THƯ GIÃN
Điện thoại: 0913269931 - 0964131807 - Email: vanphutho25@gmail.com
banem.tinh
Chào mừng bạn đã đến trang Điện tử "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" - Diễn đàn Văn học - Nghệ thuật của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ!

CẦU THANG KHÔNG CÓ CHÍN BẬC

Nông Thị Ngọc Hoà

 nongngochoa

THƯƠNG “CẦU THANG KHÔNG CÓ CHÍN BẬC”
           
   Có thể bạn từng nghe bài hát Chín bậc tình yêu của Nhạc sĩ An Thuyên, những ca từ đẹp nao lòng và giai điệu ngọt ngào mê đắm cứ vấn vít trong không gian và đi cùng năm tháng. Số 9 là số đặc biệt - số lớn nhất trong dãy số tự nhiên. Người ta thường nhắc đến số 9 như nhắc tới biểu tượng của sự viên mãn, bền vững, hoàn chỉnh và trường tồn.
   Mới đây, tôi được Nhà văn Phan Mai Hương - Người con gái của dân tộc Mường Hoà Bình tặng tập truyện ngắn Cầu thang không có chín bậc - Nhà Xuất bản Hội Nhà văn, năm 2023. Tên Tập truyện tạo cho tôi cảm giác bất ngờ.
Một chị bạn của tôi là Nhà thơ cũng thốt lên: “Cầu thang lạ quá”!
   Vâng! Trong cuộc sống muôn màu, có những điều khác lạ như vậy đấy!
   Theo quan niệm dân gian mang yếu tố tâm linh, thường dùng các số đếm lẻ (dương), đối lập với các số chẵn (âm). Với các số dương 1, 3, 5, 7, 9 , thì  số 1 là khởi đầu của dãy số đếm, tiên phong, duy nhất mang vai trò thủ lĩnh… Số 3 tượng trưng cho sự vững chắc, tài lộc, ví dụ trong dân gian có Tam Đa: Phúc, Lộc, Thọ; trong Phật giáo có Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng… Số 5 là sự cân bằng và may mắn: Ngũ Thường: Nhân, Lễ, Nghĩa,Trí, Tín  là 5 đức tính cốt lõi trong Nho giáo, là chuẩn chuẩn mực đạo đức căn bản để hình thành nhân cách con người và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Ngũ Phúc chỉ 5 điều may mắn, tốt lành mà con người mong muốn. Ngũ phương là thể hiện 4 phương Đông Tây, Nam, Bắc và Phưong Giữa; Ngũ Hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ… Số 7 là biểu tượng của sự linh thiêng, may mắn, sáng tạo, trí tuệ, sự hoàn thiện: Thái tử Tất Đạt Đa - Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đã đi 7 bước, mỗi bước nở ra một đoá hoa sen, biểu thị cho sự giáng thế để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi luân hồi, khổ đau…
  Đồng bào các đân tộc thiểu số làm nhà có cầu thang với số bậc lẻ, dành cho người sống; thường thì cầu thang có 9 bậc, mong muốn sự may mắn, quyền uy và sự hoàn hảo. Nó thể hiện sự kính trọng với Đấng Thiêng liêng: Trời có 9 tầng trời, Cửu huyền - Tổ Tiên có 9 đời được tôn thờ. Số 9 cũng đánh dấu những dấu mốc quan trọng của đời người.
  Tập truyện ngắn “Cầu thang không có chín bậc” của Nhà văn Phan Mai Hương là ngoại lệ hay phản ánh những luật tục khắc nghiệt muôn đời đã ràng buộc con người theo cách vận hành riêng của nó?
   Với 11 truyện ngắn trong tập, mỗi truyện 1 số phận, đều có lý lịch rõ ràng, mỗi truyện đều khiến tôi tiếp cận cẩn trọng, mỗi truyện đều mang đến cho tôi những yếu tố bất ngờ; sự không bình thường của từng câu chữ, từng chi tiết. Các tác phẩm xoay quanh trục chính là con người, tình mẫu tử, tình cảm gia đình, những điều nhân nghĩa; cách hành xử của con người với con người, giữa con người với thiên nhiên; có yêu thương, có đớn đau, thậm chí đã phải trả giá một cách nghiệt ngã, thậm chí bằng tính mạng không của chỉ một người: Rừng gửi món nợ, Đường chợ gánh gồng, Rừng ma, với câu tục ngữ làm chủ đạo “ Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Những phận người cơ cực, vượt qua “giông tố” cuộc đời để tồn tại: Hương của một đời, Người quên, Nhà có cây rau đắng, Chuyến xe cuối ngày, Buộc ngựa vào gốc cây - Nhà văn đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc: “ Tôi chợt hiểu, hãy sống bình thường thôi cũng tạo ra một giá trị có ý nghĩa biết bao và hãy biết trân quý tình cảm của nhau khi ta còn ở lại trên đời này”. Các tác phẩm đã “khai thác” về số phận con người, đặc biệt là thân phận người phụ nữ và đặc biệt hơn nữa là thân phận của những người phụ nữ dân tộc thiểu số ở vùng cao.
   Mặc dù không nhắc một cách trực tiếp, không rao giảng, không ồn ào nhưng trong tập truyện, sự tất yếu của Quy luật Nhân - Quả cứ hiển lộ rất rõ ràng, nó sẽ đến khi đủ Duyên ( điều kiện ), cho dù con người có muốn hay không muốn; Nhân lành thì có quả thiện, nhân ác thì có quả xấu. Nhiều truyện trong tập như dẫn dụ độc giả trôi theo nhà văn giữa đôi bờ hư thực, phảng phất “màn sương” liêu trai, mang yếu tố tâm linh đan cài tinh tế: Hồ sương, Cầu thang không có chín bậc. Ở đó, có những người bình thường như bao người khác nhưng được lựa chọn - họ được giao trọng trách, mang sứ mệnh đặc biệt trong cộng đồng.
   Khi được tặng các tập thơ, truyện ngắn, tản văn… tôi thường có ấn tượng  với những tác phẩm được chọn làm tên tập. Đó là tâm huyết, là nội dung chủ đạo mà tác giả muốn chuyển tải. Thật vậy, với tập truyện ngắn này, tôi cũng thật sự quan tâm tới “ Cầu thang không có chín bậc”. Tác phẩm phản ánh cuộc sống bình thường, bất thường của những con người dị thường, dị biệt. Trong cuộc sống của một cộng đồng nhỏ bé có những luật tục khác thường tồn tại nhiều đời, nhiều kiếp, bất biến một cách mặc nhiên. Ở đó sự phân biệt, phân hoá giàu nghèo, phân hoá giai cấp rạch ròi buộc con người chấp nhận vô điều kiện, trong vòng luân hồi: Sinh - Lão - Bệnh - Tử theo cách riêng của nó. “ Với người Mường, cầu thang chính là xương sống của ngôi nhà. Có xương sống mới làm nên dáng hình, mới thổi được linh hồn vào ngôi nhà. Luật nhà Lang mấy trăm năm đặt ra quy tắc: cầu thang chín bậc là nhà Lang, nhà thầy cúng cai quản vía của dân trong Mường; cầu thang bảy bậc  là nhà Ậu Cun; cầu thang năm bậc dành cho dân thường; còn thân phận mẹ goá con côi chỉ được làm nhà có cầu thang ba bậc”. Câu hỏi về “cầu thang lạ” đã được trả lời.
   Ngôi nhà sàn nhỏ bé với cầu thang ba bậc của một gia đình; nó ghép nối các thành viên lại với nhau một cách lỏng lẻo: Bà Mon là người đứa con gái yêu gái quý của Ậu Cun, nàng đẹp như bông hoa Poong trlăng giữa núi rừng, Nàng mang một cái tên giản dị là Mến, nàng cũng có một tuổi thơ tươi đẹp no ăn đủ mặc, tâm hồn thanh khiết như suối nguồn. Nàng là bạn thân duy nhất của con gái Quan Lang hơn Mến vài tuổi. Tình bạn đẹp của hai thiếu nữ vào tuổi dậy thì, như hai đoá hoa Poong trlăng hàm tiếu.
  Những tưởng tiếng suối đàn, vượn hót, chim kêu sẽ mãi yên ả như ngàn đời vốn vậy ở Xứ Mường. Không ngờ “giông bão” nổi lên, khi con gái vàng gái bạc của nhà Lang treo cổ tự tử, dẫu sắp đến ngày mặc áo xinh, váy đẹp về nhà chồng. Mến đau đớn đến tột cùng, ngất đi khi mất bạn. Trong mê man, Mến thấy mình cùng bạn tung tăng lượn bay trên những cánh hoa, vượt qua những ngọn núi, giỡn đùa trên những đám mây. Mến cũng nghe tiếng khóc gào của bố máng cứ khẩn thiết gọi về. Bố máng mời thầy Mo Vưng nổi tiếng cao tay nhất trong bốn Mường gọi hồn vía về cho Mến. Năm ấy Mến 11 tuổi.
   Xứ Mường Hoà Bình từ xa xưa đã gắn liền với câu : “Nhất Bi, Nhì Vang, Tam Thàng, Tứ  Động, trong đó Bi là Tân Lạc, Vang là Lạc Sơn, Thàng là Cao Phong, Động là Kim Bôi ngày nay - đó là bốn vùng Mường lớn của tỉnh, với bốn dòng họ lớn Đinh, Quách, Bạch, Hà.
  Thầy Mo Vưng hẳn là người cao tay nhất nên mới được đón về, sau khi thầy đã hoàn tất lễ nghi cho con gái quan Lang. Thầy đã gọi hồn vía Mến lang thang ở Mường Ma biết lối về nhà bố máng.
    Mến đã bất tỉnh nhiều ngày, khi mở mắt ra  “Khuôn mặt đẹp trai trắng trẻo sáng ngời của thầy Mo làm Mến thấy chói loá như gặp mặt trời, Mến phải nhắm mắt lại. Lúc ấy Mến vẫn chưa biết thầy mo Vưng đã có vợ và một con trai, Mến càng không biết mình đã bị gương mặt ấy, ánh mắt ấy hút hồn khiến cái chân Mến sau này chỉ biết làm mỗi một việc là đi theo người đàn ông ấy một cách tự nguyện và nhẫn nhục, phục tùng và ngoan ngoãn như con cá nằm sẵn trong rọ”.
   Những rung động đầu đời của cô bé mới lớn, với sự ngưỡng mộ người “cai quản vía của dân trong Mường”. Nó choáng ngợp chiếm trọn phần hồn muốn bung toả, khát khao khám phá, nó xâm chiếm phần thân thể trinh trắng, thánh thiện đến tự nguyện tận hiến. Sự từng trải của người đàn ông trẻ nắm ưu thế về dung mạo và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng một cách vượt trội, mang một lực hút không cưỡng nổi. Mến cũng chỉ là một người con gái - người đàn bà trẻ con.
   Sự trớ trêu của số phận đã không cho phép Mến đến được với Mo Vưng, nhưng “giọt máu” của Thầy đã được một người trai nghèo đem về cưu mang trong ngôi nhà sàn ba bậc, trong lần người ấy cứu được Mến cùng đứa con trong bụng, khi nàng bị nạn lúc đi rừng, lúc ấy nàng bắt đầu trở dạ - Nàng gá nghĩa cùng người đàn ông cứu mạng. Người đàn ông ấy từng là đứa trẻ lang thang được người đàn bà Ma Gà đem về nuôi từ tấm bé.
   Đứa con gái Mến sinh ra, là cốt nhục của Thầy Mo Vưng được đặt tên là Mon. Từ đó Mến và người chồng ân nghĩa mang tên con gái. Rồi bà Mon sinh thêm con Điệp. Ông Mon rất yêu vợ, nhưng bất lực hoàn toàn những khi muốn thể hiện sức mạnh của giới tính. “ Đêm tối thường che chắn đi cái cắn môi chịu đựng đến bật máu, đồng loã với cáu kỉnh xót xa uất ức cho cuộc đời. Đêm tối làm bức màn phủ kín khoảnh khắc dài lê thê, vừa ê chề, vừa xót thân mình, vừa thương cho người khác. Trời ơi, sao cứ phải cố gắng nhiều đến thế như thể con bò hì hục cày vỡ mảnh nương có nhiều hòn đá tảng. Bà căm thù người đàn ông này khi cứ vô tư hì hục mãi trên bụng, vần vò trong vô vọng. Bà thương xót người đàn ông này khi mà cứ cố làm cái việc của con đực một cách bất lực. Bà ghê tởm người đàn ông này khi nghĩ rằng ông ấy đã vấy lên nỗi đau nhục dục của bà một cách tuyệt vọng. Khi đang ở bên dưới, nằm thẳng đơ cứng đờ người như hình nộm thì vía của bà lang thang ra con suối”.
  Mười bốn năm ông bà Mon ở với nhau, có những điều ai cũng hiểu mà không ai nỡ nói. “Mười bốn năm ròng, bà Mon cứ bấu víu vào ý nghĩ ấy mà sống cho qua những khoảnh khắc dài lê thê của đêm, đợi con gà gáy sang canh”. Trong tâm trí bà chỉ nghĩ đến một người: “ những đêm quá ngắn ngủi khi bà Mon đầy ắp đắm say với người đàn ông của mình. Khi ấy sức mạnh của cánh rừng nguyên sinh tràn đầy gió lùng sục, tung hoành khắp chốn núi xa non thẳm, cuốn hương thơm cay sực nồng nàn của cây quế mang về quấn cuộn riết róng  trong từng phiến lá xanh xanh. Từng cánh hoa Poong trlăng cuộn vào rồi mở ra nhịp nhàng đều đặn gấp gáp miết mải. Như con ong luồn sâu đến tận cùng cho nhuỵ hoa mở bung hết mọi nỗi niềm e ấp, cuốn xoắn vào nhau để tung toả những đam mê nóng bỏng, tràn trề ràn rụa ra cánh hoa là những giọt mật ngọt ngào”.
   Nhà văn viết về nude, về sex trong truyện nhưng không hề gợi dục, không dung tục; nó khiến người ta thương cảm nhiều hơn là trách mắng. Nó khiến Mến - Bà Mon được cảm thông. Qua tác phẩm, ta thấy thân phận người phụ nữ vùng cao thật nhỏ bé trong chính không gian bao la của nơi họ sinh ra, lớn lên, yêu thương, căm hận cho đến khi về với Tổ Tiên. Người phụ nữ Mường viết về những người phụ nữ của tộc người mình chân thật trong hư cấu, tính văn học cũng thật nhiều như hiện thực. Cách chuyển tải của Nhà văn thật dũng cảm và cao tay!  
   Hai người đàn ông đã cho Mến được sinh ra lần nữa. Cả hai người Mến đều mang ơn, theo hai cách và hai trạng huống khác nhau. Với hai người đàn ông, một người cho Mến niềm đam mê bất tận, sự ham muốn tột cùng đã được lột tả thật đẹp; đối nghịch với người đàn ông khiến Mến đau đớn, tủi hận và căm phẫn. Cái đúng, sai trong Mến không được rạch ròi phân định, chỉ biết rằng sự đau khổ không chỉ của một người. Thường khi sự thấp hèn và cao sang chỉ cách nhau một ranh giới vô hình, chỉ Bà Mon là người duy nhất hiểu. Bà biết mình và con Mon nợ ông Mon bằng cả cuộc đời hai mẹ con cộng lại. Sự hối lỗi ư? Sự tái sinh diệu kỳ hay sự cân bằng mà Mến tự thiết lập cho mình?
   Chẳng biết bùa ngải của Thầy Mo Vưng hay niềm khát khao bản năng  mang giống Cái, khiến Mến lạc mãi ở bến lú, bờ mê nơi xứ Mường Người. “Mười bốn năm, vía của bà Mon để hẳn ở Đồi Cây Thông. Đó là ngôi nhà sàn của thầy Mo Vưng. Trong mười bốn năm, bà Mon thuộc từng lá cây ngọn cỏ trên quãng đường này, vì bà đã từng trèo chín bậc cầu thang hàng trăm lần”.
   Sự nghiệt ngã của số phận hay trò đùa của tạo hoá, Mến - bà Mon đi từ cầu thang bảy bậc nhà bố máng đến ba bậc cầu thang nhà chồng và cầu thang chín bậc nhà người. Người đàn ông trong căn nhà với ba bậc cầu thang có đủ bao dung hay chấp nhận vì thân phận nghèo, khi đã nói ra điều khó nói: “Con Mon thì biết rõ rồi, mà cũng không cần bà nói ra thì tôi mới biết con Điệp là con nhà Vưng, nhưng tôi quen coi cả hai đứa là con tôi rồi”.
  Chỉ từng ấy câu nói của ông Mon khiến “nút thắt” được mở một cách nhẹ nhàng. Thân phận người đàn ông này nghèo mà không hèn. Có điều gì đó lay động tâm can độc giả. Trên đời có mấy người mang tâm hồn lấp lánh như ông Mon. Sự chân tình này chẳng biết bà Mon có phút nào cảm nhận?
  Những câu văn dào dạt như suối nguồn, đưa ta từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, khi nó cứ đổi dòng chạy qua nhiều khúc quanh. Những phận người mong manh và bé nhỏ giữa thiên nhiên, giữa luật tục, giữa cộng đồng và chính trong ngôi nhà có cầu thang ba bậc. Sự cô độc trong tâm hồn là điều đáng sợ nhất - Cô đơn ngay giữa nhà mình.
   Bằng một cách nào đó, Nhà văn Phan Mai Hương đã dẫn bà Mon, cô bé Mến ngày nào lên cầu thang chín bậc. Dù ma xui, quỷ khiến hay con người tự bưng tai, bịt mắt mình suốt bấy nhiêu năm. Cái Mon và cái Điệp được hoài thai, sinh ra và lớn lên cứ hồn nhiên như cây cỏ; chúng biết đâu điều người lớn đã làm. Chẳng biết những đứa trẻ “kết tinh” bằng tình yêu hay tình dục; bằng vô tội hay vô số tội - Nhưng dù sao bọn trẻ cũng không có lỗi, chúng xứng đáng được sống trong ngôi nhà có chín bậc tình yêu.  

screenshot_898                                        
 
HÃY YÊU THƯƠNG NHƯ CHẲNG CÓ NGÀY MAI
 
Ví như nếu một ngày mai tận thế
Xin nhân gian xả hết những âu lo
Lòng thanh thản bay lên như mây gió
Và oán cừu rơi xuống hóa tàn tro
 
Tặng nhau những nụ cười tươi đẹp nhất
Hoa khoe màu, hương  tỏa ngát hân hoan
Hãy yêu thương như chẳng còn có thể
Giữa cuộc đời thường nhật, lắm lo toan
 
Chia sẻ hết niềm vui và hạnh phúc
Gánh riêng mình giông bão với phong ba
Khi cho đi cũng chính  là nhận lại
Hạnh phúc này đâu chỉ của riêng ta
 
Pháp giới sẽ dạt dào tình thân ái
Có chim ca ríu rít ở quanh đời
Nguồn Sinh khí bao trùm toàn vũ trụ
Và Loài Người nước mắt sẽ ngừng rơi.
 
                                  N.T.N.H
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
Quảng cáo
thietkewebuytin01azsolutionsweb24banner12
Thống kê truy cập
Đang truy cập: 17
Trong ngày: 523
Trong tuần: 1410
Lượt truy cập: 101179
VĂN NGHỆ NGHĨA LĨNH
- Chủ nhiệm: Nhà văn CẦM SƠN - 0913 269 931
- Ban Biên tập: Nhà thơ BÙI VIỆT PHƯƠNG - 0932 209 388  
- Nhà thơ VŨ THỊ THANH THỦY - 0983 445 941
- Email: vanphutho25@gmail.com
BẢN QUYỀN THUỘC CHI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ
- Chịu trách nhiệm Xuất bản: Nhà thơ LÊ VA - Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ.
- Chịu trách nhiệm nội dung: Nhà văn CẦM SƠN - Chủ nhiệm Website Văn nghệ Nghĩa Lĩnh.
- Quyết định thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ của Hội Nhà văn Việt Nam số 132/QĐ-HNV Ngày 24 tháng 9 năm 2025.
- Quyết định tạo lập Website "Văn nghệ Nghĩa Lĩnh" của Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ số 01/QĐ-CH ngày 11 tháng 10 năm 2025.