  Bình yên chẳng khóc đời mơ héo tàn!” ( Bà Đồ - Sông thương xuất bản năm 1941 tại Hà Nội ). Thi sĩ “vẽ” bức chân dung Người mẹ hiền - Người phụ nữ tảo tần, cam chịu nuôi chồng chăm lo đèn sách, mong qua kỳ thi đỗ ông cống, ông nghè; mơ võng lọng xênh xang chồng vinh quy bái tổ, để“ võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Bà Đồ cứ lầm lũi ngày qua ngày chăm đàn con 1 gái 6 trai, cùng ông chồng không thành chí lớn. Những câu thơ cứ thổn thức trong lòng tôi và tôi tin cũng day dứt, đắng cay trong lòng độc giả. Chắc nước mắt lặng thầm của Bà Đồ rơi trong những đêm dài cũng đủ góp phần làm mặn sông Thương.

Thi sĩ Bàng Bá Lân đã chuyển tải tình yêu nước của mình qua những bài thơ về những vị anh hùng dân tộc: Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Trương Công Định…, những danh nhân văn hoá Việt Nam và Thế giới: Những Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu..., những bạn văn chương tri kỷ của mình: Vũ Hoàng Chương, Anh Thơ … Sự đồng cảm của Ông với tiền bối, hay tiền bối đối với ông cũng khiến lòng ta day dứt: “Đời thi sĩ, than ôi, nào khác/ Kiếp ve kia rút ruột hiến ai ai! /Khúc đàn tâm lựa gảy để người vui/ mà riêng chịu thất vọng, đau thương, cùng chế bác… /Rồi mực cạn, bút cùn, tơ lòng tan nát/ Với thời gian đời sẽ dần quên… ( Kiếp ve - Sông Thương xuất bản năm 1941 tại Hà Nội ). Đặc biệt, Thi sĩ Bàng Bá Lân đã dành sự trân trọng với nữ sĩ Hồ Xuân Hương - Bà Chúa Thơ Nôm “Thuở ấy, Nàng Thơ hiện xuống trần/ Lạc loài đi giữa đám văn nhân/ Bực mình nghe mãi lời khuôn sáo/ Nàng mỉa mai gieo nhẹ mấy vần… Có lẽ Nàng thơ buồn thế chăng? Một đi, không trở lại thăm trần./ Ngày nay lưu luyến lời châu ngọc/ Ta nhớ, tìm ai dưới nắng trăng…” ( Hồ Xuân Hương - Sông Thương xuất bản năm 1941 tại Hà Nội ). Những vần thơ thực đấy, mà ảo đấy, nói giúp nỗi lòng nữ sĩ hay sự tự vấn đầy sự khiêm cung của Thi sĩ Họ Bàng.

Dọc chặng đường trong cuộc thiên di từ Bắc vào Nam, khi nước nhà bị cắt chia trong cơn binh lửa - Thi sĩ tài hoa đã đặt bàn chân mình tới hầu khắp các tỉnh thành Miền Nam. Nơi nào cũng hiện diện trong thơ Ông với những cung bậc tình cảm rất khác biệt: Khi nồng nàn, say đắm; khi bi cảm xót thương. Những câu chữ như mạch nguồn cứ cuồn cuộn tuôn trào, tựa tấm lòng Ông dành cho đại chúng.

 Tôi ấn tượng về những câu chữ lung linh trên bìa 4 của Thi tuyển: “ Muốn hiểu những âm hưởng của đồng quê Việt Nam thì không có gì hơn là đọc thơ Bàng Bá Lân, thi ca của luỹ tre xanh, của đồng lúa vàng, của xã hội làng xóm, của thành trì dân tộc… Trong cuộc chiến đấu cho tình người, trong cuộc đấu tranh nối tiếp truyền thống của dân tộc, Bàng Bá Lân đã cất tiếng ngâm những vần thơ đượm tình đất nước, thắm ý quê hương và rạo rực nhân tính…” (Hồ Nam - Dân chủ số 756 ngày 13-10-1956). Ai đọc hết Thi tuyển này, chắc chắn cũng sẽ đồng thuận.  

Ăm ắp những hoài niệm về Bắc Giang - nơi Thi sĩ cất tiếng khóc chào đời, nơi ghi dấu những tháng ngày ấu thơ ngọt ngào bên gia đình yêu dấu. Bắc Giang nơi có con sông Thương dịu dàng ôm ấp một miền quê với những rung động đầu đời của chàng Thi sĩ tài hoa. Bắc Giang, đẹp đến trong ngần: Hình ảnh những chiếc cổng làng xưa cũ đầy kỷ niệm “ Ngõ tre lối cũ ta về/ Thăm cô yếm lụa hái chè trên nương/ Người đi, cây nhớ hoen vàng/ Đàn trâu gặm nắng bên đàng quạnh hiu” ( Đổi thay, 1942 ). Dưới rợp bóng đa làng có cô hàng xén răng đen, trong giấc mơ dội về tiếng ếch uôm uôm, những mùa gặt dưới ánh trăng ngời và ổ rơm vàng thơm mùi no ấm “ Hôm nay rơm mới đầy nhà/ Em làm một chiếc giường ngà cho anh…/ Đêm nay không nhớ thị thành/ Bao nhiêu mơ ước tan tành như không/ Ướp mình trong nõn rơm bông/ Tỉnh mơ, còn ngát hương đồng trên da” ( Ổ rơm, 1943. Còn đâu đó những cô hái dâu, những gái quê Kinh Bắc, những “…người khăn nhiễu hôm qua/ Thẩn thơ đầu ngõ nhìn ra cánh đồng…” ( Nhớ, 1942). Còn đâu đó văng vẳng  tiếng chùa ngân nga khi hoàng hôn buông xuống, nức nở những cung bổng, cung trầm của tiếng đàn bầu vắt qua những triền đê.

Tất cả, tất cả những câu thơ của Mơ về Hà Nội, Ngùi trông về Bắc… khắc khoải khôn nguôi trong tâm hồn người xa xứ: “… Bao giờ nối lại giang san…” (Tiếng võng đưa, 6-1957). Thi sĩ Bàng Bá Lân đã được chứng kiến giang sơn liền một dải. Ông đã sống đến tận cùng khổ đau và vui sướng, đã yêu đến cháy lòng và để lại những áng thơ bất hủ cho hậu thế. Ông đã thảnh thơi du ngoạn miền mây trắng, bầu bạn với gió trăng; nhưng tôi tin với tình yêu quê hương, đất nước, con người nồng nàn và nhân hậu; để những ban mai hồng, những hoàng hôn tím và những đêm trăng ngọc ngà - Ông vẫn về dệt mộng ở Sông Thương.

 

                                                                                 N.T.N.H

Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 13
Trong ngày: 273
Trong tuần: 1287
Lượt truy cập: 46790
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.