Vũ Thị Thanh Minh
BAY CÙNG CÁNH HẠC
(Đọc tập thơ “Hạc trắng bay về” - Nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung)
Nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung nguyên Phó Giám đốc Sở Xây dựng, nguyên Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Vĩnh Phúc. Ông tham gia các Hội VHNT từ Trung ương đến địa phương đồng thời cùng các Hội chuyên ngành nghề nghiệp: Hội viên Hội Kiến trúc sư Việt Nam, hội viên Hội Xây dựng Việt Nam… Ông không chỉ viết thơ, trường ca mà còn sáng tác nhiều bút ký, tản văn… Ở lĩnh vực nào, tác giả cũng đạt được những thành tựu đáng kể. Nguyễn Ngọc Tung là kiến trúc sư, công tác ở ngành xây dựng, ít liên quan đến Văn học Nghệ thuật, nhưng kỳ diệu thay ở hai phạm trù khoa học kỹ thuật và Văn học Nghệ thuật, ông đều thành danh, được bè bạn, đồng chí, đồng nghiệp, độc giả… biết đến. Trong sự nghiệp văn chương của mình đến nay nhà thơ đã sáng tác được 21 đầu sách (16 tập thơ, 02 tập bút ký, 03 trường ca). Bút lực thật dồi dào, khỏe mạnh, đáng nể…
Tôi đọc tập thơ “Hạc trắng bay về” (NXB Hội Nhà văn tháng 12/2025) của ông trong dịp thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam tỉnh Phú Thọ (sáp nhập 03 tỉnh: Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Phú Thọ). Tiêu đề của tập thơ đã làm tôi chú ý, nó gợi nhớ về miền cố đô Văn Lang xưa của nước Việt và sư bay bổng vươn lên của tỉnh Phú Thọ ngày nay. Tập thơ thể hiện niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của Phú Thọ nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung trong kỷ nguyên mới vươn mình, phồn vinh, thịnh vượng.
Xuyên suốt tập thơ là những đề tài, chủ đề truyền thống muôn thuở, được các thi nhân soi chiếu qua lăng kính vạn hoa của mình. Đó là hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong công cuộc dựng nước, giữ nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và hội nhập toàn cầu. Nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung vẫn viết về những chủ đề ấy, nhưng trong thơ ông, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam có địa chỉ cụ thể, gắn với cảm xúc riêng. Cảnh gắn bó thiêng liêng, sâu nặng với người, người sống, lao động, chiến đấu hy sinh để bảo vệ từng tấc đất, ngọn cở, bờ tre, ruộng lúa của đất nước, quê hương yêu dấu… Vì thế những tên đất, tên làng trong thơ ông bỗng trở nên gắn bó, có linh hồn, ám ảnh tâm trí của độc giả. Ông nhắc đến gốm Cánh là người Vĩnh Phúc nhớ đến địa danh trong câu thơ cổ:
“Ai về mua vại Hương Canh
Cho Mai lấy Trúc cho anh lấy nàng”
Hay các địa danh quen thuộc ngày nay vẫn lưu truyền ở Vĩnh Phúc:
“Em về ủ đất Lò Cang
Cho anh chuốt gốm mang sang nung cùng
Một mai nên vợ nên chồng
Ngàn năm sông Cánh vẫn không đổi dòng”
(Gốm Cánh hồn quê)
Ngoài ra, tác giả viết nhiều về các nghề thủ công nổi tiếng ở làng Thùng, chợ Thùng, chợ Vòng, làng Thùng Mạch… các thôn xã: Cựu Ấp, Làng Rau, Làng Mộc… Đặc biệt, ở Lập Thạch, Vĩnh Phúc còn có nghề làm bánh Ngói bằng đất. Tên chợ Vồ, chợ Nú, thành phố Ngã ba Sông - Việt Trì được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần. Tác giả không quên nhắc đến những cảnh đẹp nổi tiếng của đất nước Việt Nam đã đi vào tiềm thức của con người: chợ tình Sa Pa, động Ngườm Ngao, thác Bản Dốc - Cao Bằng, núi Cấm - Hà Giang, Đà Lạt… và các vùng Trung du, Biên giới, hải đảo Trường Sa…Tất cả các vùng đất đó hiện lên gần gũi, thân thương như quê hương, đất nước, như nơi cắt rốn chôn rau, như người ruột thịt yêu nhau…
“Tổ quốc ở Trường Sa
Cờ rợp biển, rợp đảo
Tiếng gà gáy rộn vang mỗi sớm
Mỗi mái nhà khói bếp lên xanh
Một tiếng chuông chùa cũng làm ta xao xuyến
Một tiếng trẻ học bài đánh thức cả bình minh”
(Tổ quốc ở Trường Sa)
“Trăng khuya vằng vặc đầu non
Nghe men gốm Cánh tạc hồn quê hương”
(Gốm Cánh hồn quê)
“Áo nâu, chân đất, người quê
Nhớ ai như nhớ cháo kê chợ Vòng”
(Chợ Vòng)
“Công viên Văn Lang nơi anh gặp em
Làn trống quân bên câu ca Xoan Ghẹo”
(Ngày trở về)
“Tìm về một khúc ca dao
Nhớ phiên chợ Nú hôm nao hẹn hò”
(Tìm về một khúc ca dao)
Trên nền cảnh và người ấy, hình ảnh mẹ hiện lên mang hình dáng, tính cách truyền thống của những người mẹ Việt Nam: cần cù, chăm chỉ, chịu thương chịu khó, khiêm nhường, thầm lặng, giàu đức hy sinh… dũng cảm, kiên cường tham gia cách mạng bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Mẹ để lại niềm tự hào thương nhớ, biết ơn vô bờ bến cho con cháu:
“Ngày mẹ mất, áo mới còn đây
Chẳng mang gì cho mình về cõi
Mẹ để lại tình thương vời vợi
Nhẹ nhàng mây trắng bay đi”
(Mẹ tôi)
“Cành trăng lá động hồn lay
Như là mẹ hái miếng cay ngoài vườn
Lòng con cầm trĩu nỗi buồn
Rưng rưng thắp nén hương thơm mẹ về”
(Vu lan nhớ mẹ)
Những câu thơ viết về mẹ ấn tượng, tràn đầy cảm xúc. Hồn cốt, tâm tư, hình dáng mẹ hòa quyện vào nhau, sống động, chân thực. Chỉ có những áng thơ rút ruột của những người con viết về mẹ mới diễn tả hết được sự kỳ diệu ấy:
“Tháng Bảy mây chín rộm chân trời
Cánh đồng tãi nắng vàng phơi
Lúa bời bời thơm nồng ngọn gió
Mẹ gặt về chín trắng mồ hôi…
Mẹ ru con trăng mòn cánh võng
Trán hằn sâu đường cày mưa nắng
Mắt mẹ quầng đong nỗi xa xăm”
(Tháng Bảy)
Phần lớn những bài thơ trong tập “Hạc trắng bay về” được viết theo phương pháp tự sự tái hiện và đồng hiện, phô bày cảm xúc của tác giả trước cảnh và người. Chứa đựng trong từng con chữ là triết lý sống tích cực, lan tỏa đến cộng đồng: lòng biết ơn Tổ quốc, nhân dân, cha mẹ, các anh hùng liệt sỹ đã chiến đấu hy sinh vì nước, vì dân để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc… Mỗi cá nhân cần có ý thức xây dựng quê hương, đất nước mình ngày càng giàu mạnh, phồn vinh. Ngoài ra, tập thơ còn có những bài mang ý nghĩa triết lý sâu sắc. Tiêu biểu như bài thơ “Cắt tóc” (in trên Báo Văn nghệ số 96 ngày 15/11/2025):
“Soi sau, soi trước
Thời gian qua nhanh
Tóc đã màu sương gió
Cắt đi là sửa lại mình”
Câu thơ giản dị, lời ít ý nhiều, tác giả không chỉ nói chuyện cắt tóc mà còn là suy ngẫm, chiêm nghiệm từ chính cuộc đời mình: Con người không chỉ chú ý đến vẻ đẹp hình dáng mà còn phải chăm chút, sửa sang cái đẹp nhân cách; phải dũng cảm, quyết liệt loại bỏ những cái thừa, cái xấu xa, bẩn thỉu… Đời người ngắn ngủi, thoáng nhanh như chớp mắt, nếu chần chừ, đắn đo biết đâu ta đã trở thành người khác, ta chẳng còn là ta nữa, hối cũng chẳng kịp.
“Dời khỏi ghế
Gương quên mặt người
Chủ chẳng nhớ khách
Thoáng trên đầu làn mây nhẹ trôi”
Những câu thơ đã tỉnh thức biết bao người…
Đọc Nguyễn Ngọc Trung, tình yêu nghề, yêu thơ hòa quyện máu thịt. Từ khi còn là chàng sinh viên trường Đại học Xây dựng, ông đã sáng tác thơ gắn bó với nàng thơ và đạt được giải thưởng trong những cuộc thi thơ… Khi trở thành kiến trúc sư, Phó Giám đốc Sở Xây dựng, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc đến ngày nay ông đã giành được những giải thưởng cao quý từ Trung ương đến địa phương về Văn học Nghệ thuật. Đọc thơ ông, tôi đã phần nào hiểu được người thợ có đôi bàn tay “thép”, tay “vàng” để nâng tầm cao đất nước:
“Tay cầm bay viết thơ vào nắng gió
Nghe gạch đá phập phồng hơi thở
Mỗi công trình một bản tình ca
Anh nối tầng trời nâng tầm cao đất nước”
(Tổ quốc và mùa xuân)
Đồng thời người thơ có đôi bàn tay “lụa”, tay “hoa” viết nên những vần thơ vừa hiện thực trần trụi, vừa bay bổng, lãng mạn: “Câu thơ mặn nước mắt, mồ hôi” (Tổ quốc và mùa xuân).
“Nửa đời trả vẫn chưa xong
Tôi nợ cánh đồng đau đáu niềm thơ”
(Cánh đồng thơ)
Đôi bàn tay khi là “thép”, là “vàng”, khi là “lụa”, là “hoa” đã tạo nên một kiến trúc sư mạnh mẽ, đanh thép, chính xác, quyết đoán… trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và một nhà thơ lãng mạn, bay bổng, sáng tạo, cần cù, gieo hạt chữ cho tương lai xanh trên cánh đồng thơ mơ ước.
Trong tập thơ “Hạc trắng bay về” không phải bài nào cũng hoàn thiện, hoàn mỹ, còn có một số ý tứ, hình ảnh cũ quen thuộc với độc giả, một số câu sáo mòn… Tuy vậy, tập thơ ra đời vào thời điểm sáp nhập 03 tỉnh: Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ thành tỉnh Phú Thọ mới, tập thơ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tác giả đã khẳng định vị thế người chiến sỹ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, tuyên truyền cho chủ trương, đường lối “sắp xếp lại giang sơn là bước đi lịch sử” của Đảng và Nhà nước ta trong năm 2025, tinh gọn bộ máy lãnh đạo, xây dựng đất nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, sánh vai với các cường quốc, năm châu như Bác Hồ hằng mong… Tình yêu quê hương, đất nước và gia đình, niềm lạc quan tin tưởng sáng trong, thuần khiết của nhà thơ trào dâng như sóng vỗ bờ lan truyền sang độc giả… và ông còn là người đã “gọi” Hạc trắng bay về, nâng cánh hạc bay cao, bay xa, tỏa sáng một vùng trời Đất Tổ.
V.T.T.M